Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Chủ tịch Hồ Chí Minh – nhân dân ta đã tôn kính gọi Cụ Hồ, Bác Hồ – trong tập sách Chính phủ Việt Nam 1945-1998 (NXB Chính trị Quốc gia – 1999) do Thông tấn xã, Văn phòng Chính phủ biên soạn cho biết đôi nét về tiểu sử như sau: “Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19/5/1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh (tên lúc nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, tên khi đi học là Nguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng trước đây lấy tên là Nguyễn Ái Quốc), sinh ngày 19/5/1890 ở làng Kim Liên, xã Nam Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An và mất ngày 2/9/1969 tại Hà Nội. Người sinh ra trong một gia đình: Bố là một nhà nho yêu nước, nguồn gốc nông dân; mẹ là nông dân; chị và anh đều tham gia chống Pháp và bị tù đày.

Cuộc đời

Ngày 3/6/1911, Người ra nước ngoài, làm nhiều nghề, tham gia cuộc vận động cách mạng của nhân dân nhiều nước, đồng thời không ngừng đấu tranh cho độc lập, tự do của dân tộc mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và tìm thấy ở chủ nghĩa Mác – Lênin con đường giải phóng của giai cấp công nhân và nhân dân các nước thuộc địa. Năm 1920, Người tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp tại Đại hội Tua. Năm 1921, người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa Pháp; xuất bản tờ báo Người cùng khổ ở Pháp (1922). Năm 1923, Người được bầu vào Ban Chấp hành Quốc tế Nông dân. Năm 1924, Người tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản và được chỉ định là Ủy viên thường trực Bộ Phương Đông, trực tiếp phụ trách Cục Phương Nam. Năm 1925, Người tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức châu Á, Xuất bản hai cuốn sách nổi tiếng: Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) và Đường cách mệnh (1927). Năm 1925, Người thành lập Việt Nam thanh niên Cách mạng đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) và tổ chức “Cộng sản đoàn” làm nòng cốt cho Hội đó, đào tạo cán bộ Cộng sản để lãnh đạo Hội và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin vào Việt Nam. Ngày 3/2/1930, Người chủ tọa Hội nghị thành lập Đảng họp tại Cửu Long (gần Hương Cảng). Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Điều lệ Đảng do chính Người soạn thảo. Người ra lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đổi là Đảng Cộng sản Đông Dương, rồi Đảng Lao động Việt Nam và nay là Đảng Cộng sản Việt Nam).

Từ năm 1930 đến 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục hoạt động cho sự nghiệp giải phóng của dân tộc Việt Nam của các dân tộc bị áp bức khác trong những điều kiện vô cùng gian khổ và khó khăn. Năm 1941, Người về nước, triệu tập Hội nghị lần thứ 8 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, quyết định đường lối cứu nước, thành lập Việt Nam độc lập đồng minh Hội (Việt Minh), tổ chức lực lượng vũ trang giải phóng, chính sách căn cứ địa, lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa từng phần và chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thắng lợi, ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tổ chức Tổng tuyển cử tự do trong cả nước, bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1946). Cùng với Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam phá tan âm mưu của đế quốc, giữ vững và củng cố chính quyền cách mạng. Ngày 19/12/1946, Người kêu gọi cả nước kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, bảo vệ độc lập, tự do của Tổ quốc, bảo vệ và phát triển những thành quả của Cách mạng Tháng Tám. Tại Đại hội lần thứ II của Đảng (1951), Người được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược đã giành được thắng lợi to lớn, kết thúc bằng chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (1954).

Sau khi miền Bắc được hoàn toàn giải phóng (1955) Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời đấu tranh giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước.

Đại hội lần thứ III của Đảng (1960) đã nhất trí bầu lại Chủ tịch Hồ Chí Minh làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Quốc hội khóa II, khóa III đã bầu Người làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Cùng với Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ; lãnh đạo sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác -Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, đề ra đường lối đúng đắn đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Người sáng lập ra Đảng Mácxít – Lêninnít ở Việt Nam, sáng lập ra Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, sáng lập ra các lực lượng vũ trang nhândân Việt Nam và sáng lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần tăng cường đoàn kết quốc tế. Người là tấm gương sáng của tinh thần tập thể, ý thức tổ chức và đạo đức cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, lãnh tụ kính yêu của giai cấp công nhân và của cả dân tộc Việt Nam, một chiến sĩ xuất sắc, một nhà hoạt động lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc”. Đến nay, toàn bộ trước tác của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được công bố trong Hồ Chí Minh toàn tập – được thực hiện theo Nghị quyết số 07/NQ-TW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (khóa IV). Với văn bản được xuất bản lần thứ 2 vào năm 2002 của NXB Chính trị Quốc gia – theo Quyết định của Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam số 93-QĐ/TW ký ngày 22/12/1994 – ta biết bộ sách này in khổ 32×45, dày 1.576 trang.

Cùng lúc “được sự đồng ý của Thường vụ Bộ Chính trị và sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng” NXB Chính trị Quốc gia cũng đã xuất bản sách điện tử CD ROM có dung lượng khoảng 600 MB, trong đó chứa đựng toàn bộ nội dung Hồ Chí Minh toàn tập, khoảng 30 phút video, 220 phút âm thanh ghi lại giọng nói Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều bản nhạc, bài hát có giá trị và 565 bức ảnh tư liệu quý… Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh cũng đã thực hiện bộ sách đồ sộ, công phu Hồ Chí Minh biên niên tiểu sử nhằm ghi lại từng ngày trong cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đến nay, Chủ tịch Hồ Chí Minh là danh nhân duy nhất trong lịch nước ta sau khi mất được giữ nguyên thi hài và đặt trong xây lăng. Trong tập sách Giữ yên giấc ngủ của Người (NXB Quân đội Nhân dân – 1990) cho biết: “Tháng 5 năm 1967, sau lễ mừng thọ nhân ngày sinh thứ 77 của Bác, Bộ Chính trị đã triệu tập một cuộc họp bất thường để bàn việc bảo vệ sức khoẻ của Người và chuẩn bị giữ gìn thi hài Bác lâu dài sau khi Người qua đời. Cuộc họp do đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng chủ trì. Hội nghị đã xác định: vấn đề quan trọng đặt ra lúc này phải đảm bảo hai yêu cầu:

  1. Phải tuyệt đối giữ bí mật, nếu không nhân dân sẽ hoang mang lo lắng và Bác sẽ phê bình Bộ Chính trị, không cho phép triển khai thực hiện chủ trương này.
  2. Phải chọn một số cán bộ y tế giỏi gửi sang Liên Xô học tập về khoa học giữ gìn thi hài. Nhân sự cụ thể giao cho Ban Tổ chức Trung ương lựa chọn.

Hội nghị cũng nhất trí giao nhiệm vụ đặc biệt này cho Quân uỷ Trung ương vì quân đội sẵn có truyền thống nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ. Mặt khác, Bộ Chính trị cũng chỉ định đồng chí Nguyễn Lương Bằng thay mặt cho Trung ương Đảng trực tiếp theo dõi và chăm sóc sức khoẻ của Bác. Vốn là một người sống giản dị, Bác luôn luôn lo lắng đến vận mệnh của dân tộc, của đất nước. Bác thường kêu gọi toàn Đảng, toàn dân ta thực hành tiết kiệm. Bởi vậy, quyết định trên của Bộ Chính trị là hoàn toàn trái với ý nguyện của Bác. Sau khi qua đời, Bác chỉ có một nguyện vọng: Hoả táng thi hài Bác, lấy tro đựng vào ba chiếc bình, đặt trên ba ngọn đồi thấp ở ba miền Bắc, Trung, Nam để đồng bào cả nước có thể đến với Bác và để Bác mãi mãi được gần gũi với dân, với nước. Bác còn dặn thêm rằng, trên mỗi ngọn đồi phải được trông thật nhiều cây có bóng mát và làm nhà để nhân dân có thể ngồi nghỉ mỗi khi lên viếng Bác.

Nhưng việc giữ gìn thi hài Bác cho đời đời con cháu mai sau được chiêm ngưỡng lại là nguyện vọng thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân ta. Đó sẽ là phần thưởng vô giá mà Đảng ta dành cho các thế hệ tương lai của đất nước Hiện nay, phía sau Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh là Bảo tàng Hồ Chí Minh cũng được xây dựng, mặt chính hướng ra đường Hùng Vương. Bảo tàng còn có những chi nhánh tại Thừa Thiên Huế, Quân khu V, Thuận Hải, Gia Lai – Kon Tum. Cùng với Bảo tàng Hồ Chí Minh ở Hà Nội, các di tích về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong cả nước và một số chi nhánh tạo thành một hệ thống thống nhất, phục vụ đồng bào khắp mọi miền Tổ quốc.

Các di tích sau đây thuộc sự chỉ đạo của Bảo tàng Hồ Chí Minh: Khu di tích Kim Liên – Nam Đàn – Nghệ Tĩnh; Khu di tích Dục Thanh – Phan Thiết – Thuận Hải; Khu lưu niệm Nhà Rồng – Thành phố Hồ Chí Minh; Khu di tích Pác Bó – Hà Quảng – Cao Bằng; Di tích 48 Hàng Ngang – Hoàn Kiếm – Hà Nội; Di tích Vạn Phúc – Hà Đông; Di tích Phủ Chủ tịch – Ba Đình – Hà Nội; Khu lưu niệm Cụ Nguyễn Sinh Sắc – Cao Lãnh – Đồng Tháp.

Không những thế, các công văn, bài viết Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời trong nhiều hoàn cảnh lịch sử khác nhau cũng được các đoàn thể, hội đoàn, ban ngành… lựa chọn để lấy làm ngày truyền thống. Những nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm việc cũng được ghi nhận là những địa chí lịch sử – văn hóa… Có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại một dấu ấn vĩ đại trên nhiều lãnh vực đối với đất nước Việt Nam từ thế kỷ đầu thế kỷ XX đến nay và mai sau. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhà báo, nhà văn, nhà thơ có vị trí đặc biệt, rất quan trọng trong lịch sử văn học hiện đại Việt Nam. “Văn chương Hồ Chí Minh đã in sâu tinh thần thời đại chúng ta, là bài học vô tận cho những người làm văn nghệ” (Tố Hữu). Từ điển văn học bộ mới cho rằng: “Khó có thể đánh giá hết giá trị nhiều mặt của di sản văn học của Hồ Chí Minh.

Công việc sưu tầm, nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện di sản đó đang được tiếp tục tiến hành, ở trong nước và ngoài nước” (tr. 634). Lướt qua các tác phẩm của Cụ Hồ, các nhà nghiên cứu phê bình văn học của nước ta đã ghi nhận như thế nào? Với tác phẩm Truyện và ký – được dịch ra tiếng Việt, in năm 1974 – gồm những bài báo viết bằng tiếng Pháp sớm nhất in trên báo Nhân đạo (từ tháng 6/1922) đến bài báo muộn nhất in trên báo Người cùng khổ (vào tháng 10/1929) thì “Áng văn xuất sắc này của kho tàng văn học cách mạng đã từ lâu để lại trong công chúng ấn tượng sâu sắc về một trái tim sôi nổi căm thù, rực ý chí đấu tranh” và “Nghệ thuật viết thật già dặn như một ngòi bút phương Tây sắc sảo, rất điêu luyện (Phạm Huy Thông)… Với tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp, viết bằng tiếng Pháp, in năm 1925 tại Paris, cũng ký tên Nguyễn Ái Quốc “Chỉ trên 100 trang in khổ nhỏ nhưng đã đề cấp và giải quyết những vấn đề lớn của thời đại” (Nguyễn Khánh Toàn); “Về phương diện văn học là một hiện tượng văn học lớn” (Đỗ Đức Hiểu)…

Với tác phẩm Nhật ký chìm tàu viết khoảng năm 1930 -1931, nay đã thất truyền nhưng “quả có sức mạnh đặc biệt ăn sâu bén rễ trong lòng nhân dân, sức mạnh của chân lý và của những kiệt tác” (Ninh Viết Giao)… Với tập thơ Nhật ký trong tù viết trong khoảng thời gian 1942 – 1943, chỉ trên 100 bài thơ, được Viện Văn học dịch và xuất bản năm 1960 đã “Phản ánh một nhân cách cao đẹp, đồng thời cũng thể hiện một phong cách thơ độc đáo mà đa dạng, đạt tới sự hài hòa cao độ, vừa rất giản dị, hồn nhiên, vừa hàm súc, thâm trầm, giàu nội tâm; vừa có cốt cách cổ điển, tiếp cận có sáng tạo truyền thống thơ ca phương Đông, đặc biệt là thơ Đường, vừa mang tinh thần và sắc thái hiện đại; vừa có bút pháp hiện thực nghiêm ngặt vừa lãng mạn bay bổng; vừa sáng ngời chất thép, lại vừa thắm thiết tình người và chan chứa chất thơ” (Nguyễn Hoành Khung); “Tập Nhật ký trong tù, theo ý tôi là một pho tư liệu cô đọng dễ chuyển thành kịch điện ảnh hơn một tập tiểu thuyết. Đọc lại tác phẩm, “sống lại” không khí chính trị của thời kỳ, nhận định cho đúng đắn về tinh thần của người chiến sĩ vĩ đại qua tập thơ của Bác, sẽ có thể xây dựng một cuốn phim trong toàn bộ tập phim về sự nghiệp cách mạng của Bác. Thành công của công trình nghệ thuật này sẽ là tác phẩm có đủ ý nghĩa thẩm mỹ và giáo dục không những đối với nhân dân Việt Nam mà đối với công chúng khán giả quốc tế; không những trong thời kỳ trước mắt, mà ngay đối với tương lai lâu dài sau này nữa” (Đặng Thai Mai)… Ngay cả “Thơ chúc Tết của Bác cũng là một sáng tạo đặc biệt” và “Dưới ngòi bút của Bác, những câu thơ chúc Tết có một sức mạnh không thể lường được” (Vũ Đức Phúc). “Thơ trào phúng của Bác rất tự nhiên, đôi khi ta không ngờ đó là trào phúng, không phải vì nó mang chất “uy mua” kín đáo, mà còn vì nó không bỏ qua và không việc gì là nhỏ nhặt” (Lê Đình Kî); “Chúng ta ngày nay đọc lại thơ Bác, hiểu sâu sắc một tâm hồn thơ phong phú mà nhất quán, rất nghệ thuật mà không chịu dừng lại ở một lối diễn tả nghệ thuật nào. Nhà thơ cộng sản ấy thật là vĩ đại. Bác làm việc không mệt mỏi vì cách mạng, vì dân tộc, vì nhân dân, chúng ta còn phải làm việc không mệt mỏi để khám phá về Bác, về cuộc đời, về tư tưởng, và còn về thơ văn của Bác” (Hoàng Trung Thông) v.v…

Di sản

Thật khó có thể thống kê đến nay đã có đến bao nhiêu bài viết, tác phẩm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đã đánh giá, nghiên cứu, học tập từ tác phẩm, cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Từ nhiều tầng lớp nhân dân đến các Viện, Trung tâm, Đoàn thể, Hội đoàn… hầu hết đều có những thu hoạch từ việc học tập tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong tập sách Hồ Chủ tịch hình ảnh của dân tộc, nguyên Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết: “Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn người Việt Nam nào hết. Ngót ba mươi năm bôn tẩu bốn phương trời, Người vẫn giữ thuần túy phong độ, ngôn ngữ, tính tình của một người Việt Nam.

Ngôn ngữ của Người phong phú, ý vị ngữ ngôn ngữ người dân quê Việt Nam; Người khéo dùng tục ngữ, hay nói ví, thường có lối châm biếm kín đáo và thú vị. Làm thơ, Người thích lối ca dao, vì ca dao là Việt Nam, cũng như núi Trường Sơn, Hồ Hoàn Kiếm hay Đồng Tháp Mười vậy. Mấy mươi năm xa cách quê hương, Người vẫn không quên mùi vị những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối, dưa chua, tương ớt, và ngày thường bây giờ, Người vẫn thích những thứ ấy. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ em, tuy chỉ có mấy đồng xu, nhưng cũng bọc giấy hồng đơn cẩn thận, tươm tất. Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch Chính phủ kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những lời nói thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam: “Nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương nhau cùng”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh là một vĩ nhân, năm 1990 Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh là Anh hùng giải phóng dân tộc và Danh nhân văn hóa thế giới: “Chủ tịch Hồ Chí Minh là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội… Sự đóng góp quan trọng về nhiều mặt của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật là kết tinh của truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của nhân dân Việt Nam và những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”. Như vậy, sau danh nhân Nguyễn Trãi, Nguyễn Du “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta” (Lê Duẩn).

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Hồ Chí Minh

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)