Hoàng Tích Chu (1897 – 1933)

Hoàng Tích Chu (1897 – 1933)

Thông tin cơ bản

Thông tin chung

Nắng trải dài trước sân, trong gió hoa ngâu, hoa lý thoảng lại mùi hương thơm dịu. Cụ Hoàng Tích Phụng nâng ly rượu trên tay và ngâm nga vài câu thơ Đường. Nghĩ đến bước đường hoạn lộ của con trai, cụ vui lắm, thầm nghĩ rằng, nó nổi tiếng thông tuệ, học giỏi nhất trong làng thì khoa thi này dứt khoát có tên trên bảng vàng. Do đó, cụ đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ để sau khi con trai vinh quy thì tổ chức khao làng. Thế nhưng, học tài thi phận là lẽ thường tình, khi nghe tin con thi trượt, cụ Phụng đã bàng hoàng đến ngất xỉu…

Thân thế và sự nghiệp 

Con trai của cụ tên là Hoàng Tích Chu sinh năm 1897 tại làng Phù Lưu, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Lúc bấy giờ, nói như thi sĩ Tú Xương thì:

Đạo học ngày nay đã chán rồi,
Mười người đi học chín người thôi.
Cô hàng bán sách lim dim ngủ,
Thầy khóa tư lương nhấp nhổm ngồi.

Tâm lý của kẻ sĩ đầu thế kỷ XX đã bắt đầu ngao ngán lối học cũ mà giữa buổi giao thời đất nước đã lọt vào tay giặc Pháp. Xã hội đang đổi thay. Chế độ khoa cử không còn coi trọng. Thậm chí thi đậu để ra làm quan cũng không còn là ước mơ của họ. Không một chút ngần ngại, Hoàng Tích Chu vứt ngọn bút lông quay sang cầm bút sắt để học chữ Pháp và học rất giỏi. Năm 1921, ông đã giúp việc cho tòa soạn Nam Phong, một tạp chí lớn quy tụ những bậc uyên thâm Hán học lẫn Tây học. Trong thời gian làm việc, do không đồng ý với quan điểm của tờ báo này nên ông nghỉ việc.

Khi nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi – người đầu tiên kinh doanh ngành vận tải đường sông, giương cao ngọn cờ cạnh tranh với lợi thế độc quyền của Hoa kiều và người Pháp thì Hoàng Tích Chu hả hê lắm. Ông nghĩ, chẳng lẽ người Việt Nam mình không tài giỏi, không đủ sức để đối đầu với người ngoài trong lĩnh vực mới mẻ này hay sao? Vì thế, ngày 15/7/1921, báo Khai hóa ra đời, do Bạch Thái Bưởi cùng những doanh nhân khác sáng lập thì Hoàng Tích Chu bằng lòng nhận chân chủ bút cho tờ báo này. Ông ký tên Kế Thương trên các bài báo (ý nói kế liền nhà Thương là nhà Chu trong lịch sử Trung Quốc). Tuổi còn trẻ. Máu còn nóng. Ngòi bút của ông không nhân nhượng trước cái xấu trong xã hội, thậm chí ngay trong nội bộ của tòa báo ông cũng không tha. Ông đã châm chích một nhân vật có vai vế trong tòa soạn, là người góp vốn làm báo, lúc đám cưới con gái lại bỏ tiền ra làm rình rang để khoe danh! Vì thế, chỉ một năm sau, ông được “mời” khỏi Khai hóa. Điều này không làm Hoàng Tích Chu buồn lòng.

Quyết tâm đeo đuổi nghề báo, Hoàng Tích Chu nghĩ tới việc phải sang Pháp học nghề cho thật giỏi. Nhưng gia đình không có đủ tiền chu cấp nên năm 1923, ông vào Nam Kỳ, nhờ người bạn làm dưới tàu thủy xin cho chân phụ bếp trên con tàu chạy sang Pháp. Trước lúc tàu rời bến, bịn rịn chia tay bạn hữu, ông đọc hai câu thơ nói lên tấm lòng đối với quê nhà:

Đất nước ông bà, muôn năm còn mãi có;
Non sông Hồng Lạc, mấy thuở biết bao quên.

Nhờ hai câu thơ này, khi ở trên tàu ông được mọi người quý mến, tiếp đãi ân cần. Lênh đênh trên sông nước, giang hồ nay đây mai đó nên thời gian này ông còn lấy bút danh là Hoàng Hồ. Tầm mắt của ông được mở rộng khi được qua Hồng Kông, Thượng Hải và Nhật Bản trước khi tới Pháp. Tại đây, ông đến ở nhà Tụ Nghĩa số 125 rue Pare Montsouris Paris 14e, do Nguyễn Thượng Khoa – con trai cụ Nguyễn Thượng Hiền làm quản trị. Thời gian này, Hoàng Tích Chu học nghề làm báo và người bạn thân Đỗ Văn học nghề in (sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm). Hàng tháng, họ nhận tiền trợ cấp của người bạn học trường Albert Sarraut là Lê Hữu Phúc gửi sang. Lê Hữu Phúc chính là người đề tựa cho tiểu thuyết nổi tiếng Tố Tâm của Song An Hoàng Ngọc Phách trong bản in đầu tiên năm 1922.

Trong thời gian học tại Pháp, Hoàng Tích Chu đã chú tâm nghiên cứu vai trò và tác dụng lợi hại của báo chí trong cách mạng tư sản Pháp. Các tờ báo L’OEuvre, L’Intransigeant… với lối văn ngắn, gọn rất được ông thích thú học hỏi. Với khả năng quan sát, ghi chép và tham khảo khá nhiều nhật báo tại kinh đô nước Pháp nên ngày 9/5/1927, trước khi về nước, ông đã kịp hoàn thành tại Paris, bản thảo chuyên luận “Câu chuyện nhựt trình trong hồi cách mạng nước Pháp”. Tập sách được xuất bản tại Sài Gòn do nhà in Xưa Nay phát hành vào cuối năm 1927. Mở đầu tập sách in trang trọng lời đề từ:

Nếu đã thật gọi là lấy thân hiến nước thì dù bằng ngòi bút hay cây gươm, đôi đàng đều có thế lực ngang nhau.

“Đời không có tự do là đời bỏ đi. Người có giá trị vì người có tự do.
Tự do, làm người ai cũng có từ thuở mới lọt lòng.
Khi nào mất, có quyền đòi, không phải xin, xin chẳng ai cho, đòi kỳ bằng được.
Một dân tộc đánh mất quyền tự do, tức là tự lấy dây thắt cổ, lấy xích xiềng tay, lấy bụi thoa mắt…
Vậy có dân tộc được đòi bằng lời, nhưng nhiều dân tộc phải đòi bằng máu. Ở những dân tộc sung sướng tự do, cái gì cần cho đời sinh sống mà rẻ nhất?
Tờ “Báo”.
Ở những dân tộc khổ sở tôi tớ, cái gì cần cho đời tự do mà đắt nhất?
Quyền “tự do ngôn luận”.
Đòi lại cái “đắt nhất” để mua được cái “rẻ nhất” thì khỏi tôi tớ mà có tự do.
Tự do hay chết!”.

Có thể xem đây là quan điểm về nghề báo của một thanh niên cấp tiến trong nửa đầu thế kỷ XX. Với lý tưởng cao đẹp như thế, về tới Hà Nội, Hoàng Tích Chu và Đỗ Văn bắt tay ngay vào việc áp dụng những kiến thức đã học cho dự định đã được ấp ủ lâu ngày.

Tờ báo mà họ điều đình để thể nghiệm những điều mà mình đã học hỏi tại Pháp là tờ Hà thành Ngọ báo. Nhật báo này của ông Bùi Xuân Học, nhà văn Tam Lang Vũ Đình Chí làm tổng thư ký tòa soạn, ra đời vào ngày 1.6.1927, trụ sở và trị sự đặt tại 14 đại lộ Gia Long và 63 Hàng Bông (Hà Nội), mỗi số chỉ có hai trang, giá bán 1 xu. Hoàng Tích Chu được giao lo công việc biên tập. Đỗ Văn lo việc in và phát hành báo. Ngay lập tức, tờ báo đã tăng lên 4 trang với nội dung và hình thức hoàn toàn cải tiến. Không kèn cựa với giới trẻ và nhiệt tình ủng hộ cái mới nên nhà báo kỳ cựu Tam Lang bằng lòng giao cho Hoàng Tích Chu điều hành tờ báo. Một nhân chứng là nhà báo Dương Thiệu Thanh cho biết: “Trong vòng hơn hai tháng, tờ Ngọ báo đột nhiên rời trụ sở, đến một căn nhà rộng tọa lạc ngay trước Hồ Hoàn Kiếm, có phòng chủ nhiệm, phòng chủ bút, phòng biên tập, phòng quản lý, với 24 kệ chữ, một phòng rửa ảnh, một lò đúc bản kẽm và 6 dàn máy in mới tinh. Tất cả đều do tay của Chu và Tam Lang xếp đặt, riêng về nhà in là một công trình quy mô của Đỗ Văn. Trên 24 kệ chữ, đặt song hàng, mắc 12 chiếc quạt trần, thêm những máy nối interphone để tòa soạn gọi xuống các phòng, khỏi mất thời giờ xê dịch. Hàng trăm bóng đèn có chao đặt theo lối phản chiếu, có ánh sáng dịu mát cho khỏi chói mắt.

Trong cơ xưởng ấy, hàng trăm công nhân vận đồng phục chăm chú làm việc. Đỗ Văn chỉ huy cũng mặc đồng phục.

Có thể nói rằng, đây là nhà in gương mẫu đầu tiên của người mình mà chúng ta không hổ thẹn khi có một du khách ngoại quốc nào đến thăm báo quán. Đó là câu mà Đỗ Văn thường hãnh diện nhắc đến, và anh em ai cũng phải công nhận. Về hình thức, nhờ kỹ thuật ấn loát của Đỗ Văn, tờ Ngọ báo có bộ mặt mới, trẻ, đẹp, không thua gì tờ báo nổi tiếng ở Paris là tờ Le Quotidien.

Về nội dung thì ngoài sự mau lẹ trong việc thông tin, lối hành văn đặc biệt ngắn gọn, rành mạch của Hoàng Tích Chu với mục “Phim hàng ngày” ký tên chung PHARR – bút hiệu của bộ ba Tam Lang, Phùng Bảo Thạch, Tạ Đình Bính; mục “Mặt trái cuộc đời”của Dương Mầu Ngọc, bút hiệu Nhị Lang, tờ Ngọ báo ngày càng khởi sắc thêm, vượt xa tất cả các báo khác.

Phê bình lối hành văn mới của Hoàng Tích Chu, tờ nhật báo bằng Pháp ngữ Le Courrier d’ Haiphong đã suy tôn là nhà cải cách Việt ngữ, lời của chính chủ nhiệm kiêm chủ bút báo này, văn sĩ René le Gac”(1). Còn nhà báo lão thành Vũ Bằng trong Bốn mươi năm “nói láo” cho biết: “Cho đến bây giờ và mãi mãi tôi vẫn nhận rằng Hoàng Tích Chu đã làm nên được một kỳ tích: viết trên tờ Nam Phong ký tên Kế Thương, đọc chán như cơm nếp nát, thế mà đi Pháp mấy năm về, làm được một phát rất “trì” là làm sôi động cả ngành báo chí, đem lại cho tờ báo một bộ mặt mới, một sinh lực mới. Ngọ báo giá một xu bán chạy không chê được. Đọc không bỏ một chữ. Văn hay không chịu được, cái lớp tiểu yêu như tôi lúc đó đều công nhận như thế, nhưng các ông lớn tuổi thì dường như không tán thành”. Tờ báo đang ăn nên làm ra như thế thì nội bộ có chuyện lục đục, cuối cùng Hoàng Tích Chu cùng ban biên tập rời tờ Ngọ báo và họ đứng ra làm tờ báo Đông Tây nổi tiếng.

Số 1 tuần báo Đông Tây xuất bản ngày 15/12/1929, tòa soạn và trị sự đặt tại 35 Hồ Hoàn Kiếm, sau chuyển về 12-14 phố Nhà Thờ (Hà Nội). Lúc này, Hoàng Tích Chu lấy bút danh là Văn Tôi. Lối đặt bút hiệu cũng khiến nhiều người cho rằng như thế là ngạo mạn. Trên báo An Nam tạp chí thi sĩ lừng danh Tản Đà nổi nóng: “Ông này gàn bướng quá, ai mà chẳng là tôi, người ta phải có tên riêng chứ!”. Không chỉ xuất hiện với bút danh “chói tai” như trên mà ông còn sử dụng một lối hành văn hoàn toàn khác với các đồng nghiệp. Ông không kéo câu văn rườm rà, dài lê thê mà ngắn gọn từng ý, nhưng có lúc lại ngắn gọn một cách triệt để, quá đà như câu văn chỉ có 1, 2, 3 chữ nên nhiều người dị ứng mỉa mai “văn Hoàng Tích Chu” là văn cụt, văn cộc, văn khấp khểnh, văn nhát gừng, văn cứt dê! “Nhưng dù ghét thì ghét, người ta cũng phải nhìn nhận nó là một lối văn riêng và có ảnh hưởng đến cách hành văn đương thời”. Bất chấp những lời chê bai, ông vẫn kiên trì đi theo con đường đã chọn. Trên báo Đông Tây số ra ngày 29/7/1931, Hoàng Tích Chu đã nói về ưu và khuyết lối văn của mình như sau:

“… Tôi vốn đã bị cái bả viết văn kéo dài, hàng năm mười dòng mới hạ được cái chấm dứt câu, hàng hai ba cột báo mà vẫn chỉ trơ trọi một ý. Phải có một lối viết khác. Cái lối viết phải làm sao cho gọn, không thừa nhiều lời. Đến khi tìm được nó rồi tôi liền bắt đầu thực hành bằng những bài “bàn về thời sự”. Tôi định rằng bài nào cũng vậy chỉ được chiếm một cột là nhiều lắm.

Đó là hồi tôi viết cho tờ Ngọ báo năm xưa. Đó cũng là hồi văn Hoàng Tích Chu bắt đầu được một phần độc giả công kích, cũng như được một phần độc giả hoan nghênh. Lâu dần nó thành ra một lối, mà anh em làm báo đã công nhận một cách vô tâm vậy.

… Tôi đến giờ muốn thực hành cái lối văn Hoàng Tích Chu ra mọi phương diện khác. Viết về một cuộc phỏng vấn, viết về chuyện đoản thiên, tôi thấy dễ xoay cán bút, không tốn công lắm như viết một bài “bàn về thời sự, chỉ trong một cột”, phải chọn từng chữ, phải sửa từng câu. Được một đằng, hỏng một đằng. Đến khi thực hiện lối văn ấy vào các bài nghị luận, tôi thấy ngay một sự khó khăn trình bày trên mặt giấy.

Bởi lối văn không cho phép viết dài câu, hay là thừa nhiều tiếng, nên mỗi khi giãi bày một lý thuyết nào, tôi thấy khó xoay xở lắm. Chân muốn bước đi, mà như có một sức gì ngăn cản lại. Trong khi lúng túng về nỗi tiến thoái ấy, tôi lắm khi tự quên rằng bài viết để người đọc, không phải chỉ để một mình xem…”

Rõ ràng, ban đầu Hoàng Tích Chu muốn câu văn ngắn gọn, không rườm rà, gần như loại bỏ hết những “thì”, “mà” không cần thiết nhưng rồi sự cách tân này quá triệt để, dẫn đến quá đà đã khiến ông “khó xoay xở lắm” khi múa bút trên trang giấy. Dù vậy, nhà báo Phan Khôi, người khởi xướng phong trào Thơ mới, cũng đã nhiệt liệt ủng hộ qua bài Văn nghị luận phải viết như thế nào? (báo Trung lập – xuất bản tại Sài Gòn năm 1931): “Trong văn quốc ngữ ta, cái lối viết văn của ông Hoàng Tích Chu thiệt nó biệt hẳn ra một lối, đủ mà kêu được là “lối văn Hoàng Tích Chu”, sự ấy trong làng văn ta hình như đã công nhận một cách vô tâm rồi. Chẳng luận lối văn ấy ông Chu sáng tạo ra hay bắt chước của ai, nội một cái biệt lập ra một nhà được như thế, cũng khá gọi là tay hào kiệt trong làng văn vậy”.

Vẫn biết so sánh bao giờ cũng khập khễnh, nhưng ta thử quan sát câu văn của Phạm Quỳnh và Hoàng Tích Chu. Bài “Văn học nước Pháp đối với tiền đồ nước Nam” của Phạm Quỳnh in trên Nam Phong tạp chí năm 1930, có đoạn được viết như sau: “…Những muốn cho bọn tân thượng lưu nước Nam bây giờ có thể hưởng thụ được văn hóa Pháp cho ích lợi, lại có thể giúp cho nước cũng nhờ đó mà chấn chỉnh được tinh thần tri thức, thời cần phải tự mình nhận chân lấy mình, phải bỏ cái thái độ tiêu cực như bây giờ, phải tỏ ra biết suy nghĩ, phán đoán, có tư cách đặc biệt đối với văn hóa ấy cũng như đối với các trạng thái khác của văn minh đời nay, phải biết xem xét cho kỹ càng, nhiệt thành mà không háo hức, tin theo mà biết phê bình, có thế mới hiểu rõ và dần dần tiêm nhiễm được”.

Còn bài “Chim bay ra Bắc” đăng trong mục “Chuyện đời” số 1 viết về tay quần vợt nổi tiếng nhất Nam kỳ thời đó, Hoàng Tích Chu viết:

Trong lịch sử: Lý Thường Kiệt với Nùng Cao Trí đem quân sang đánh nước Tàu.

Việc ngày nay: Chiêm xuất thân trong bọn anh em lao động sang trổ tài múa vợt trên ngọn đảo Mã Lai.

Trước sau trải mấy nghìn năm, Nam Việt thị uy với người mới được gọi là đôi ba việc.

Việc đã qua, ta không thể; việc trước mắt, ta thử ngó xem.

Sau khi nhảy nhót khoe tài trên đất Singapore, Chiêm nay bay ra Bắc.

Qua Trung Kỳ, Chiêm đã thử tài ở Quy Nhơn, được, ở Huế cũng được.

Ra đến Bắc, chọi nhau với tay vô địch người Thượng quốc, Chiêm ta cũng lại được.

Ngày nay, Chiêm là nhà vô địch nghề vợt ở Đông Dương.

Nhưng Chiêm ra Bắc vì có người mời? Ai mời? Một hội thể dục”.

Có thể nói, Hoàng Tích Chu đã có công đầu trong việc cách tân câu văn tiếng Việt gẫy gọn hơn, dễ hiểu, dễ đọc hơn. Không những thế, ngay cả cách phiên âm tiếng nước ngoài của ông cũng không giống người đương thời. Chẳng hạn, thời đó Christophe Colomb phiên âm là Kha Luân Bố thì ông chủ trương là Ki-tốp Cô-lông; Brésil phiên âm là Ba Tây thì theo ông phải là Bê Zin v.v… Vì ông lập luận, chữ Quốc ngữ chủ yếu dựa trên cơ sở chữ cái La tinh thì phiên âm như thế là hợp lý, chứ không cần phải vay mượn qua âm của người Tàu khi dịch tiếng nước ngoài ra tiếng Việt.

Ngoài ra, ta còn thấy Hoàng Tích Chu là tay làm báo rất “có nghề”. Trước hết, điều đáng ghi nhận là ông đã có một cái nhìn tiến bộ về nghề làm báo còn mới mẻ ở Việt Nam những năm đầu của thế kỷ XX. “Nghề làm báo ở xứ ta cho đến ngày nay vẫn chưa phải là một nghề theo đúng nghĩa của nó, vì ở xứ ta chưa có trường dạy về báo chí. Chúng ta xem đó là trò tiêu khiển về tinh thần, ký giả chỉ là những người lĩnh lương, tức là những người làm công, vì vậy ký giả làm việc miễn cưỡng” (Đông Tây số 2 ra ngày 2/11/1929). “Khi lập tờ báo, ông chủ chỉ chú ý tới vấn đề tiền bạc, thay vì chú ý tới bộ biên tập… Nhật báo đối với họ chỉ là những bài xã thuyết cộng với một vài tin tức lượm lặt ở sở cảnh sát hoặc dịch từ báo Pháp, và không hiểu rằng tờ nhật báo phải đề cập đến những vấn đề thời sự: tin tức trong và ngoài nước… Họ cho tràn vào mấy cột báo bất cứ tin tức nào bắt gặp trong báo Tàu hoặc báo Pháp” (Đông Tây số 5 ngày 16/1/1930).

Do đó, trên mặt báo của ông, ta thấy đã tránh được những khiếm khuyết trên, nó có đề cập tới những vấn đề thiết thực hàng ngày của số đông dân chúng như: Hôm nay, Bia miệng, Chuyện lạ đường rừng, Trắng đen, Cuốn phim… phản ánh các khía cạnh muôn mặt của đời thường làm cho tờ báo giàu lượng thông tin, gắn bó mật thiết với cuộc sống của nhiều người. Báo Đông Tây còn in nhiều tranh ảnh, minh họa hấp dẫn, ngộ nghĩnh. Hoàng Tích Chu được toàn quyền tiến hành cải cách nên báo Đông Tây đã đáp ứng được phần nào yêu cầu của xã hội, quần chúng hoan nghênh. Không chỉ lấy tin trong nội thành, mà bắt chước hoạt động của báo chí nước ngoài, ông còn cử đặc phái viên đi điều tra tình hình xảy ra ở các địa phương khác. Nhờ thế trên mặt báo thể hiện được nhiều vấn đề rất sinh động. Ngày nay, các tòa soạn báo thường mở “văn phòng đại diện” ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng… hoặc cử phóng viên đến tận nơi để tìm hiểu một sự kiện nào đó đang xảy ra là điều bình thường, nhưng những năm 30 của thế kỷ trước quả là một việc làm mới mẻ… Báo Đông Tây qua đó được đánh giá là báo bán chạy nhất Bắc Kỳ lúc đó. Trên nhật báo Phổ thông, nhà báo kỳ cựu Tế Xuyên cho biết:

“Hoàng Tích Chu rút bài học kinh nghiệm ở Jouvenel nói với tôi:

– Kẻ viết báo muốn thành công phải có sáng kiến, phải luôn luôn tìm ra cái mới, ngày hôm nay không phải ngày hôm qua, luật tiến hóa bắt ta phải đổi mới cho hợp thời, không thể nào bo bo giữ mãi những thành kiến cũ, những phương pháp cũ mà làm báo được.

Hồi đó, Hoàng Tích Chu chừng 32 hay 33 tuổi, đang cái tuổi hăng hái và bắt đầu chín chắn để xây dựng sự nghiệp. Tuy nổi tiếng mà anh vẫn ân cần chỉ bảo cho tôi từng mánh khóe trong nghề, từng kinh nghiệm anh học được ở ngoại quốc…

Cuối đời

Về năm tháng cuối đời của Hoàng Tích Chu, trên Tạp chí Xưa Nay số tháng 3/1999 của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, bài báo “Hoàng Tích Chu – người đầu tiên cách tân báo chí Việt Nam” của Hoàng Hữu Viêm cho biết: “Sau khi Thời báo đóng cửa, Hoàng Tích Chu bị ốm rồi mất ngày 30 Tết năm Quý Dậu (1933). Trong thời gian ốm, một người bạn đến thăm, ông vẫn tươi cười nói: “Nếu tôi được khỏe, chuyến này tôi sẽ mở một nhà xuất bản lớn như các nhà ấn hành bên Âu-Mỹ, lúc ấy chúng ta lại có cơ hội gặp gỡ làng văn…”. Ba năm sau khi ông mất, trên tờ báo Tràng An đã có bài viết “Hoàng Tích Chu ông tổ văn mới”. Trong đó đánh giá: “Báo Đông Tây được người đọc đón nhận nồng hậu, đem lại cải cách sâu rộng trong làng báo. Về mặt nội dung chưa có gì tích cực, về hình thức là một cuộc cách mạng…” (Tràng An, 30/10/1936). Sau đó các báo Phong hóa và Ngày nay đã tiếp tục con đường canh tân của Đông Tây và thành đạt.

Nếu gọi Hoàng Tích Chu là ông tổ văn mới có lẽ chưa thỏa đáng và còn cần tiến hành nghiên cứu sâu hơn nữa mới xác lập được chính xác phần đóng góp của ông. Nhưng Hoàng Tích Chu là một trong những người đầu tiên viết văn mới và cách tân báo chí cho hòa nhập với yêu cầu của cuộc sống mới lúc bấy giờ. Những đóng góp của ông không thể phai mờ trong lịch sử phát triển báo chí Việt Nam trong những năm 20 của thế kỷ chúng ta”.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Hoàng Tích Chu

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)