Bối cảnh lịch sử
Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX ở nước ta, thực dân Pháp đã thâu tóm mọi quyền lực trong tay. Giữa lúc nền kinh tế đang bị tư bản Pháp và Hoa kiều thao túng mọi mặt thì có những người Việt Nam dám đương đầu, cạnh tranh lại với chúng, trong số đó có Bạch Thái Bưởi. Như chúng ta đã biết, Hà Nội có vị trí thuận lợi giữa đồng bằng sông Hồng và các đầu mối giao thông thủy bộ lên các miền trung du và thượng du; bên cạnh đó mạng lưới đường bộ cũng nối liền với các đô thị khác của xứ Bắc Kỳ. Do đó, thực dân Pháp ngay từ Bước vào những năm cuối thế kỷ XIX ở nước ta, thực dân Pháp đã thâu tóm mọi quyền lực trong tay. Giữa lúc nền kinh tế đang bị tư bản Pháp và Hoa kiều thao túng mọi mặt thì có những người Việt Nam dám đương đầu, cạnh tranh lại với chúng, trong số đó có Bạch Thái Bưởi. Như chúng ta đã biết, Hà Nội có vị trí thuận lợi giữa đồng bằng sông Hồng và các đầu mối giao thông thủy bộ lên các miền trung du và thượng du; bên cạnh đó mạng lưới đường bộ cũng nối liền với các đô thị khác của xứ Bắc Kỳ. Do đó, thực dân Pháp ngay từ khen ngợi. Chẳng hạn, báo L’éveil Êconomique de L’Indochine, 1919 có viết: “Đang thời kỳ khủng hoảng mà một hãng tư nhân bản xứ đóng được những con tàu tầm cỡ như vậy, trong khi mọi thứ đều thiếu thốn, sắt thép đắt kinh khủng và chỉ bằng vốn tự có, không miễn giảm thuế, không dựa vào nhà nước, chẳng cầu cạnh ai, cũng chẳng có một chút hơi hướng tài trợ nào, hãng này tự xoay xở theo cách của mình với muôn vàn nỗ lực, đã chứng tỏ, hơn mọi lời lẽ, sức sống và sự thịnh vượng của nó” (Trích dẫn theo tạp chí Thế Giới Mới số 21/10/1996).
Thân thế
Nhà tư sản dân tộc Bạch Thái Bưởi sinh năm 1874 tại làng An Phú, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay thuộc ngoại thành Hà Nội). Có tài liệu nói ông vốn họ Đỗ, nhà nghèo, mẹ buôn gánh bán bưng, cha mất sớm. Có một nhà giàu họ Bạch, vốn không có con trai, thấy ông ngoan ngoãn, chịu thương chịu khó nên nhận làm con nuôi và đổi sang họ Bạch. Lại cũng có tài liệu nói rằng, hồi ông mới lập buôn tàu, có hùn vốn với bà phán Thái nên mới đặt tên là Thái – Bưởi. Còn họ Bạch là trắng, là không lấy họ của riêng ai. Thiết nghĩ, dù Bạch Thái Bưởi mang họ gì đi nữa, thì điều ấy cũng không quan trọng. Bởi ý nghĩa của đời người ở chỗ ta làm được gì cho xã hội, mang lại lợi ích gì cho cộng đồng chứ không phải ta mang họ gì, tên gì?
Sự nghiệp
Thuở mới bước chân vào đời, với vốn liếng tiếng Pháp đã được học, Bạch Thái Bưởi làm thư ký cho công sứ Bonnet, do đó người đương thời gọi là Ký Bưởi. Lại có tài liệu cho rằng ông làm thư ký cho một hãng buôn của người Pháp ở phố Tràng Tiền. Làm việc được một năm, năm 1895, Bạch Thái Bưởi được sang dự Hội chợ Bordeaux với vai trò giới thiệu sản phẩm của gian hàng xứ Bắc Kỳ.
Lần đầu tiên đến nước Pháp, ông đã thật sự kinh ngạc trước văn minh, tiến bộ của họ. Không như những người khác dành thời gian để du hí đây đó, ông nỗ lực tìm hiểu, học hỏi cung cách buôn bán, cách tổ chức và quản lý sản xuất, nghệ thuật khuyếch trương thương nghiệp của người Pháp. Trên chuyến tàu trở về nước, ông nghĩ rằng, nếu mình thủ phận với đồng lương thì cũng chỉ đủ sống mà suốt đời lại làm tôi tớ cho kẻ khác. Chi bằng bỏ việc để tự dấn thân vào con đường kinh doanh thì mới có cơ may để đổi đời. Nghĩ như thế ông mạnh dạn xin nghỉ việc.
Năm 1898, thực dân Pháp khởi công xây dựng cầu sắt lớn Paul Doumer (nay là cầu Long Biên) vượt qua sông Hồng. Người Pháp quyết tâm thực hiện cho bằng được, bởi Hà Nội có vị trí thuận lợi giữa đồng bằng sông Hồng và các đầu mối giao thông thủy bộ lên các miền trung du và thượng du; bên cạnh đó mạng lưới đường bộ cũng nối liền với các tỉnh khác của xứ Bắc kỳ. Các tuyến đường xe lửa từ Hà Nội đi Lạng Sơn, đi Hải Phòng, đi Lào Cai, đi Nam Định – trong đó ba con đường Hải Phòng – Lạng Sơn – Lào Cai đều phải qua sông Hồng. Bạch Thái Bưởi đứng ra nhận cung cấp tà-vẹt (traverse) cho công trình này. Tà-vẹt là “gối tựa” của các thanh ray (rail) tức là các khúc gỗ ngang để đặt đường sắt lên trên. Trong ba năm liền, ông lặn lội khắp núi rừng để khai thác gỗ tốt và đáp ứng đầy đủ cho công trình này. Năm 1902, cầu khánh thành thì cũng là lúc ông tích lũy được một số vốn khá lớn. Do đó, câu chuyện mà ông cung cấp tà-vẹt cho đường xe lửa Nam Định – Thanh Hóa chắc không có thật, vì người ta cho rằng, ông tích lũy được vốn là do có mánh khóe trong lúc đo kích thước tà-vẹt, vì vậy khi bàn giao thì sản phẩm không sử dụng được, phải bán rẻ lại cho ông! Với số vốn này, ông chuyển sang buôn ngô nhưng thất bại thảm hại. Không nản chí, với số vốn ít ỏi còn lại, ông mở tiệm cầm đồ ở Nam Định. Đây là lĩnh vực khá mạo hiểm, vì thương trường này hầu như người Hoa hoặc người Pháp đang nắm độc quyền. Người chủ ngoài vốn tiếng Pháp hành nghề theo luật định, còn phải có chuyên môn thẩm định đâu là vàng, ngọc quý, kim cương, cà rá để đánh giá chất lượng của nữ trang mà đưa tiền ra, lúc khách đến cầm. Nếu đánh giá không chính xác thì sạt nghiệp dễ như chơi. Đó là chưa kể các chủ khác còn tung ra những đòn hiểm hóc để cạnh tranh, giành độc quyền cho vay. Bạch Thái Bưởi vững tin ở khả năng của mình và ông đã làm ăn phát đạt. Từ năm 1906, ông tiếp tục mở rộng khả năng kinh doanh của mình: thầu thuế chợ ở Nam Định, Vinh, Thanh Hóa; mở hàng cơm tây ở Thanh Hóa; đại lý rượu ở Thái Bình. Ngoài ra, ông còn hùn vốn với em rể là Lê Văn Phúc mở nhà in Đông Kinh ấn quán… Với những việc kinh doanh này, chứng tỏ Bạch Thái Bưởi là người có tài quản lý, đủ sức quán xuyến, điều hành công việc.
Nhà văn Nguyễn Công Hoan có kể lại mẩu chuyện khá “ngộ nghĩnh” về việc giữ cộng sự của Bạch Thái Bưởi: “Ông Thịnh là người giữ két rất thật thà, được ông Bưởi rất tin cậy và trọng vọng, một ngày kia xin nghỉ việc. Ông Bưởi lưu lại, nói rằng tôi đã làm gì phật lòng ông hay ông bỏ tôi để làm chỗ khác được hơn lương thì ông cứ bảo thật, tôi sẽ trả như thế.” Ông Thịnh đáp rằng không phải như vậy. Ông viện những lý lẽ nhất định để xin thôi. Ông Bưởi lưu lại không được, bất đắc dĩ phải bằng lòng.
Một hôm, ông Bưởi làm phiếu lấy tiền để đi Hà Nội. Nhận được phiếu, ông Thịnh trao tiền. Nhưng lúc ra đứng trước xe ô tô, ông Bưởi sực nhớ ra một điều, mới nói với ông Thịnh đưa thêm ba trăm. Vì vội quá, chưa kịp viết phiếu, thì lúc về, sẽ đưa phiếu cũng được.
Chủ tin người làm, người làm tin chủ, nên ông Thịnh vội vàng đi lấy tiền ngay.
Ông Bưởi lên xe đi đến Phủ Lý, mới gọi điện về cho ông Thịnh, nói rằng đây là cái mưu để lưu ông lại. “Ông không thể bỏ tôi. Vì nếu ông bỏ tôi, tôi sẽ báo ngay sở Cẩm vào khám két, thì thấy rõ ràng là ông thụt két, lấy cắp ba trăm. Ông sẽ bị bỏ tù”. Ông Thịnh mắc mưu, không dám xin thôi việc nữa”.
Không rõ việc này hư thực ra sao. Nhưng nếu Bạch Thái Bưởi chỉ chú tâm làm giàu và trở nên giàu có thì thế hệ chúng ta, chắc hẳn không cần phải bận tâm nhớ đến một người mà “sự nghiệp” chỉ có thế.
Điều đáng kể nhất, Bạch Thái Bưởi là người Việt Nam đầu tiên đã mạnh dạn kinh doanh ở lĩnh vực mới mẻ mà người Việt Nam chưa nghĩ tới: ngành vận tải đường sông. Do đó, ông được người đương thời tôn vinh là “vua tàu thủy”. Vết tích chi nhánh trụ sở và bến đỗ tàu của Bạch Thái Bưởi ở Hà Nội, nay còn lưu lại ở trước Cột Đồng Hồ đường Bờ Sông (Quai Guillemoto – nay là phố Trần Quang Khải). Đó là ngôi nhà ba tầng, chân tường hầm xây đá xanh (sau là mộtbộ phận của Sở thương chính). Sự việc này đánh dấu bắt đầu từ năm 1909 . Bấy giờ hai hãng Messagerie và Chageurs Réunis độc quyền ngành vận tải đường biển ở Việt Nam. Còn về vận tải đường sông thì ở Bắc Kỳ, có hãng Marty với ba chiếc tàu chuyên chởhành khách, công văn thư từ và một xưởng đóng tàu tại Hà Nội; hãng Deschwanden ở Hải Phòng có sáu chiếc tàu và một số hãng của Hoa Kiều. Đây cũng là năm hãng Marty hết hạn ký hợp đồng với nhà nước, Bạch Thái Bưởi không bỏ lỡ cơ hội. Ông thuê ngay ba chiếc tàu trên và đổi lại thành tên Việt: Phi Phượng (Phénix), Phi Long (Dragon) và Bái Tử Long (Fai Tsi Long). Từ đây, Bạch Thái Bưởi cho tàu của mình chạy tuyến Nam Định – Hà Nội và Nam Định – Bến Thủy. Ông chấp nhận đối đầu với các thương thuyền Hoa kiều đang giữ vị trí độc quyền khai thác hai tuyến đường thủy này. Nhìn thấy một “tay mơ” đang mon men bước chân vào lãnh địa của mình, các thương nhân Hoa kiều chỉ cười khẩy, không tin một người Việt Nam nào trường vốn bằng họ. Để loại bỏ đối thủ ra khỏi “cuộc chơi” họ đã liên kết với nhau để hạ giá vé. Tuyến đường Hà Nội – Nam Định giá vé là 4 hào, họ hạ xuống còn 3 hào, Bạch Thái Bưởi cũng hạ xuống 2 hào. Cứ thế, đôi bên chấp nhận cái giá chỉ còn 3 xu! Nhưng Bạch Thái Buởi khôn khéo hơn, đã nghĩ ra cách “khuyến mãi” là biếu cho mỗi hành khách đi tàu của mình một gói trà giá 1 xu. Thậm chí, có lúc, ông còn đãi thêm cả bánh ngọt…
Nhà văn Nguyễn Công Hoan có kể lại một vài cuộc cạnh tranh khá dữ dội: “Ngày hội đền Kiếp Bạc, Ký Bưởi cho tàu chở khách từ Hải Dương đi Kiếp Bạc để tranh với tàu hiệu. Bên tàu hiệu mất khách, mới hạ giá vé. Nhưng bên Ký Bưởi cũng hạ theo. Sau bên tàu hiệu quay quắt, mới nghĩ ra cách là thuê người làng phóng uế bừa bãi ở bến tàu Ký Bưởi. Quả nhiên khách thấy bẩn, nên tàu Ký Bưởi có bớt khách. Nhưng Ký Bưởi nghĩ ra cách đối phó. Ông thuê người dọn lại là người làng ấy. Người làng với nhau thì khuyên bảo hoặc dọa nạt được những kẻ làm bậy. Bến Ký Bưởi từ đó được sạch sẽ.
Hai tàu còn ganh nhau đến trêu tức nhau, rồi sinh ra thù hằn nhau.
Tàu Ký Bưởi tốt, chạy nhanh, nên mặc cho tàu hiệu nhổ neo trước. Đến lúc tàu Ký Bưởi đuổi theo, thì hành khách đứng ra mạn tàu để xem, cũng lấy làm khoái, nên được người ba-toong, tức là người bẻ lái, xui là vỗ tay lên, cho bên tàu hiệu xấu hổ. Một lần, bên tàu hiệu đang chạy thì tàu Ký Bưởi theo kịp. Song, chẳng may tàu Ký Bưởi vì máy móc lúc ấy thế nào đó, mà không sao vượt lên được. Hành khách trên tàu hiệu mới vỗ tay để chế nhạo. Thế là anh ba-toong tàu Ký Bưởi lái tàu mình sát tàu hiệu chửi anh ba- toong tàu này. Hai bên chửi nhau kịch liệt. Rồi anh ba-toong tàu Ký Bưởi dọa: “- Liệu hồn, ông cho đắm chết bây giờ!”. Hành khách sợ quá, mới can đôi bên”.
Cuộc đối đầu một mất một còn khiến tình trạng tài chánh của Bạch Thái Bưởi đang đứng cheo leo trên bờ vực phá sản! Mỗi tháng ông thuê ba chiếc tàu với giá 2.000 đồng, nhưng mỗi ngày chỉ thu về trên dưới 20 đồng! Không đủ vốn để tiếp tục duy trì cách hạ giá như thế này nữa, ông nghĩ đến vũ khí hữu hiệu nhất là đánh thức lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc để kêu gọi hành khách ủng hộ mình. Do đó, thời bấy giờ hành khách đi tàu của Bạch Thái Bưởi thường gặp những người hát sẩm cất tiếng ca:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
hoặc:
Chung lưng một chuyến thuyền tình
Sông bao nhiêu nước ta thương mình bấy nhiêu
Chúng anh đây đứng mũi chịu sào
Sông ngang gió tạt, anh bẻ vào càng mau
Khuyên em đừng tính trước lo sau
Còn lưng còn vốn, ta nên giàu có phen
Khuyên em đừng tủi phận hờn duyên
Có tài, có sắc ta lên tiên có lần
Rồi ra xé lụa may quần
Đây loan đấy phượng, ta quây quần lấy nhau…
hoặc:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng
Cô kia má đỏ hồng hồng
Muốn ra Hà Nội lấy chồng làm quan
Đường đi hiểm trở gian nan
Tàu “Bạch Thái Bưởi” dọn đàng rước dâu
Dù cho nước lũ sông sâu
Ai về Nam Định rủ nhau cùng về…
Ông còn cho người tới các bến tàu, xuống tận các tàu để diễn thuyết cổ vũ cho tinh thần đồng bang và đặt những thùng lạc quyên trên tàu. Chính biện pháp tích cực này đã cứu sự nghiệp Bạch Thái Bưởi. Điều này cho thấy người dân Việt Nam giàu tinh thần tương thân tương trợ, sẵn sàng ủng hộ việc làm của đồng bào mình. Thắng lợi này có được cũng do không khí chính trị thời bấy giờ như trường Đông Kinh Nghĩa Thục và các sĩ phu yêu nước đang dấy lên phong trào “chấn hưng thương trường, cổ động thực nghiệp cho giới doanh nghiệp nước nhà”, khai sáng tư tưởng người dân phải biết kinh doanh để làm giàu và khuyến khích mọi người trọng nghề buôn. Từ đó, tàu của người Hoa kiều ngày càng ế ẩm và nhiều người bỏ cuộc. Về sau, Bạch Thái Bưởi lần lượt mua đứt ba chiếc tàu và xưởng sửa chữa tàu của hãng Marty mà lâu nay ông đang thuê. Đến năm 1917, ông còn mua thêm sáu chiếc tàu của hãng Deschwanden đang phá sản và của bất cứ ai muốn bán. Nếu từ năm 1909, Bạch Thái Bưởi còn thuê tàu thì mười năm sau, ông đã có 30 chiếc tàu, trong đó có ba chiếc viễn dương mang tên: Nguyễn Trãi, Bình Chuẩn, Verdun và thànhlập công ty lừng danh mang tên “Giang hải luân thuyền Bạch Thái công ty” – trụ sở chính đặt ở Hải Phòng và nhiều chi nhánh ở Hà Nội, Nam Định, Tuyên Quang, Bến Thủy, Việt Trì. Tại các trụ sở của ông, trên vị trí cao nhất người ta bắt đầu thấy phất phới ngọn cờ hiệu màu vàng, có hình mỏ neo và ba ngôi sao đỏ. Trông từ xa, ta thấy lá cờ như mũi chiếc tàu hiên ngang rẽ sóng mà xông pha trùng dương sóng gió… Trên tạp chí Thế Giới Mới số ra ngày 21/10/1996, tác giả Võ Viết Doãn có cho biết thêm những chi tiết thú vị: “Trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế toàn cầu những năm 1914-1918, Bạch Thái Bưởi vẫn đóng được những con tàu của mình. Trong số đó phải kể đến tàu Bình Chuẩn, chiếc tàu biển đầu tiên của Việt Nam được hạ thủy long trọng ngày 7/9/1919 tại Hải Phòng với sự chứng giám của đông đảo quan khách Tây, ta, trong sự cổ vũ nhiệt liệt của hàng ngàn đồng bào thành phố Cảng chào mừng ngành vận tải thủy Việt Nam đã vươn ra biển. Ngoài ra Bạch Thái công ty còn những phương tiện phụ gồm 20 xà lan, thuyền bằng gỗ và sắt với sức chứa 1.900 tấn, 13 cầu tàu cố định, 16 cầu tàu nổi.
Tàu Bạch Thái công ty chạy trên 17 tuyến đường, nơi đến xa nhất là Bến Thủy do hai tàu Phi Hổ và Bái Tử Long đảm nhiệm. Tuyến khó đi nhất là tuyến thượng du Bắc bộ, do tàu Chợ Bờ đảm nhiệm. Có 7 tuyến xuất phát từ Hải Phòng, 6 tuyến từ Nam Định, 3 tuyến từ Hà Nội. Về chất lượng tàu thuyền của Bạch Thái công ty được bảo dưỡng định kỳ tốt, đảm bảo an toàn, đặc biệt được Bạch Thái Bưởi và những cộng sự đắc lực của ông đầu tư khá nhiều công sức để tu sửa, tân trang. Chiếc thì nối thêm, chiếc thì bố trí lại “nội thất” cho phù hợp với “thượng đế” của mình là những người dân quê buôn thúng bán mẹt, theo phương châm “tàu người Nam phục vụ trước hết cho người Nam”. Bố trí lại như vậy, Bạch Thái Bưởi nhằm hai mục đích: một là chở được nhiều hơn, hai là vốn xuất thân từ nông thôn, Bạch Thái Bưởi hiểu rõ tâm lý của người dân quê e ngại đi tàu quá sang, vì sợ rằng “chắc là vé đắt đây”. Cho nên, với những con tàu mua lại có “nội thất” không phù hợp với mục đích khai thác của ông, ông đều cho sắp xếp lại. Không ngờ những cải tiến vặt vãnh ấy đã nâng cao số lượng người quá mạn tàu ông. Tàu thuyền ông đi về như con thoi,tấp nập lòng sông bến cảng.
Luôn luôn xem xét giảm giá cũng là một cách làm ăn. Hạ giá vé chút xíu nhưng bù lại, khách đi tàu tăng gấp bội. Những năm đầu thế kỷ XX, giá vé Hải Phòng – Nam Định là 1,50 đồng, tương đương với một gánh thóc loại 1, cao hơn một nén vàng lá. Chỉ có nhà giàu mới đi chứ người dân quê nào dám đổ cả gánh thóc tốt một nắng hai sương hoặc vứt 10 quan tiền xuống tàu cho một chuyến đi. Với tầm nhìn đó, Bạch Thái Bưởi đặt giá vé cho người Việt, vẫn tuyến nói trên, năm 1919 như sau: Ca- bin (hạng nhất): 1,00 đồng, hạng hai: 0,30 đồng, boong(hạng ba): 0,20 đồng. Với những hoạt động này, cơ ngơi Bạch Thái Bưởi và Bạch Thái công ty ngày càng phát triển, kéo theo một nhịp điệu ngày càng nhộn nhịp mua bán giao lưu đến mọi nẻo làng quê, xóa đi cảnh được mùa không nơi đổi chác hàng hóa.
Ngoài đội tàu, Bạch Thái công ty còn có một xưởng tàu mua lại của hãng Marty, bên bờ sông Cấm, với diện tích mặt bằng 3ha, trong đó có 6.548m vuông nhà xưởng, có bề dài 50m, có âu tàu 125m cho phép sửa chữa tàu 300 tấn. Máy móc được trang bị tương đối hoàn thiện. Hầu hết các bộ phận của tàu mới Bình Chuẩn chạy được trên biển toàn bằng thép, dài 46m, rộng 7,20m, trọng tải 600 tấn, đều được chế tác tại đây. Việc đóng con tàu biển này cũng là một phen thử thách tài trí của Bạch Thái Bưởi và công ty của ông. Đang thời chiến, nguyên vật liệu thiếu be thiếu bét, nhà kho rỗng tuếch, việc đóng tàu rất cần đinh ri-vê (rivet). không còn cách nào khác là phải tự lo: màymò trong sách kỹ thuật, Bạch Thái Bưởi chế tạo ra máy làm ri-vê, sau đó, thiếu bu-loong (boulon), lại sản xuất máy làm buloong”. Không những thế, một người đốc công tâm huyết với Bạch Thái Bưởi là Nguyễn Văn Phúc đã có sáng kiến tân trang, nối dài thêm những chiếc thuyền cũ vừa mua được. Từ năm 1913, ông Phúc đã chỉ huy nối dài tàu Bái Tử Long, bằng cách cắt đôi tàu rồi nối vào khúc giữa một khúc dài 7,8m. Với thành công này, năm 1917, ông Phúc cho nối dài tàu Yên Bái thêm 7m; năm 1919 nối dài tàu Phố Lu thêm 7,2m. Riêng tàu Bình Chuẩn là tàu đầu tiên chạy từ Hải Phòng vào Sài Gòn, cập bến vào cảng ngày 17/9/1920. Sự kiện này làm náo nức tinh thần của giới kinh doanh Nam Kỳ, họ cho đúc bảng đồng tặng tàu Bình Chuẩn với dòng chữ chói lọi làm kỷ niệm: “Tặng tàu Bình Chuẩn, chiếc tàu Việt Nam đầu tiên tại Cảng Sài Gòn”.
Để có thể hình dung ra không khí làm việc trong nhà máy của Bạch Thái Bưởi, ta hãy đọc lại bài ký sự của ông Quan Dục Nhân – người Hoa. Bài này được viết sau khi khi tàu Bình Chuẩn đã hạ thủy và đăng trên các báo ở Quảng Đông như Nhân quyền báo, Tổng thương hội báo, Đại công báo… Nhà báo Thượng Chi, tức Phạm Quỳnh, đã dịch lại và cho in trên Nam Phong tạp chí số 32 (1920):
… Ngày 18, ta cùng với bạn ta xuống Hải Phòng, nhân cơ hội ấy ta có đi xem các kiểu mẫu tàu của công ty Bạch Thái, nên ta mới định chí đi đến tận nơi để xem xét thử cái sự nghiệp cả công ty ấy ra làm sao.
Người bạn đưa ta đến nhà máy công ty Bạch Thái; trong công ty ấy vẫn có nhiều người Trung Hoa ta làm công. Lúc vào đến nơi thì lấy một người trong bọn Hoa công làm thông ngôn, chủ khách mừng mặt nhau rồi, ta mới bày tỏ lai ý, chủ nhân lãnh ý rồi cho người nhà đưa ta đi xem công xưởng, lúc đến nơi thì thấy có một người giám đốc đứng sẵn đón ta ở cửa, chắc hẳn chủ đã dùng điện thoại mà thông báo trước.
Kẻ xưng giám đốc xưởng ấy cũng lại là người An Nam tên là Nguyễn Văn Phúc, không hề đi du học nước ngoài, mà cũng không có bằng cấp tốt nghiệp ở trường công nghệ nào cả, mà trong tay tinh nghề thợ, làm giám đốc được một xưởng máy.
Nguyễn quân đưa ta đi xem khắp trong xưởng, khi bấy giờ đúng 9 giờ rưỡi, nhân công đương làm lụng, thợ thuyền ước được 500 người, máy móc ước được ba bốn chục bộ,máy bào, máy tiện, lò nấu, không thiếu thức gì, trong xưởng xếp đặt thật là chỉnh đốn.
Ta đi xem khắp các bộ phận ở trong xưởng rồi thì Nguyễn quân lại đưa ta ra ở đàng trước xưởng xem các tàu và xem các cừ đóng tàu với cái đà chữa tàu.
Năm nay trong xưởng ấy mới đóng được một chiếc tàu toàn bằng sắt để chạy bể, đặt tên “Bình Chuẩn”, đã làm lễ hạ thủy rồi, mà nội bộ hãy còn chế tạo trong xưởng và đương trục hai chiếc tàu lên trên đà để chữa lại: Chiếc “Hùng An” là tàu bể mà mua ở Hồng Kông đem về dùng, chiếc “Đinh Tiên Hoàng” là tàu của công ty, để chạy trong sông.
Công nghiệp như thế kể cũng đã to tát lắm mà độc một tay người An Nam kinh lý nổi, và lại chỉ dùng người bản xứ đứng giám đốc được việc chế tạo, thời đủ biết cái trình độ của người An Nam ngày nay đã lên cao mấy bậc rồi.
Ta còn nghe nói công ty Bạch Thái mới mua thêm một chiếc tàu 3.000 tấn ở bên Mỹ nữa để về chạy sang Âu, Mỹ, Nhật và các nước khác, xem bấy nhiêu cũng đủ biết cái thương nghiệp của họ cũng đã có cái cảnh tượng tiến hóa hẳn rồi”. Ngày ấy, để động viên tinh thần làm việc của mọi người, ngay trong nhà xưởng, ta thấy có ghi một câu nói trứ danh của Bạch Thái Bưởi: “Trước kia ta cạnh tranh với các Hoa thương trên mặt sông, từ nay trở đi ta lại cạnh tranh với các tàu bè trên mặt biển”. Ông Quan Dục Nhân nhận xét: “Ôi! Lời ấy chẳng hóa ra là lời khoa trương lắm ru. Nhưng mà cái chí tiến thủ của người An Nam cũng đáng khen vậy.
Với nhiều phương tiện vận chuyển nắm trong tay, Bạch Thái Bưởi nhanh chóng chiếm lĩnh được thị trường, ông nắm bắt rất nhanh nhu cầu của hành khách. Chẳng hạn, mùa trẩy hội chùa Hương, ông mở thêm tuyến Phủ Lý-Bến Đục, hoặc tháng tám âm lịch có hội đền Kiếp Bạc, ông mở thêm tuyến Đáp Cầu-Kiếp Bạc (4 chuyến/ ngày), Hải Dương-Kiếp Bạc (1 chuyến/ngày), Phả Lại-Kiếp Bạc (15 chuyến/ngày). Trước lúc mở tuyến đường mới, bao giờ ông cũng cho quảng cáo trên phương tiện truyền thông đại chúng với những vần thơ nôm na, dễ nhớ. Chẳng hạn, bài quảng cáo cho Tàu trẩy hội chùa Hương có đoạn:
Chùa Hương Tích lạ thay cảnh vật
Chữ Nam Thiên đệ nhất đồn xa…
…
Quan quan khách khách xa gần
Hỏa thuyền sẵn đó đưa chân đi về
Sông Phủ Lý gần kề cạnh bến
Thuyền hỏa xa vừa đến thời đi
Chèo Lan trỏ nẻo Đục Khê
Lại từ Bến Đục đưa về Hà Nam…
Có thể khẳng định Bạch Thái Bưởi là con người của công việc, say mê làm việc và biết quý thời giờ vàng ngọc. Lúc ông Nguyễn Hữu Thu – thông gia với Bạch Thái Bưởi – qua đời, vì quá say mê với công việc, ông dặn thư ký là lúc nào sắp đến giờ thì báo cho ông biết. Từ lúc thư ký báo xong, ông mới đứng dậy quần áo chỉnh tề và khi đến nơi thì xe tang đã đi một quãng xa. Bạch Thái Bưởi còn là người cứng rắn. Khi con trai ông là Bạch Thái Tư được du học ở Pháp, nhưng không chăm lo học tập, chỉ chơi bời lêu lổng, viết thư khuyên răn mãi cũng không được, từ đó, ông coi như Tư đã chết. Một hôm đang làm việc thì ông nhận được điện tín báo Tư qua đời. Liếc mắt đọc xong nội dung, không nói không rằng gì cả, ông mở hộc tủ ném bức điện tín vào đó rồi cắm cúi làm tiếp công việc.
Công việc làm ăn của Bạch Thái Bưởi từ những năm này, do tình hình chính trị đang diễn ra trong nước nên gặp nhiều khó khăn. Sự khó khăn này còn do ảnh hưởng tàn khốc của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới. Từ năm 1929, cuộc khủng hoảng này bắt đầu từ nước Mỹ, rồi nhanh chóng tràn ra khắp thế giới tư bản. Tất nhiên nền kinh tế Đông Dương cũng không thể đứng ngoài. Bi thảm hơn nữa, nói như nhà sử học Trần Văn Giàu: “Đông Dương lại phải gánh một phần gánh nặng tai hại khủng hoảng kinh tế của Pháp. Đông Dương là xứ nông nghiệp, độc canh nên tai họa khủng hoảng lại càng ghê gớm. Ghê gớm hơn nữa là vì ở đây, mức sống của nhân đã quá thấp từ lâu, nay lại xuống đến cùng độ, và quần chúng thì hoàn toàn không có một chút tự do dân chủ nào để đoàn kết, để đấu tranh giảm bớt sự thống khổ của mình”.
Một loạt nhà tư sản Việt Nam chịu tác động mạnh mẽ của khủng hoảng kinh tế thế giới trong những năm 1929 – 1933; và sự chèn ép bằng nhiều thủ đoạn của thực dân Pháp đã dẫn đến phá sản. Nhà sử học Trần Văn Giàu cũng cho biết: “Bạch Thái Bưởi bị Pháp cạnh tranh và phá hoại đến nỗi tàu bị đắm, bãi than bị bãi nghiệp. Công ty sản xuất điện Lê Phát An, Phan Tùng Long cuối cùng đã bị sát nhập vào công ty Pháp “Le Sud- Indochinois Industriel”; các công sở có lúc bị cấm không được dùng sơn của Nguyễn Sơn Hà; Việt Nam ngân hàng rút cuộc bị thu hút vào Ngân hàng Đông Dương…”.
Thực dân quyết gục sự trỗi dậy của một tầng lớp tư sản dân tộc Việt Nam vừa mới ngoi lên chỉ trong vòng mươi năm trở lại đây.
Không còn cách đứng vững trước sự cạnh tranh đã nhuốm màu sắc chính trị, công ty Bạch Thái tuyên bố phá sản. Đó là ngày 4/5/1929. Đây một cách rút lui kịp thời khỏi “sân chơi”, không thể chần chừ được nữa. Sự chần chừ trong trường hợp này không thể cứu vãn được tình thế, thậm chí còn sa lầy tệ hại hơn.
Toàn bộ tài sản làm ăn, chắt chiu dành dụm của ông trong vòng hai mươi năm đã phải bán lại cho đối thủ là Công ty vận tải sông biển Đông Dương do F.Sauvage làm chủ với giá 630.000 đồng.
Dù vậy, một lần nữa, ta lại thấy và khâm phục nghị lực phi thường của Bạch Thái Bưởi khi ông dũng cảm đi lại những bước đầu. Không nản chí. Không bỏ cuộc nửa chừng.
Với toàn bộ số vốn đang nắm trong tay, Bạch Thái Bưởi nhanh chóng tìm hướng đi mới. Ông chuyển hướng tập trung đầu tư khai thác mỏ mà ông đã tham gia từ năm 1921. Cần chuyên viên kỹ thuật thì ông cho người sang Pháp ký hợp đồng với sinh viên đậu thủ khoa của Trường đại học Hầm mỏ, những sinh viên này khi ra trường được ông lo vé máy bay sang Việt Nam để làm việc cho ông. Ngoài ra, ông còn nhận cả chuyên viên nước ngoài vào làm sếp mỏ, điều động trên 2.500 công nhân. Trụ sở Công ty than của Bạch Thái Bưởi ở Hải Phòng nằm trên đại lộ mang tên đô đốc Amiral de Beaumont (nay phố Đinh Tiên Hoàng).
Với sự thông minh và năng động suy nghĩ nên bước sang lĩnh vực mới, Bạch Thái Bưởi cũng gặt hái được thành công đáng kể. Sản phẩm than của ông không những tiêu thụ mạnh ở trong nước mà còn xuất khẩu sang cả thị trường Pháp, Nhật…
Trong những ngày này, thời gian đối với ông là vàng bạc. Ông không cho phép mình được nghỉ ngơi. Trong thời khóa biểu của ông không có ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ, ngày Tết. Dù đang mang trong người căn bệnh bị tê nửa người, nhưng sức làm việc của ông vẫn giữ phong độ như thời trai tráng. Lịch làm việc của ông sít sao, không một thời gian nào rảnh rỗi.
Cuối đời
Công việc đang tiến hành một cách khẩn trương thì ngày 22/7/1932 Bạch Thái Bưởi lên cơn một cơn đau tim dữ dội. Linh tính báo trước có một điều không hay đang dần dần đến. Dù đang nghẹt thở nhưng ông còn kịp mở mắt nhìn qua các bảng hiệu của tàu của “đối thủ” người Hoa, người Pháp đang treo trong phòng. Chao ôi! Chứng tích của một thời lừng lẫy vẫn còn uy nghi và đem lại cho ông một niềm tin, một sức mạnh lạ thường. Ông mỉm cười. Một nụ cười mãn nguyện. Như nụ cười của người thủy thủ trở về bến bờ bình yên sau những ngày xông pha sóng gió trùng dương. Như nụ cười của người nông dân sau khi đã cày xong thuở ruộng. Lấy hết sức bình sinh, ông dặn dò các con và những người tâm phúc từng gắn bó:
– Ta còn phải phấn đấu để cho ngọn cờ của công ty người Việt Nam ta phất phới trên năm châu bốn biển, để cả thế giới biết đến tài trí của con người Việt Nam.
Trăn trối xong điều tâm huyết nhất, Bạch Thái Bưởi nhắm mắt. Hồn về chín suối. Con người tiên phong trên con đường “chấn hưng thương trường, cổ động thực nghiệp”, tiêu biểu cho của giới doanh nghiệp tư sản dân tộc nước Nam trong những năm đầu thế kỷ XX đã về cõi thiên thu, thọ 58 xuân. Ngày 28/7/1932 ông được an táng tại sở mỏ than Bí Chợ (Quảng Yên), gần núi Yên Tử – cách Hải Phòng chừng năm chục cây số.
Thương tiếc Bạch Thái Bưởi, nhiều trí thức, doanh nhân bấy giờ đã bày tỏ niềm cảm phục sâu sắc. Ông Hội trưởng Hội khai trí Tiến Đức đã đọc điếu văn: “Ông là một nhà thực nghiệp nhưng rất nhiệt thành về các công việc xã hội. Phàm công cuộc gì tỏ ra cái nghĩa đoàn thể, cái chí hợp quần của người mình, ông cũng sốt sắng mà tán thành. Ông muốn cho người Nam ta cũng biết hội họp nhau để mưu tính những việc công ích như người các nước, khỏi mang tiếng là một dân tộc rời rạc, không biết tương thân tương ái với nhau. Bởi thế nên khi mấy anh em đồng chí bàn muốn lập một cái đoàn thể lớn để tiêu biểu cho quốc dân, ông vui vẻ nhận lời ngay, và liền xuất tài xuất lực, cổ động cho thành…
Nước Nam ta vẫn mang tiếng là một nước văn nhược, không đủ tư cách ra cạnh tranh với cái đời thực nghiệp này. Ông đem cái tài doanh nghiệp, cái chí kiên gan mà tỏ cho thiên hạ biết rằng An Nam cũng có người có trí khôn, có nghị lực, kinh lý được những sự nghiệp lớn về công thương, chẳng kém gì người ngoài. Mà ông làm được thành công, khiến cho thiên hạ phải phục.
Cái sự nghiệp kinh doanh của ông, cái nhân cách gan góc mạnh bạo của ông, cái đức tính kiên nhẫn cần cù của ông thực đáng làm gương cho quốc dân noi theo.
Nhưng đáng phục hơn là cái chí khí của ông, vì ông không phải là nhà doanh nghiệp thường. Ông thủy chung vẫn mang nặng một tấm lòng vì nước, vì nòi, ai biết ông cũng phải công nhận như vậy.
Cho nên hậu thế bình tĩnh mà xét lại công nghiệp của ông, tất không ngần ngại mà phê một câu rằng: Họ Bạch thật là một bậc vĩ nhân ở đất Bắc, một bậc trượng phu trong thương trường.
Than ôi!
Mây mờ cửa Cấm
Gió lạnh ngàn Yên
Ông Bạch nay đã theo mây theo gió mà đi về nơi mỏ cũ bến xưa…
Trên tạp chí Đông Thanh, học giả Nguyễn Văn Tố đánh giá Bạch Thái Bưởi là “bậc anh hùng kinh tế thứ nhất trong kinh tế nước nhà”. Hiện nay, tại Hải Phòng con đường đặt trụ sở công ty của ông được mang tên Bạch Thái Bưởi.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ.