Thông tin chung
Khi thực dân Pháp chiếm Nam kỳ, những sĩ phu được đào tạo từ cửa Khổng sân Trình, đau đáu với vận mệnh, với tiền đồ nước nhà đã có những phản ứng tích cực. Chẳng hạn, họ dấy lên phong trào “tị địa”, không ở lại vùng đất kẻ thù đã chiếm đóng, chẳng hạn cụ Nguyễn Thông cùng một số sĩ phu chạy ra Bình Thuận, lập Ngọa du sào. Thậm chí ngay cả người đã chết cũng được hậu thế cải táng đưa về nơi khác. Chẳng hạn năm 1867, học trò cụ Võ Trường Toản đã làm lễ cải táng thầy từ Bình Dương (Gia Định) đưa về làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An – Vĩnh Long (nay thuộc Bến Tre). Những nơi ấy, khi thực dân Pháp tiếp tục lấn chiếm thì họ quyết không sử dụng những “văn minh” do kẻ thù đem lại. Có giai thoại, cụ Đồ Chiểu quyết không thèm đi trên đường lục lộ, cụ lội ruộng băng băng đồng; cụ không quyết không thèm dùng xà phòng (xà bông) của Tây; khi người Pháp muốn trả lại đất của cụ, cụ ứa nước mắt bảo: “Đất của vua còn phải bỏ, đất của tôi sá gì?” v.v… Thậm chí ngay cả việc học chữ Quốc ngữ cũng được xem như một hành động có “thiện ý” với “tân trào”, họ vẫn cố níu lấy chữ Hán, chữ Nho như giữ lấy đạo Thánh hiền, đặng qua đó bày tỏ lòng trung hiếu với nước nhà.
Dần dần quan niệm ấy thay đổi. Một thế hệ mới hình thành, không những sử dụng tiện nghi, vật chất của phương Tây đem lại mà họ còn tự ý thức trong công cuộc cạnh tranh. Một trong những người có ý thức tiên phong như thế là ông Trương Văn Bền. Sự nghiệp để lại cho đời sau của ông chỉ vỏn vẹn bốn chữ “Xà bông cô Ba”, bởi sản phẩm này ra đời và tồn tại như một trong những biểu tượng tinh thần dám cạnh tranh của người Việt, như cuộc xiển dương “người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” – khi mà nền kinh tế nước nhà đang nằm trong tay ngoại bang.
Tại sao lại là xà bông, chứ không là một sản phẩm nào khác? Ta hãy nghe ông Trương Khắc Cẩn – Tổng giám đốc công ty Trương Văn Bền và các con trong thập niên 1970, con trai ông Bền, cho biết: “Vào năm 1930, sau khi lăn lộn trong các hoạt động kinh doanh khác, lúc bấy giờ chừng 50 tuổi ba tôi bảo: “Ba tôi muốn hoạt động trong một ngành có tính cách phục vụ đại chúng. Có hai loại sản phẩm mà hầu như mọi người phải dùng: giấy và xà bông. Ba tôi chọn xà bông”.
Ông Trương Văn Bền sinh năm 1883 tại Chợ Lớn (Sài Gòn) trong một gia đình có truyền thống làm nghề thủ công. Nhờ vậy, ngay từ bé ông đã quen với cảnh mua bán tấp nập và dần dần ý thức “phi thương bất phú”. Năm 25 tuổi ông lập nhà máy ép dầu dừa, công việc làm ăn phát đạt với năng suất mỗi tháng ép đến 1.500 tấn dừa khô. Về sau, ông còn lập nhà máy xay lúa với năng suất hơn 100 tấn gạo/ngày; cộng tác với Viện Nghiên cứu Nông nghiệp Đông Dương việc khai thác và tái tạo rừng thông ở Đồng Nai Thượng, mỗi năm sản xuất 30 tấn dầu nhựa thông và 100 tấn tinh hương. Năm 31 tuổi, ông lập một đồn điền cao su cỡ nhỏ ở Thủ Đức, sau đó mấy năm, ông mở rộng kinh doanh bằng cách lập công ty khai khẩn ruộng ở Đồng Tháp Mười; lại có sở đồn điền trên 10.000 hecta ở đồng bằng sông Cửu Long… Tiếng tăm của ông ngày càng vang xa. Trong tập Pháp du hành trình nhật ký của nhà văn hóa Phạm Quỳnh – ông chủ bút Nam phong tạp chí lừng lẫy một thời cho biết vào ngày 14/3/1922: “Ba giờ chiều, ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem Hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc kỳ về xem nhà máy dầu và máy gạo của ông ở Chợ Lớn. Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên đã to tát như thế, mà chúng tôi thấy hưng khởi trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông ngõ hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nhà và thoát li được cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp”.
Thành công được nhiều việc là do ông không ngừng học hỏi, không bằng lòng với những gì đang có. Ông từng phát biểu rằng: “Trước khi bắt tay vào kinh doanh bất cứ việc gì, mình phải biết rõ việc ấy. Người Tây trước khi làm việc gì họ cũng học trước cả. Cho đến một việc đứng bán hàng, ta cho là tầm thường và tưởng ai ai cũng có thể làm được, nhưng đối với họ đó là việc quan trọng, cũng có sách có trường dạy hẳn hoi, dạy từ cách tiếp khách, khoe hàng làm sao cho người khách mua rồi còn trở lại. Như tôi đây cơ sở vững vàng rồi mà ngày nào cũng tìm sách, tìm báo đọc thêm. Sức khỏe, sự học hỏi, sự bền chí là những điều kiện của sự thành công”. Lời “tự bạch” ấy đến nay vẫn hữu ích với những người trẻ muốn thành công trên đường đời.
Ông Trương Khắc Cẩn kể: “Ngay từ buổi đầu công ty đã tọa lạc tại đường Kim Biên (Chợ Lớn). Ba tôi nấu xà bông trong một căn phố nhỏ theo lối tiểu công nghệ nghĩa là mọi việc đều do người trong gia đình lo liệu. Hồi đó việc kinh doanh sản xuất rất khó khăn và kỹ nghệ thì do người Pháp khai thác và việc phân phối do Hoa kiều làm chủ. Để đoan chắc có đủ nguyên liệu cho việc sản xuất, ba tôi đã tổ chức những hợp tác xã những chủ vườn dừa ở Bến Tre và Mỹ Tho. Việc này vừa giúp mình vừa có nguyên liệu đều đặn, giá rẻ mà còn giúp cho chủ vườn được lợi tức lớn hơn, vì không bị trung gian ăn chặn”. Bấy giờ, xà bông nhãn hiệu Cô Ba được sản xuất hình vuông, nhiều cỡ 125gr, 250gr, 500gr, mỗi cục xà bông đều có in nổi hình đầu người phụ nữ. Về sau để hạ giá thành, ông Bền cho đổ thành cây 0,8kg, 1kg người mua đem về tự cắt thành bánh lớn nhỏ tùy thích. Xà bông Cô Ba 72 phần dầu, bán tại thị trường khắp ba nước Đông Dương, đủ sức cạnh tranh với xà bông Marseille của người Pháp đang thống lĩnh thị trường.
Thuở ban đầu, xà bông Cô Ba thực hiện theo công nghệ như thế nào? Ông Cẩn cho biết: “Từ mấy chục năm nay, xà bông của hãng nấu theo phương pháp tiểu công nghệ là nấu xong đổ vào hồ cho đông nguội. Sau 48 tiếng đồng hồ đem ra cắt thành từng miếng để bán. Phương pháp này khiến cho việc kiểm soát độ khô hay tỷ lệ chất béo trong xà bông không được chính xác, đồng thời từ 30 đến 35% xà bông phải nấu lại vì bị vỡ thành miếng nhỏ không bán được. Mặc dù không mất vật liệu nhưng phương pháp này tốn nhân công và nhiên liệu, phẩm chất khó kiểm soát nên giá thành cao”. Nhưng đến năm 1968, thì xà bông Cô Ba đã có những cải tiến đáng kể, là xà bông nóng được đổ vô máy làm nguội, sấy khô và ép thành cây. Tỷ lệ dầu hay chất béo của xà bông có thể điều chỉnh chính xác trong máy và tỷ lệ hao hụt không quá 1%. Không những thế việc phân phối hàng hóa trong thời điểm này cũng thay đổi.
Trong thập niên 1930, việc đưa sản phẩm đến tay người tiêu dùng, công ty của ông Bền chỉ mới phân phối ở Sài Gòn, Chợ Lớn, Gia Định Biên Hòa; còn lại phải nhờ đến hệ thống của người Hoa. Về sau, việc phân phối này cũng đã được cải tiến. Ông Tăng Long, người làm việc cho hãng từ năm 1945, đến thập niên 1970 trên cương vị là Giám đốc thương mại cho biết: “Trước năm 1959 hãng dùng các đại lý để phân phối sản phẩm đến các tỉnh. Riêng vùng Sài Gòn và Chợ Lớn thì người của hãng phân phối cho bạn hàng. Tuy nhiên, nếu ta dùng đại lý thì người mua bị thiệt thòi, nhất là hồi đó khan hiếm về vật liệu, vì đại lý ở xa nên họ hay đầu cơ tích trữ và tạo ra khan hiếm giả tạo và bán giá chợ đen nên hãng không thể nào thực hiện được mong muốn bán giá rẻ phẩm chất tốt. Một điều bất lợi nữa là khách hàng không biết về hãng và hãng không nắm được nhu cầu của khách hàng. Nguyên tắc của chúng tôi là làm sao giúp cho bạn hàng bán có lợi, có hàng để bán phù hợp với túi tiền của họ”.
Vậy phải làm như thế nào?
Trong thời điểm của những năm 1959, ông Tăng Long xin phép sử dụng ngân sách của công ty gần nửa triệu đồng. Với số tiền không nhỏ này, ông Long thuê một đoàn… võ thuật đi cổ động cho sản phẩm Cô ba từ Nam ra đến sông Bến Hải. Trong chuyến đi này còn có những người rất nổi tiếng như võ sư Phạm Gia Cô… Không chỉ đến chợ búa mà họ còn đi vào tận các làng, xã, đến đâu là họ biểu diễn võ thuật, văn nghệ để lôi cuốn đám đông và trực tiếp bán hàng cho dân chúng. Ai mua bao nhiêu cũng bán, cốt là để nguời tiêu dùng quen với mặt hàng của mình. Việc làm này còn có một ý nghĩa tích cực trong kinh doanh, là khi bạn hàng tận mắt thấy hàng bán chạy, thì họ đổ xô đến mua với giá sỉ để sau đó bán dần… Nhờ thế, tiếng tăm và xà bông Cô Ba ngày càng nhiều người biết đến.
Thuở sinh thời, ông Bền đặt tên “Công ty Trương Văn Bền và các con” cũng không ngoài mục đích mong muốn các con tiếp nối sự nghiệp, con đường mà mình đã vạch ra. Và ông toại nguyện với mong ước đó, bởi xà bông Cô Ba trải qua năm tháng đã có những tiến bộ, phát triển không ngừng. Thử đưa ra vài con số: năm 1966 với 400 công nhân sản xuất 200 tấn/tháng; năm 1971 nhờ cải tiến kỹ thuật nên chỉ với 160 công nhân đã sản xuất 400 tấn/tháng. Theo số liệu công bố trên Nguyệt san Quản trị xí nghiệp số 2 (tháng 8/1971) ở thởi điểm này vốn đầu tư lên đến 90 triệu đồng; sản xuất hàng năm 4.000 tấn xà bông giặt, 1.800 tấn xà bông thơm. Và nay (2007) theo số liệu công bố trên trang web Thương hiệu Việt Nam thì năng lực sản xuất hiện có là 7.500 tấn/năm, trong đó xà bông thơm: 5.000tấn/ năm; các chất tẩy rửa khác: 2.500tấn/năm.
Tại sao khi bắt tay vào việc lập Hãng Xà bông Việt Nam với mục tiêu phục vụ đại chúng, ông Trương Văn Bền lại đưa ra sản phẩm lấy tên “cô Ba”? Có hai lý do, lý do thứ nhất là do vợ của ông được mọi người quen gọi cô Ba; lý do thứ hai mới quan trọng hơn, mới là ý nguyện mà ông Bền bày tỏ một cách kín đáo về lòng tự hào dân tộc. Nhãn hiệu xà bông của ông có in hình phụ nữ búi tóc, tiêu biểu cho người con gái Nam bộ, người tiêu dùng quen gọi là cô Ba. Theo cụ Vương Hồng Sển: “Trong giới huê khôi, nghe nhắc lại, trước kia hồi Tây mới đến, có cô Ba con thầy Thông Chánh là đẹp không ai bì, không răng giả, không ngực keo cao su nhân tạo, tóc dài chấm gót, bới ba vòng một ngọn, mướt ướt và thơm phức dầu dừa mới thắng, đẹp vì không son phấn giả tạo, đẹp đến nỗi nhà nước in hình vào con tem Nhà Dây thép và một hiệu xà bông xin phép làm mẫu rao hàng xà bông Cô Ba”.
Cô Ba con gái thầy Thông Chánh – tên thật Nguyễn Văn Chánh, còn gọi Nguyễn Trung Chánh – là người dám cầm súng bắn chết tên biện lý Joboin, bị tòa đại hình Mỹ Tho kết án ngày 19/6/1893 và bị tử hình tại Trà Vinh. Theo bài vè Thầy Thông Chánh lưu hành tại Nam kỳ đầu thế XX, thầy hành động như thế vì tay biện lý Joboin đã ve vãn vợ con mình. Dù đã nhún mình, tránh né nhiều lần, nhưng cũng không thoát khỏi móng vuốt của con quỷ râu xanh, thế là thầy đã hành động. Để rồi:
Tây đem thầy Chánh một hồi khảo tra
– Sao mày dám bắn Lang Sa Mày bắn biện lý thiệt mày to gan
Thầy thông nổi giận chưởi ngang:
– Chết tao tao chịu sao mà hỏi ra
Chúa sanh tao đấng người ta
Quân bây ăn cướp con nhà nước Nam
Hành động phản kháng của thầy được nhân dân khen ngợi:
Thương thầy Thông Chánh hùng anh
Ngày sau hậu thế lưu danh muôn đời
Nhưng chuyện thầy Thông Chánh đâu “ăn nhập” gì với cô Ba, để đến nỗi mà ông Trương văn Bền lấy tên đặt cho sản phẩm của mình? Đành rằng cô Ba – thường gọi cô Ba Thiệu – thuộc hạng “sắc nước hương trời” cũng vẫn chưa đủ. Yếu tố để ông Bền mạnh dạn lấy tên cô Ba, vì khi thực dân đưa thầy Thông Chánh ra tòa kết án, mắng nhiếc không tiếc lời, vì thương cha:
Cô Ba cầm súng nhẩy vào
-Hỏi thằng Ngươn soái nhiếc rày dòng ai?
Cha ta sanh tử chẳng nài
Chớ đâu phải kiếp một loài như bây
Cao nguyền trời rộng đất dày
Chết ta, ta chịu mình này cũng ưng
Lập tức bọn mã-tà, phu-lít ùa vào bắt cô Ba, nhưng không ngờ:
Cô Ba bèn đá té nhào sãy tay
-Ta không thù oán chi bây
Để ta đánh với người Tây mới tài!
Hành động “nữ nhi anh hùng” của cô Ba ít nhiều có ý nghĩa tích cực khơi dậy trong quần chúng tinh thần bất khuất của dân tộc. Vì thế, ông Trương Văn Bền chọn làm tên cho sản phẩm của mình là đánh trúng vào tâm lý của những người thấp cổ bé miệng. Nếu ông Bạch Thái Bưởi lấy tên các anh hùng dân tộc đặt cho thuyền bè của mình, thì việc ông Trương Văn Bền lấy tên Cô Ba cũng có chung một ý nghĩa. Đó là ý nghĩa vận dụng tinh thần và hành động phản kháng nhằm khai thác tinh thần tự tôn dân tộc. Trên thương trường những năm đầu giữa thế kỷ XX thì nó cũng như một vũ khí sắc bén để chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Nói cách khác, trong lúc cuộc tranh thương trường khốc liệt đó, doanh nhân Việt Nam đã biết tìm điểm tựa từ lực lượng quần chúng có ý thức dân tộc. Ý thức ấy có được là do họ chủ động tìm mọi cách để khơi dậy và kêu gọi lực lượng ấy ủng hộ việc làm của mình – mà cách đặt tên Cô Ba là một thí dụ.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 2 – Những người Việt Nam đi tiên phong, Nxb Trẻ.