Niên đại: Khoảng giữa thế kỷ XVIII
Chất liệu: Vàng, bạc, đá quý, pha lê và các vật liệu khảm trang trí.
Kích thước: Gồm 16 hiện vật, với kích thước và trọng lượng được công bố như sau: bác sơn dài 18,5 cm, nặng 42 g; 12 trâm hoa dài từ 9,4 – 12 cm; trâm phượng dài 14,25 cm, nặng 15 g; hai vòng tay có đường kính lần lượt 6,18 cm và 6,41 cm, trọng lượng tương ứng 20,17 g và 20,36 g.
Loại hình: Trang sức cung đình
Nơi phát hiện: Bộ hiện vật được giới thiệu qua tư liệu sưu tập của nhà nghiên cứu, sưu tầm cổ vật Vũ Kim Lộc tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Đơn vị lưu giữ: Bộ sưu tập của Vũ Kim Lộc
Giới thiệu hiện vật
Hiện vật là bộ trang sức bằng vàng, bạc và đá quý được các nhà nghiên cứu xác định có khả năng thuộc về một vương phi dưới thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, vị chúa Nguyễn thứ tám cai trị Đàng Trong từ năm 1738 đến năm 1765. Bộ trang sức gồm 16 hiện vật, bao gồm một chiếc bác sơn trang trí mũ, 12 chiếc trâm hoa, một chiếc trâm phượng và hai chiếc vòng tay, được chế tác với kỹ thuật kim hoàn tinh xảo. Đây là nhóm cổ vật quý kim đặc sắc, phản ánh trình độ phát triển của nghề chế tác vàng bạc và văn hóa trang sức của tầng lớp vương thất Đàng Trong thế kỷ XVIII. Theo công bố của TS. Trần Đức Anh Sơn, bộ hiện vật từng thuộc sưu tập của Vũ Kim Lộc, người có nhiều năm nghiên cứu và sưu tầm đồ kim hoàn cổ. Trên cơ sở đối chiếu kiểu thức trang trí, hình tượng chim phượng và những tư liệu mỹ thuật cùng thời, hai nhà nghiên cứu nhận định đây có khả năng là bộ trang sức dành cho một vương phi thời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Tuy nhiên, danh tính chủ nhân cụ thể vẫn chưa được xác định qua các chứng cứ lịch sử trực tiếp.
Về cấu tạo và đặc điểm tạo hình, nổi bật trong bộ trang sức là chiếc bác sơn bằng vàng dùng để trang trí trên mũ đội đầu của tầng lớp vương thất. Hiện vật có dạng dải vàng mỏng, chiều dài 18,5 cm, được chạm lộng hoa văn tản vân và thủy ba, làm nền cho ba hình chim phượng cùng ba cụm hoa lá được gắn nổi trên bề mặt. Những hình tượng chim phượng được thể hiện với dáng vẻ thanh thoát, phần đầu, thân và cánh có nhiều chi tiết chạm khắc tinh tế. Đặc biệt, trên bác sơn còn xuất hiện một hàng lỗ nhỏ, được xác định là vị trí từng gắn đá quý hoặc trân châu, hiện phần lớn đã thất lạc. Theo nhận định của Trần Đức Anh Sơn, bố cục trang trí ban đầu có thể gồm bốn cụm hoa lá, nhưng một cụm ở phía ngoài cùng đã bị mất. Sự xuất hiện của hình tượng phượng trên bác sơn là căn cứ quan trọng để các nhà nghiên cứu liên hệ hiện vật với trang sức mũ của hoàng hậu hoặc vương phi trong xã hội quân chủ.
Bên cạnh bác sơn là bộ 12 chiếc trâm hoa có chiều dài từ 9,4 đến 12 cm, được chế tác bằng vàng kết hợp với chuôi bạc và những viên đá quý màu xanh ngọc bích. Phần đầu trâm được tạo hình thành các cụm hoa lá với đường nét mềm mại, thể hiện bốn loại hoa khác nhau, trong đó hai loài được nhận diện là hoa mai và hoa cúc. Trên một số chiếc trâm còn xuất hiện hình tượng chuồn chuồn kết hợp với những cánh hoa, tạo nên bố cục trang trí sinh động. Những cánh hoa được chế tác mỏng, các đường gân và mép cánh được thể hiện tỉ mỉ, trong khi phần cuống được tạo hình thon dài để thuận tiện cài lên tóc. Sự kết hợp giữa sắc vàng của kim loại, màu xanh của đá quý và những hình tượng hoa lá cho thấy xu hướng thẩm mỹ chú trọng vẻ thanh nhã, tinh tế trong nghệ thuật trang sức của tầng lớp quý tộc Đàng Trong thế kỷ XVIII.
Đặc biệt, chiếc trâm phượng bằng vàng là một trong những hiện vật có kỹ thuật chế tác cầu kỳ nhất của bộ sưu tập. Trâm dài 14,25 cm, nặng 15 g, phần đầu thể hiện hình tượng chim phượng có mỏ quặp, đôi mắt dài, những dải lông và bờm được chạm khắc sắc nét. Thân và đuôi chim phượng kéo dài thành hai nhánh hơi cong xuống, đồng thời tạo nên phần chuôi trâm. Đáng chú ý, mỏ chim phượng ngậm một chiếc lồng đèn nhỏ được chế tác bằng vàng, phía trên có tán che, phía dưới treo kim khánh cùng những chùm hoa văn trang trí. Chiếc lồng đèn có cấu trúc hình cầu với những đường hoa văn chạm thủng liên hoàn, tạo cảm giác nhẹ và thanh thoát dù được làm từ kim loại quý. Những chi tiết nhỏ như vòng treo, móc nối và các dải trang sức buông rủ thể hiện khả năng gia công vàng ở trình độ cao, đồng thời góp phần tạo nên hiệu quả chuyển động cho toàn bộ hình tượng chim phượng.
Hai hiện vật còn lại là cặp vòng tay bằng vàng, có đường kính lần lượt 6,18 cm và 6,41 cm, trọng lượng tương ứng 20,17 g và 20,36 g. Thân vòng được đúc rỗng, bề mặt ngoài trang trí những cánh hoa nối tiếp nhau theo bố cục liên hoàn. Trên mỗi vòng có 16 lỗ tròn, vốn là vị trí gắn các viên đá quý nhằm tăng hiệu quả trang trí. Đặc biệt, phần khóa vòng được chạm hình tượng hai con rồng chầu một hạt châu hoặc viên đá quý ở trung tâm, tuy nhiên bộ phận trang trí chính giữa hiện đã thất lạc. Hệ thống hoa văn được tổ chức cân xứng, kết hợp những đường chạm nổi cùng cấu trúc vòng tròn khép kín, tạo nên vẻ trang trọng nhưng vẫn phù hợp với chức năng trang sức trên cơ thể. Theo tư liệu giới thiệu, trên vòng còn ghi nhận một hạt pha lê được gia công với kỹ thuật mài khá tinh xảo.
Về kỹ thuật, bộ trang sức thể hiện sự kết hợp của nhiều phương pháp kim hoàn truyền thống như cán vàng thành lá mỏng, chạm lộng, chạm nổi, đúc rỗng, uốn tạo hình và đính khảm đá quý. Những hoa văn phượng, rồng, hoa mai, hoa cúc và chuồn chuồn được thể hiện bằng các đường nét có độ tinh xảo cao, cho thấy nghệ nhân không chỉ thành thạo xử lý vật liệu kim loại mà còn có khả năng tổ chức bố cục trang trí phức tạp trên diện tích nhỏ. Theo nhận định được giới thiệu trên tạp chí Heritage, việc chế tác chiếc lồng đèn bằng vàng lá mỏng cùng kỹ thuật mài pha lê trên vòng tay còn gợi mở khả năng tiếp nhận một số kỹ thuật kim hoàn từ bên ngoài, đặc biệt trong bối cảnh giao thương giữa Đàng Trong với các thương nhân châu Âu phát triển mạnh. Tuy nhiên, nguồn gốc cụ thể của từng kỹ thuật vẫn cần tiếp tục nghiên cứu đối chiếu với hiện vật và tư liệu đương thời.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Là nguồn tư liệu vật chất quý hiếm phản ánh trình độ phát triển của nghề kim hoàn và văn hóa trang sức cung đình dưới thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong thế kỷ XVIII. Bộ hiện vật góp phần cung cấp cứ liệu trực quan để nghiên cứu hoạt động chế tác vàng bạc, sự phát triển của các cơ quan thủ công thuộc phủ chúa và nhu cầu sử dụng đồ trang sức quý kim trong tầng lớp vương thất. Theo Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn, chính quyền chúa Nguyễn đã có những chính sách khuyến khích khai thác vàng và tổ chức các cơ quan chuyên trách thu nhận, tinh luyện, chế tác vàng bạc phục vụ nội cung. Những ghi chép này, khi được đối chiếu với bộ trang sức, góp phần làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hoạt động khai thác tài nguyên, tổ chức sản xuất thủ công và đời sống vật chất của giới quý tộc. Đặc biệt, việc bộ hiện vật được các nhà nghiên cứu liên hệ với thời chúa Nguyễn Phúc Khoát còn cung cấp cơ sở để tìm hiểu quá trình phát triển của văn hóa cung đình Đàng Trong trước khi vương triều Nguyễn được thành lập năm 1802.
Giá trị văn hóa: Thể hiện quan niệm thẩm mỹ, địa vị xã hội và văn hóa trang sức của phụ nữ thuộc tầng lớp vương thất trong xã hội Đàng Trong thời chúa Nguyễn. Những hình tượng chim phượng, rồng, hoa mai, hoa cúc và các loại đá quý không chỉ mang chức năng trang trí mà còn gắn với hệ thống biểu tượng về quyền quý, sự cao sang, phú quý và vẻ đẹp thanh nhã. Đặc biệt, hình tượng chim phượng xuất hiện trên bác sơn và trâm cài tóc có ý nghĩa nổi bật trong văn hóa cung đình phương Đông, thường được liên hệ với hình tượng hoàng hậu và những phụ nữ có địa vị cao trong hoàng tộc. Sự kết hợp giữa các vật trang sức đội đầu, trâm cài tóc và vòng tay còn phản ánh tính đồng bộ trong nghệ thuật trang sức, nơi những hiện vật riêng lẻ cùng góp phần tạo nên diện mạo và phong thái của người sử dụng. Bộ trang sức vì vậy là nguồn tư liệu có giá trị để nghiên cứu văn hóa phục sức, quan niệm về cái đẹp và đời sống vật chất của phụ nữ quý tộc Việt Nam thế kỷ XVIII.
Giá trị nghệ thuật: Tiêu biểu cho nghệ thuật kim hoàn truyền thống Việt Nam, đặc biệt ở sự kết hợp giữa kỹ thuật chế tác tinh xảo và hệ thống đồ án trang trí giàu tính biểu tượng. Các phương pháp chạm lộng, chạm nổi, cán vàng mỏng, đúc rỗng và đính khảm đá quý được vận dụng linh hoạt nhằm tạo nên những hiện vật có cấu trúc phức tạp nhưng vẫn giữ được sự thanh thoát trong hình thể. Nổi bật nhất là chiếc trâm phượng với hình tượng chim phượng ngậm lồng đèn bằng vàng, trong đó những chi tiết như tán che, kim khánh, vòng treo và các dải hoa văn được chế tác tỉ mỉ. Bên cạnh đó, các trâm hoa với mô típ hoa mai, hoa cúc và chuồn chuồn thể hiện khả năng quan sát, cách điệu hình tượng tự nhiên của nghệ nhân. Nghệ thuật tạo hình lưỡng long trên khóa vòng tay và các hoa văn cánh hoa liên hoàn cũng góp phần khẳng định trình độ tổ chức bố cục, xử lý chất liệu và khả năng kết hợp giữa tính thẩm mỹ với công năng sử dụng trong nghề kim hoàn Đàng Trong.
Giá trị độc đáo: Là một trong những bộ trang sức quý kim thời chúa Nguyễn được nghiên cứu và công bố với số lượng thành phần tương đối đầy đủ, bao gồm bác sơn, trâm phượng, trâm hoa và vòng tay. Điểm đặc sắc của bộ hiện vật nằm ở sự đa dạng về loại hình, kỹ thuật chế tác và hệ thống đồ án trang trí, trong đó những hình tượng chim phượng, rồng, hoa lá và chuồn chuồn được thể hiện trên các cấu kiện vàng có kích thước nhỏ nhưng độ tinh xảo cao. Đặc biệt, chiếc trâm phượng với cấu trúc lồng đèn treo và chiếc bác sơn trang trí nhiều hình phượng là những hiện vật có giá trị nghiên cứu nổi bật về kỹ thuật kim hoàn và trang sức mũ của tầng lớp vương thất. Việc đối chiếu các đồ án trang trí trên bộ trang sức với hình tượng chim phượng trên Đại hồng chung chùa Thiên Mụ đúc năm 1715, bia mộ Nguyễn Chiêu phi ở Quảng Trị và bia mộ Chiêu Nghi Trần Thị Xạ tại Huế còn mở ra hướng nghiên cứu về sự thống nhất và biến đổi của ngôn ngữ trang trí cung đình dưới thời chúa Nguyễn. Đây là nguồn tư liệu quan trọng đối với việc bảo tồn, phục dựng trang sức truyền thống, nghiên cứu lịch sử mỹ thuật và tìm hiểu quá trình giao lưu kỹ thuật chế tác quý kim giữa Đàng Trong với các khu vực khác trong thế kỷ XVIII.
Nguồn ảnh: Sưu tầm