Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn

Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn

Thông tin cơ bản

Tên di sản: Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn (Lễ hội Quán Âm)
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Chùa Quán Thế Âm, động Quan Âm thuộc núi Kim Sơn, quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn và khu vực sông Cổ Cò, thành phố Đà Nẵng.
Thời gian tổ chức: Từ ngày 17 đến ngày 19 tháng Hai âm lịch hằng năm, chính lễ vào ngày 19 tháng Hai.
Đối tượng tôn thờ: Bồ Tát Quán Thế Âm.
Cộng đồng thực hành: Tăng ni, Phật tử, nhân dân địa phương và khách thập phương.
Nghi lễ và hoạt động đặc trưng: Lễ khai kinh, thượng phan – thượng kỳ, rước ánh sáng, pháp đàn, lễ vía Quán Thế Âm, rước tôn tượng, hóa trang Bồ Tát Quán Thế Âm, thả hoa đăng và các nghi lễ dân gian truyền thống.
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 601/QĐ-BVHTTDL ngày 03/02/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn là lễ hội văn hóa, tín ngưỡng Phật giáo tiêu biểu của thành phố Đà Nẵng, được tổ chức hằng năm tại chùa Quán Thế Âm dưới chân núi Kim Sơn. Lễ hội gắn với ngày vía Đản sinh Bồ Tát Quán Thế Âm, thể hiện sự tôn kính đối với hạnh nguyện từ bi, cứu khổ cứu nạn của Ngài. Trải qua nhiều thập kỷ, lễ hội đã trở thành nơi hội tụ của tăng ni, Phật tử và nhân dân, kết hợp các nghi lễ Phật giáo với phong tục dân gian, nghệ thuật truyền thống và sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Đây cũng là một trong những lễ hội đặc sắc gắn với quần thể Di tích quốc gia đặc biệt Danh thắng Ngũ Hành Sơn.

Nguồn gốc và lịch sử lễ hội

Sự hình thành Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn gắn với Hòa thượng Thích Pháp Nhãn, người khai sơn chùa Quán Thế Âm. Theo tư liệu về lễ hội, trong quá trình tu hành tại núi Kim Sơn, Hòa thượng phát hiện một khối thạch nhũ thiên nhiên có hình dáng Bồ Tát Quán Thế Âm, tay cầm bình Cam Lồ, cao gần bằng người thật. Ngài đặt tên nơi phát hiện là động Quan Âm, đồng thời cho xây dựng ngôi chùa tựa lưng vào núi Kim Sơn, lấy tên là chùa Quán Thế Âm. Từ đó, vào những ngày vía Quán Thế Âm, đông đảo Phật tử và nhân dân tìm về chùa lễ bái. Để đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, các vị chức sắc Phật giáo tại Ngũ Hành Sơn thống nhất chọn ngày 19 tháng Hai âm lịch hằng năm làm ngày tổ chức lễ vía tập trung tại chùa Quán Thế Âm. Ngày 19/2/1956 âm lịch, nhân dịp khánh thành chùa Quán Thế Âm, Hòa thượng Thích Pháp Nhãn thành lập Hội phổ Quan Âm và tổ chức Ngày hội Quan Âm với sự tham gia của đông đảo tăng ni, Phật tử và nhân dân. Sự kiện này được xem là dấu mốc khởi đầu của Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn ngày nay. Trong thời gian chiến tranh, lễ hội chủ yếu được duy trì trong phạm vi chùa với các nghi thức Phật giáo. Từ năm 1991, lễ hội được tổ chức với quy mô lớn hơn, kéo dài ba ngày từ 17 đến 19 tháng Hai âm lịch, trở thành sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng thường niên của thành phố Đà Nẵng.

Các nghi lễ truyền thống

Lễ khai kinh, thượng phan – thượng kỳ

Lễ khai kinh, thượng phan – thượng kỳ được tổ chức vào ngày 17 tháng Hai âm lịch, mở đầu các hoạt động chính của lễ hội. Nghi thức do chư tăng chủ trì, dâng lời cầu nguyện lên chư Phật, chư Bồ Tát và các vị hộ pháp, cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa và chúng sinh an lạc.

Lễ rước ánh sáng

Lễ rước ánh sáng, còn gọi là lễ rước đuốc, được tổ chức vào tối ngày 18 tháng Hai. Đoàn rước gồm chư tăng, Phật tử, các đạo tràng và nhân dân, với kiệu rước, hoa, nhạc lễ, múa lân, sư tử, rồng và các hình thức hóa trang. Tùy quy mô tổ chức, đoàn rước di chuyển qua các tuyến đường quanh khu vực chùa và đến bờ sông Cổ Cò để thực hiện nghi thức thả hoa đăng. Ánh sáng trong nghi lễ tượng trưng cho trí tuệ và lòng từ bi, gửi gắm mong ước soi đường cho con người hướng thiện, sống nhân ái và làm nhiều việc tốt.

Pháp đàn và thuyết giảng đạo pháp

Trong suốt ba ngày lễ hội, chùa Quán Thế Âm tổ chức các pháp đàn, buổi thuyết giảng giáo lý và khóa tu tập dành cho tăng ni, Phật tử cùng khách thập phương. Nội dung thuyết giảng tập trung vào hạnh nguyện từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm, giáo lý Phật giáo và việc vận dụng lời Phật dạy trong đời sống. Các hoạt động tụng kinh, trì chú, niệm Phật góp phần tạo nên không gian tu học, hướng con người đến lòng nhân ái, sự bình an và tinh thần sẻ chia.

Chính lễ vía Bồ Tát Quán Thế Âm

Lễ vía Bồ Tát Quán Thế Âm vào ngày 19 tháng Hai âm lịch là nghi lễ trung tâm của lễ hội. Buổi lễ được tổ chức trang nghiêm với sự tham gia của các vị giáo phẩm, tăng ni, Phật tử và đông đảo nhân dân. Trong chính lễ, chư tăng thực hiện nghi thức niệm hương, dâng hương, tụng kinh tưởng niệm công đức và hạnh nguyện của Bồ Tát Quán Thế Âm. Nghi lễ thể hiện lòng tôn kính đối với Ngài, đồng thời cầu nguyện cho đất nước thanh bình, nhân dân an lạc và mọi người biết sống từ bi, hướng thiện.

Lễ rước tôn tượng và hóa trang Bồ Tát Quán Thế Âm

Sau chính lễ, nghi thức rước tôn tượng Bồ Tát Quán Thế Âm được tổ chức từ động Quan Âm tại núi Kim Sơn về chùa Quán Thế Âm. Theo diễn trình truyền thống, sau các nghi thức tại chùa, kiệu rước tiếp tục được đưa xuống thuyền, di chuyển trên sông Cổ Cò để cầu nguyện cho cư dân làm ăn trên sông nước, biển cả được bình an, thuận lợi. Điểm đặc sắc của lễ hội là nghi thức hóa trang tái hiện hình tượng Bồ Tát Quán Thế Âm. Mỗi năm, nhà chùa lựa chọn một trong những hình tướng ứng hóa của Ngài, như Thiên Thủ Thiên Nhãn, Bạch Y Quan Âm, Quán Âm Nam Hải hoặc Quán Âm Tống Tử. Người được lựa chọn hóa thân thường là nữ Phật tử có phẩm hạnh tốt, được hướng dẫn về hạnh nguyện Quán Thế Âm, tập luyện tư thế, cử chỉ và thực hành ăn chay trước khi tham gia nghi lễ. Đoàn hóa trang còn có các nhân vật Thiện Tài Đồng Tử, tiên nữ, các vị Bồ Tát và Tứ Thiên Vương. Nghi thức nhằm tái hiện hình tượng từ bi, cứu khổ của Bồ Tát Quán Thế Âm, giúp người tham dự cảm nhận sâu sắc hơn ý nghĩa tín ngưỡng của lễ hội.

Lễ tạ pháp đàn hoa đăng

Tối ngày 19 tháng Hai, lễ tạ pháp đàn hoa đăng được tổ chức để khép lại các nghi lễ Phật giáo chính. Sau phần tụng kinh, cầu nguyện và cúng tạ, những ngọn nến đặt trong hoa sen được thả xuống dòng sông. Nghi thức thả hoa đăng mang ý nghĩa cầu nguyện cho ánh sáng trí tuệ và lòng từ bi được lan tỏa, đồng thời gửi gắm ước vọng về cuộc sống bình an, hạnh phúc.

Nghi lễ dân gian và hoạt động văn hóa

Bên cạnh các nghi lễ Phật giáo, Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn còn duy trì những nghi thức truyền thống của cộng đồng địa phương. Tiêu biểu là lễ tế Xuân, lễ dâng hương tưởng niệm Huyền Trân công chúa và lễ tế Thạch Nghệ Tổ Sư của nghề điêu khắc đá Non Nước. Lễ dâng hương Huyền Trân công chúa thể hiện lòng tri ân đối với nhân vật lịch sử gắn với quá trình mở mang lãnh thổ về phương Nam. Lễ tế Thạch Nghệ Tổ Sư được tổ chức tại nhà thờ tổ nghề đá dưới chân núi Mộc Sơn, nhằm tưởng nhớ những bậc tiền nhân có công truyền nghề, phát triển nghề điêu khắc đá truyền thống tại Non Nước. Phần hội diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật như hô hát bài chòi, hò khoan đối đáp, dân ca, hát tuồng, trình diễn thư pháp, triển lãm tranh ảnh và các chương trình biểu diễn nghệ thuật. Các trò chơi dân gian, múa lân, sư tử, rồng, kéo co, đẩy gậy, cờ tướng và đua thuyền góp phần tạo nên không khí lễ hội sôi nổi, thu hút đông đảo người dân và du khách. Sự kết hợp giữa nghi lễ Phật giáo, tín ngưỡng dân gian và các hoạt động nghệ thuật truyền thống tạo nên nét đặc trưng của Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn, phản ánh đời sống văn hóa phong phú của cộng đồng cư dân Đà Nẵng.

Giá trị tiêu biểu

Giá trị lịch sử: Lễ hội gắn với quá trình hình thành chùa Quán Thế Âm tại núi Kim Sơn và sự phát triển của sinh hoạt Phật giáo ở Ngũ Hành Sơn từ giữa thế kỷ XX. Các nghi lễ tưởng niệm Huyền Trân công chúa và Tổ sư nghề đá Non Nước còn góp phần lưu giữ ký ức về lịch sử vùng đất và truyền thống nghề nghiệp của cộng đồng.
Giá trị tín ngưỡng: Lễ hội tôn vinh hạnh nguyện từ bi, cứu khổ cứu nạn của Bồ Tát Quán Thế Âm. Các nghi thức lễ vía, rước tôn tượng, pháp đàn, rước ánh sáng và thả hoa đăng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tâm linh, đồng thời hướng con người đến lòng nhân ái, sự sẻ chia và lối sống hướng thiện.
Giá trị văn hóa Phật giáo: Lễ hội bảo lưu nhiều nghi thức Phật giáo truyền thống, kết hợp với hoạt động thuyết giảng giáo lý và tu tập. Đặc biệt, nghi thức hóa trang Bồ Tát Quán Thế Âm góp phần truyền tải hình tượng, hạnh nguyện của Ngài thông qua hình thức thực hành tín ngưỡng mang tính biểu tượng.
Giá trị văn hóa dân gian: Các hoạt động hô hát bài chòi, hò khoan, hát tuồng, múa lân, thư pháp và trò chơi dân gian phản ánh sự kết hợp giữa văn hóa Phật giáo với những hình thức sinh hoạt truyền thống của người Việt. Các nghi lễ dân gian được duy trì trong lễ hội góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa địa phương.
Giá trị cộng đồng: Lễ hội là dịp hội tụ của tăng ni, Phật tử, nhân dân và khách thập phương, tạo không gian giao lưu văn hóa, tín ngưỡng rộng lớn. Việc cùng tham gia nghi lễ, hoạt động tu tập và sinh hoạt văn hóa góp phần củng cố tinh thần đoàn kết, sự gắn bó và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng.
Giá trị giáo dục: Thông qua các nghi lễ và hoạt động thuyết giảng, lễ hội góp phần lan tỏa những giá trị từ bi, trí tuệ, lòng nhân ái và tinh thần hướng thiện. Các nghi lễ tưởng niệm tiền nhân và hoạt động văn hóa truyền thống còn giáo dục đạo lý uống nước nhớ nguồn, ý thức gìn giữ di sản và tình yêu quê hương.

Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn là một sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng tiêu biểu của thành phố Đà Nẵng, nổi bật bởi sự kết hợp giữa nghi lễ Phật giáo và những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc. Trong không gian chùa Quán Thế Âm và quần thể danh thắng Ngũ Hành Sơn, các nghi thức lễ vía, rước tôn tượng, hóa trang Bồ Tát Quán Thế Âm, rước ánh sáng và thả hoa đăng được tổ chức cùng những hoạt động văn hóa dân gian phong phú. Lễ hội không chỉ tôn vinh hạnh nguyện từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm mà còn góp phần gắn kết cộng đồng, bảo tồn các phong tục và nghệ thuật truyền thống. Với những giá trị văn hóa, tín ngưỡng tiêu biểu, Lễ hội Quán Thế Âm Ngũ Hành Sơn được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 601/QĐ-BVHTTDL ngày 03/02/2021.

Nguồn ảnh: Sưu tầm

Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Lễ hội Quán Thế Âm

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)