Tên di sản: Lễ hội Kỳ yên đình Tân An
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Đình Tân An (còn gọi là đình Bến Thế), nằm bên sông Sài Gòn, thuộc khu phố 1, phường Tân An, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương (nay là phường Phú An, thành phố Hồ Chí Minh)
Thời gian tổ chức: Tháng Mười Một âm lịch hằng năm. Các năm Tý, Mão, Ngọ, Dậu tổ chức đại lễ trong ba ngày, từ ngày 14 đến ngày 16 tháng Mười Một; các năm còn lại tổ chức lễ thường niên trong một ngày.
Đối tượng thờ phụng: Quận công Nguyễn Văn Thành; các bậc Tiền Hiền, Hậu Hiền và những người có công với quê hương, đất nước.
Cộng đồng thực hành: Nhân dân địa phương, Ban quý tế đình Tân An, đội Học trò lễ và các lực lượng tham gia nghi lễ, biểu diễn hát Bội.
Nghi lễ và hoạt động đặc trưng: Thỉnh sắc, Cúng an vị, Thỉnh sanh, Túc yết, Xây chầu, Đại bội, tế Hậu bối – Chiến sĩ, Đàn cả, Tôn vương, Đưa sắc và biểu diễn hát Bội.
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 60/QĐ-BVHTTDL ngày 12/01/2022 của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Lễ hội Kỳ yên đình Tân An là sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng truyền thống của cư dân vùng Tân An, gắn với quá trình khai hoang, lập làng và hình thành các cộng đồng dân cư ven sông Sài Gòn từ đầu thế kỷ XIX. Lễ hội được tổ chức hằng năm tại đình Tân An nhằm tưởng nhớ Quận công Nguyễn Văn Thành, tri ân các bậc tiền nhân có công khai phá, xây dựng xóm làng và cầu mong quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Nét đặc sắc của lễ hội là hệ thống nghi thức cúng đình Nam Bộ được bảo lưu tương đối đầy đủ, kết hợp với nghệ thuật hát Bội mang tính nghi lễ. Trong các năm tổ chức đại lễ, những nghi thức như Thỉnh sắc, Thỉnh sanh, Túc yết, Xây chầu, Đại bội, Đàn cả và Tôn vương được thực hiện theo trình tự truyền thống, thể hiện sự gắn bó giữa tín ngưỡng thờ thần, nghệ thuật trình diễn và đời sống cộng đồng.
Nguồn gốc và lịch sử lễ hội
Đình Tân An, còn gọi là đình Bến Thế, nằm bên sông Sài Gòn, được hình thành cùng quá trình khai hoang, mở đất và lập làng của lưu dân người Việt tại vùng đất này vào đầu thế kỷ XIX. Ban đầu, nơi đây là một ngôi miếu mang tên Tương An miếu, phục vụ nhu cầu thờ tự của bốn xã thuộc huyện Bình An xưa, gồm Tương Hiệp, Tương An, Tương Hòa và Cầu Định. Trong quá trình phát triển của các cộng đồng dân cư, một số xã lần lượt xây dựng đình thần riêng. Tương An miếu từ đó trở thành nơi thờ tự riêng của xã Tương An, về sau là đình Tân An. Sự hình thành và phát triển của ngôi đình phản ánh quá trình ổn định đời sống của cư dân trên vùng đất mới, từ một cơ sở thờ tự chung của nhiều xã dần trở thành trung tâm tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của cộng đồng địa phương.
Đình Tân An thờ Quận công Nguyễn Văn Thành. Bên cạnh việc thờ thần, không gian đình còn có các bàn thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền và những người có công với quê hương, đất nước. Giống như nhiều đình làng ở Nam Bộ, đình Tân An duy trì lễ Kỳ yên nhằm cầu mong sự bình an, thịnh vượng cho cộng đồng. Đây cũng là dịp để người dân tưởng nhớ các bậc tiền nhân đã có công khai phá đất đai, lập nên xóm làng và góp phần bảo vệ, xây dựng quê hương. Trong quan niệm truyền thống, lễ Kỳ yên mang ý nghĩa tạ ơn thần linh đã phù hộ cho dân làng trong năm qua, đồng thời cầu mong thời tiết thuận hòa, đất đai màu mỡ, mùa màng bội thu và đời sống nhân dân no đủ.
Lễ hội Kỳ yên đình Tân An được tổ chức vào tháng Mười Một âm lịch hằng năm, với quy mô khác nhau tùy theo từng năm. Vào các năm Sửu, Dần, Thìn, Tỵ, Mùi, Thân, Tuất và Hợi, đình tổ chức lễ thường niên trong một ngày, với các nghi thức chính gồm Thỉnh sắc, Cúng thần an vị, tế Hậu bối – Chiến sĩ và Đưa sắc. Cứ ba năm đáo lệ, vào các năm Tý, Mão, Ngọ và Dậu, đình tổ chức đại lễ trong ba ngày, từ ngày 14 đến ngày 16 tháng Mười Một âm lịch. Trong những năm này, ngoài các nghi thức thường niên còn có Thỉnh sanh, Túc yết, Xây chầu, Đại bội, Đàn cả, Tôn vương và các suất biểu diễn hát Bội. Sự phân chia giữa lễ thường niên và đại lễ giúp cộng đồng duy trì hoạt động thờ cúng hằng năm, đồng thời bảo lưu những nghi thức có quy mô lớn và đòi hỏi sự tham gia của nhiều lực lượng thực hành.
Diễn trình đại lễ Kỳ yên đình Tân An
Ngày 14 tháng Mười Một: Thỉnh sắc, nghinh thần và các nghi lễ mở đầu
Lễ Thỉnh sắc là nghi thức mở đầu đại lễ Kỳ yên, do Ban quý tế đình Tân An thực hiện. Theo lệ truyền thống, sắc phong của đình được cất giữ tại nhà cổ ông Nguyễn Tri Quan, thuộc dòng dõi Tiền Hiền. Khi đến kỳ lễ hội, Ban quý tế tổ chức đoàn rước sắc phong từ nơi lưu giữ về đình để an vị và tiến hành các nghi thức cúng tế. Trong lễ rước, Ban quý tế cùng đội Học trò lễ thực hiện các nghi thức dâng hương, dâng rượu trang nghiêm. Trước khi về đình, sắc phong được rước đi một vòng quanh khu dân cư, với ý nghĩa để thần chứng kiến đời sống của dân làng. Khi đoàn rước sắc đến đình, ba hồi mõ, trống và chiêng được nổi lên, đồng thời các ngọn đèn trong đình được thắp sáng để nghinh đón thần. Nghi thức này đánh dấu việc cung thỉnh sắc phong về nơi thờ tự, mở đầu các hoạt động tế lễ trong kỳ hội.
Lễ Cúng an vị
Sau lễ Thỉnh sắc, Ban quý tế thực hiện nghi thức Cúng an vị tại bàn thờ thần trong chánh điện. Lễ vật chính là một con heo đã được làm sạch, để nguyên con và đặt trên ván son trước bàn thờ thần. Tại các bàn thờ Tiền Hiền, Hậu Hiền, Tả Ban và Hữu Ban trong chánh tẩm, lễ vật gồm những phần thịt được phân chia theo lệ cúng. Các bàn thờ khác trong đình cũng được dâng những phần lễ vật tương ứng. Trong nghi thức, tám Học trò lễ chia thành hai hàng đứng hai bên chiếu tế, tay cầm nến và thực hiện nhiệm vụ theo dõi, phụ trợ các động tác hành lễ của Chánh tế và Bồi tế. Lễ Cúng an vị thể hiện việc cung kính an vị thần tại đình trước khi tiếp tục những nghi thức quan trọng của đại lễ.
Nghi thức Rước Tổ hát Bội vào đình
Sau lễ Cúng an vị là nghi thức Rước Tổ hát Bội vào đình, phản ánh mối quan hệ chặt chẽ giữa nghệ thuật hát Bội và tín ngưỡng thờ thần trong lễ Kỳ yên. Theo quan niệm truyền thống, hát Bội trong lễ cúng đình không chỉ là hoạt động biểu diễn phục vụ cộng đồng mà còn mang ý nghĩa dâng lễ lên thần. Vì vậy, trước khi đoàn hát vào đình và chuẩn bị biểu diễn, Ban quý tế phải thực hiện nghi thức xin phép thần. Đoàn hát Bội đặt bàn thờ Tổ bên ngoài đình. Chánh bái bưng khay lễ vật gồm trầu, rượu, nhang, đèn và tiền lễ đến bàn thờ Tổ, sau đó trao cho Trưởng đoàn hát Bội dâng lên. Trưởng đoàn thắp hương và trao lại cho Chánh bái cắm vào bát hương trên bàn thờ Tổ. Tiếp đó, Ban quý tế khiêng bàn thờ Tổ hát Bội vào đình. Sau khi nghi thức hoàn tất, đoàn hát mới đưa đạo cụ vào khu vực được bố trí, chuẩn bị sân khấu và ổn định nơi sinh hoạt trong những ngày biểu diễn.
Lễ Thỉnh sanh
Lễ Thỉnh sanh, còn gọi là Tỉnh sanh, được thực hiện vào buổi chiều ngày 14 tháng Mười Một, nhằm xin phép thần cho dân làng chuẩn bị vật tế sử dụng trong nghi lễ Túc yết. Vật tế là một con heo đực còn sống, có màu lông đồng nhất, khỏe mạnh, béo tốt và không có dị tật, được người dân địa phương gọi là con sanh. Trước khi hành lễ, heo tế được tắm rửa sạch sẽ, buộc bốn chân vào đòn khiêng và đặt tại khu vực sân đình. Ban quý tế chuẩn bị dao, ba tờ vàng bạc đại, hương, đèn, trà và rượu để thực hiện nghi thức. Đến giờ hành lễ, heo tế được khiêng đến trước hương án Hội đồng ngoại, đầu hướng vào chánh điện. Học trò lễ xướng lễ để Ban nghi lễ tiến hành các bước tế theo trình tự. Chánh tế kiểm tra lễ vật, hóa ba tờ vàng bạc đại và thực hiện động tác huơ trên cổ heo. Sau đó, Chánh tế dùng rượu rửa phần nọng và lấy dao miết một đường tượng trưng tại vị trí này. Kết thúc nghi thức, Tể giả đưa heo đi chuẩn bị vật tế, còn Chánh tế dâng trà lên bàn thờ thần. Trước đây, việc giết mổ heo tế được thực hiện tại sân đình. Hiện nay, heo được đưa đến lò mổ hoặc nhà Tể giả để thực hiện công đoạn này. Tuy nhiên, nghi thức lấy mao huyết vẫn được cộng đồng duy trì theo truyền thống.
Lễ Túc yết
Lễ Túc yết được tổ chức vào buổi tối ngày 14 tháng Mười Một, với ý nghĩa cung thỉnh thần về dự lễ, được thể hiện qua lời xướng nghinh Thần cúc cung bái. Lễ vật chính là con heo được chuẩn bị từ nghi thức Thỉnh sanh. Heo tế được đặt trên bàn thờ thần, trên lưng cắm một con dao, kèm sáu chung mao, huyết cùng hương, đèn, trà và hoa quả. Thành phần thực hiện lễ Túc yết gồm Chánh tế, Bồi tế, Đông hiến, Tây hiến, 16 Học trò lễ, sáu Đào thài thuộc đoàn hát Bội, các thị lập và những thành viên Ban quý tế phụ trách bàn hương. Trong quá trình hành lễ, các Đào thài đứng hoặc di chuyển phía sau đội Học trò lễ để hát những bài thài chúc tụng. Nội dung các bài hát gắn với việc dâng lễ vật, tạ ơn thần đã ban phước cho cộng đồng và cầu mong thần tiếp tục phù hộ cho dân làng. Các bài thài được sử dụng trong hệ thống nghi lễ gồm Tuần hương, Tuần sơ, Tuần á, Tuần chung, Tuần trà và Phần chúc. Riêng các phần Ẩm phước và Thọ tợ được thực hiện trong lễ Đàn cả. Sau lễ Túc yết, heo tế được đưa xuống khu vực bếp để phân chia và chế biến. Các phần lễ vật tiếp tục được dâng lên những bàn thờ trong đình theo lệ cúng. Tại bàn thờ thần, lễ vật gồm bộ thủ vĩ với đầu, đuôi, móng, lòng và thịt. Các bàn thờ khác được dâng những phần thịt, sườn và lòng đã luộc. Nước luộc heo được sử dụng để nấu cháo phục vụ người dân và những người tham gia công việc tại đình.
Lễ Xây chầu
Sau lễ Túc yết là nghi thức Xây chầu, một nghi lễ quan trọng mở đầu phần hát Bội dâng thần. Trống chầu được sơn màu đỏ, mặt trống vẽ hình tròn âm dương và che bằng vải đỏ. Trống được đặt theo hướng được coi là đại lợi, thường là hướng Đông. Người thực hiện nghi thức Xây chầu phải là bậc cao niên trong làng, có cuộc sống mẫu mực và gia đình con cháu đề huề. Lễ Xây chầu tại đình Tân An thuộc hình thức Xây chầu văn, gồm hai phần chính là Thỉnh chầu và Xây chầu. Nghi thức Thỉnh chầu được thực hiện trước hương án Hội đồng ngoại tại gian võ ca. Khi xướng quan hô lệnh, Chấp sự viên nhận roi chầu, tiến đến trống, tháo vải che mặt trống và dùng khăn sạch lau mặt trống. Tiếp đó, Chấp sự viên quấn khăn vào roi chầu và vẽ trên mặt trống những đường mang ý nghĩa biểu tượng, gọi là tứ tung ngũ hoành, gồm bốn đường dọc và năm đường ngang, tượng trưng cho thiên địa tạo hóa. Sau khi thực hiện các động tác trên mặt trống, Chấp sự viên lùi lại ba bước, viết xuống đất hai chữ sát quỷ, rồi tiến lên giẫm lên hai chữ này, mang ý nghĩa trấn áp ma quỷ. Nghi thức tiếp tục với các phần đọc Thơ phù, Phản nhất trịch và Kích tam thinh, xen kẽ những hồi trống theo trình tự truyền thống. Sau hồi trống cuối cùng, Chấp sự viên trao dùi trống lại cho người cầm chầu. Ba hồi trống tiếp theo được đánh lên để báo hiệu đoàn hát Bội bắt đầu nghi thức Đại bội. Từ mối liên hệ giữa hai nghi thức này, dân gian có câu: Đuôi xây chầu, đầu đại bội.
Lễ Đại bội
Lễ Đại bội do đoàn hát Bội đảm nhiệm, được thực hiện ngay sau nghi thức Xây chầu. Nếu Xây chầu mang ý nghĩa khai thông thái cực thì Đại bội trình diễn quá trình hình thành và vận động của vũ trụ theo quan niệm dịch lý truyền thống, từ Thái cực sinh Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh Tứ tượng, Tứ tượng sinh Bát quái và sự vận động của Ngũ hành tạo thành vạn vật. Nghi thức Đại bội tại đình Tân An gồm sáu phần: Khai thiên tịch địa, Xang nhật nguyệt, Tam tài, Tứ thiên vương, Đứng cái và Gia quan Tấn tước. Toàn bộ nghi thức diễn ra trong khoảng ba giờ, khép lại ngày đầu tiên của đại lễ Kỳ yên. Trong lễ Đại bội, các đào kép phải tuân thủ nghiêm ngặt những quy phạm trình diễn và thể hiện thái độ thành kính. Hoạt động biểu diễn được thực hiện dưới sự giám sát của người cầm chầu. Theo quan niệm dân gian, người cầm chầu đại diện cho thần và cộng đồng để đánh giá, khen chê người biểu diễn thông qua tiếng trống. Vì vậy, người đảm nhiệm vai trò này phải am hiểu nội dung tuồng, kỹ thuật biểu diễn và cách thức cầm chầu, đồng thời giữ thái độ công tâm.
Ngày 15 tháng Mười Một: Tế Hậu bối – Chiến sĩ và lễ Đàn cả
Lễ tế Hậu bối – Chiến sĩ
Sáng ngày 15 tháng Mười Một, Ban quý tế thực hiện nghi lễ tế Hậu bối và Chiến sĩ. Nghi thức tế Hậu bối được tổ chức tại ba hương án thờ Tiền vãng Viên Quan, Tiền vãng Hương chức và Tiền vãng dịch mục. Bên cạnh đó, lễ tế Chiến sĩ được thực hiện tại hương án thờ liệt sĩ và miếu thờ chiến sĩ, nhằm tưởng nhớ những người đã có công, hy sinh trong quá trình bảo vệ quê hương, đất nước. Các nghi thức này thể hiện truyền thống tri ân những người có công với cộng đồng, từ các bậc tiền nhân tham gia quản lý, xây dựng làng xã đến những người đã hy sinh vì đất nước. Trong buổi sáng, đoàn hát Bội tiếp tục biểu diễn phục vụ nhân dân đến dự lễ hội.
Lễ Đàn cả
Lễ Đàn cả, còn gọi là Cúng Chánh, Đoàn Cả hoặc Đại đoàn, được tổ chức vào buổi tối ngày 15 tháng Mười Một. Đây là nghi lễ tạ ơn thần đã phù hộ cho dân làng được bình an, khỏe mạnh, thời tiết thuận hòa và mùa màng tốt tươi. Về cơ bản, trình tự thực hiện lễ Đàn cả tương tự lễ Túc yết, nhưng có sự thay đổi về nội dung lời xướng. Nếu lễ Túc yết sử dụng lời xướng nghinh Thần cúc cung bái để cung thỉnh thần thì lễ Đàn cả sử dụng lời xướng tạ Thần cúc cung bái, thể hiện ý nghĩa tạ ơn. Lễ Đàn cả còn có thêm hai phần nghi thức quan trọng là Ẩm phước và Thọ tợ. Trong hai nghi thức này, Ban quý tế đại diện cho dân làng tiếp nhận và hưởng lộc thần, thể hiện quan niệm về sự ban phước và mối quan hệ giữa thần linh với cộng đồng. Sau khi lễ Đàn cả hoàn tất, đoàn hát Bội tiếp tục biểu diễn một suất tuồng, kết thúc ngày thứ hai của đại lễ.
Ngày 16 tháng Mười Một: Lễ Tôn vương và Đưa sắc
Lễ Tôn vương
Sáng ngày 16 tháng Mười Một, đoàn hát Bội thực hiện suất diễn cuối cùng, trong đó có nghi thức Tôn vương. Đình Tân An thường lựa chọn hồi thứ ba của vở tuồng San Hậu để trình diễn và thực hiện nghi thức này. Nội dung vở tuồng được xây dựng theo trình tự: Vua băng – Nịnh tiếm – Bà thứ lên chùa – Chém nịnh – Định đô – Tôn vương – Tức vị. Sau cảnh Định đô, nhân vật Hoàng tử dâng ấn và kiếm lên bàn thờ thần. Đây là phần trung tâm của nghi thức Tôn vương. Ban quý tế và đội Học trò lễ xếp thành hai hàng dọc từ gian võ ca đến chánh điện. Mỗi người cầm một cây nến đang cháy để cung nghênh ấn và kiếm. Một thành viên Ban quý tế cầm lọng che ấn kiếm, trong khi nhân vật Hoàng tử trịnh trọng bưng lễ vật trao cho vị trưởng lão để dâng lên hương án thờ thần. Khi đó, một kép hát hô lớn phản tiền vi hậu, tất cả đào kép quay mặt đi nơi khác, không nhìn vào chánh tẩm. Sau khi vị trưởng lão dâng ấn kiếm lên hương án, tiếng hô phản hậu vi tiền vang lên, các đào kép quay lại hướng về bàn thờ thần. Mọi người cùng tung hô lời chúc tụng Tôn vương tức vị, nối dõi Tiên hoàng, cầu chúc trường thọ và thịnh trị. Trong suốt nghi thức, người dân tham dự giữ thái độ trang nghiêm, thành kính. Sau lễ Tôn vương, các đào kép trở lại sân khấu, tiếp tục diễn cảnh Tức vị, thể hiện việc Hoàng tử lên ngôi Hoàng đế. Đây cũng là phần kết thúc suất hát Bội cuối cùng trong đại lễ Kỳ yên.
Lễ Đưa sắc
Chiều ngày 16 tháng Mười Một, Ban quý tế tổ chức lễ Đưa sắc, đưa sắc phong từ đình trở về nơi lưu giữ tại nhà cổ Nguyễn Tri Quan. Về cơ bản, nghi thức tế lễ và đội hình đưa sắc tương tự lễ Thỉnh sắc đã thực hiện vào ngày đầu tiên. Tuy nhiên, số lượng người tham gia đoàn đưa sắc thường ít hơn. Lễ Đưa sắc khép lại chuỗi nghi thức của đại lễ Kỳ yên, hoàn tất việc cung thỉnh, an vị, tế lễ và đưa sắc phong trở về nơi bảo quản theo lệ truyền thống.
Nghệ thuật hát Bội trong lễ hội Kỳ yên đình Tân An
Hát Bội giữ vai trò đặc biệt trong đại lễ Kỳ yên đình Tân An. Đây không chỉ là hình thức biểu diễn nghệ thuật phục vụ cộng đồng mà còn là một bộ phận của hệ thống nghi lễ cúng thần. Sự hiện diện của đoàn hát Bội được bắt đầu bằng nghi thức Rước Tổ vào đình. Trong suốt kỳ hội, các nghệ sĩ tham gia nhiều hoạt động mang tính nghi lễ như hát thài trong lễ Túc yết, lễ Đàn cả, trình diễn Đại bội và thực hiện nghi thức Tôn vương.
Hát thài được thực hiện bởi các Đào thài thuộc đoàn hát Bội, phối hợp với đội Học trò lễ trong những nghi thức tế quan trọng. Các bài thài có nội dung dâng lễ vật, ca ngợi công đức thần linh, cầu chúc thần trường thọ và cầu mong sự bình an, no đủ cho cộng đồng. Trong lễ Túc yết và Đàn cả, tiếng hát thài kết hợp với lời xướng, động tác tế lễ và sự di chuyển của các thành viên hành lễ, tạo thành một chỉnh thể nghi thức trang nghiêm.
Người cầm chầu giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động hát Bội tại đình. Theo quan niệm truyền thống, tiếng trống chầu không chỉ điều tiết, đánh giá phần trình diễn mà còn thể hiện sự khen chê thay mặt thần và cộng đồng. Người cầm chầu phải hiểu nội dung vở tuồng, nắm vững kỹ thuật trình diễn, quy phạm cầm chầu và có khả năng đánh giá công tâm. Trong không gian lễ hội, việc cầm chầu được thực hiện theo những quy định truyền thống, góp phần bảo đảm tính trang nghiêm của các tiết mục hát Bội dâng thần.
Đại bội và Tôn vương là hai nghi thức nổi bật, thể hiện sự kết hợp giữa nghệ thuật sân khấu và tín ngưỡng dân gian. Đại bội trình diễn những quan niệm truyền thống về sự hình thành vũ trụ và vận động của trời đất. Trong khi đó, Tôn vương sử dụng một phần nội dung tuồng San Hậu để thực hiện nghi thức dâng ấn kiếm và chúc tụng sự kế vị. Thông qua những nghi thức này, hát Bội trở thành phương tiện thể hiện các quan niệm về trật tự, sự thịnh trị và ước vọng bình an trong đời sống tín ngưỡng của cộng đồng.
Lễ hội Kỳ yên đình Tân An được thực hành trong không gian đình làng, nơi gắn bó với đời sống tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng của cư dân địa phương. Các hoạt động của lễ hội không chỉ diễn ra trong chánh điện mà còn mở rộng ra gian võ ca, sân đình, khu vực dân cư và tuyến đường rước sắc phong. Sự tham gia của cộng đồng được thể hiện qua nhiều vai trò khác nhau, từ Ban quý tế, Chánh tế, Bồi tế, Học trò lễ, các bậc cao niên, đoàn hát Bội đến những người chuẩn bị lễ vật và phục vụ lễ hội. Trong những ngày diễn ra lễ Kỳ yên, người dân cùng tham gia công việc tại đình, dự lễ, xem hát Bội và thụ hưởng những hoạt động sinh hoạt chung. Việc chuẩn bị, tổ chức và thực hành nghi lễ tạo điều kiện để các thế hệ trao truyền kinh nghiệm, phong tục và tri thức truyền thống. Đình Tân An vì vậy không chỉ là nơi thờ phụng thần linh mà còn là không gian duy trì mối quan hệ cộng đồng và gìn giữ những tập quán văn hóa của cư dân Nam Bộ.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Lễ hội Kỳ yên đình Tân An gắn với quá trình khai hoang, lập ấp và hình thành cộng đồng cư dân người Việt tại vùng đất ven sông Sài Gòn từ đầu thế kỷ XIX. Lịch sử hình thành Tương An miếu và sự phát triển thành đình Tân An phản ánh quá trình ổn định tổ chức làng xã, xây dựng đời sống tín ngưỡng của cư dân địa phương. Các nghi thức thờ thần, tế Tiền Hiền, Hậu Hiền và tưởng niệm chiến sĩ góp phần lưu giữ ký ức về những người có công với quê hương, đất nước.
Giá trị tín ngưỡng: Lễ hội thể hiện tín ngưỡng thờ thần tại đình làng Nam Bộ, với các nghi thức cung thỉnh sắc phong, an vị, nghinh thần, dâng lễ và tạ thần. Những nghi thức này phản ánh niềm tin của cộng đồng vào sự phù hộ của thần linh, đồng thời thể hiện ước vọng quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu và đời sống thịnh vượng. Lễ hội còn thể hiện đạo lý uống nước nhớ nguồn thông qua việc tưởng nhớ các bậc tiền nhân và những người có công.
Giá trị văn hóa nông nghiệp: Lễ Kỳ yên gắn với những quan niệm truyền thống của cư dân nông nghiệp về sự hòa hợp giữa con người với thiên nhiên. Các nghi thức cầu an, cầu mùa và tạ ơn thần phản ánh mong ước về thời tiết thuận lợi, đất đai màu mỡ, sản xuất phát triển và đời sống ổn định. Đây là một trong những đặc điểm tiêu biểu của sinh hoạt tín ngưỡng đình làng Nam Bộ.
Giá trị nghệ thuật: Lễ hội bảo lưu nhiều hình thức nghệ thuật nghi lễ, đặc biệt là hát Bội với các hoạt động hát thài, Xây chầu, Đại bội và Tôn vương. Các nghi thức kết hợp âm nhạc, lời xướng, động tác tế lễ, trang phục, đạo cụ và nghệ thuật sân khấu truyền thống. Trong đó, Đại bội thể hiện quan niệm về sự hình thành vũ trụ, còn Tôn vương gắn với nội dung tuồng San Hậu, tạo nên sự kết hợp đặc sắc giữa tín ngưỡng và nghệ thuật trình diễn.
Giá trị văn hóa dân gian: Lễ hội lưu giữ hệ thống nghi thức, thuật ngữ và quy phạm thực hành truyền thống như Thỉnh sắc, Thỉnh sanh, Túc yết, Đàn cả, Ẩm phước, Thọ tợ và Đưa sắc. Những tri thức liên quan đến việc chuẩn bị lễ vật, tổ chức đội Học trò lễ, thực hiện các bài thài và cầm chầu được cộng đồng duy trì qua thực tiễn tổ chức lễ hội. Đây là nguồn tư liệu có giá trị đối với việc nghiên cứu sinh hoạt tín ngưỡng và văn hóa đình làng Nam Bộ.
Giá trị cộng đồng: Lễ hội là dịp để người dân cùng tham gia các hoạt động thờ cúng, chuẩn bị lễ vật, tổ chức nghi lễ và sinh hoạt văn hóa. Sự phối hợp giữa Ban quý tế, đội Học trò lễ, đoàn hát Bội và nhân dân thể hiện tính tự chủ, tinh thần trách nhiệm và sự gắn kết của cộng đồng địa phương. Việc duy trì lễ hội góp phần củng cố quan hệ làng xóm, gìn giữ phong tục và phát huy vai trò của đình làng trong đời sống xã hội.
Giá trị giáo dục: Thông qua các nghi thức tưởng nhớ thần linh, Tiền Hiền, Hậu Hiền và những người có công, lễ hội góp phần giáo dục truyền thống tri ân, lòng biết ơn đối với các thế hệ đi trước. Quá trình tham gia lễ hội còn tạo điều kiện để thế hệ trẻ tìm hiểu lịch sử địa phương, những phong tục truyền thống và các hình thức nghệ thuật dân gian. Đây là môi trường thực hành và trao truyền những giá trị văn hóa của cộng đồng.
Giá trị bảo tồn di sản: Lễ hội Kỳ yên đình Tân An vẫn duy trì hệ thống nghi thức thường niên và đại lễ theo chu kỳ ba năm. Việc bảo lưu các nghi thức tế thần, rước sắc và hát Bội góp phần gìn giữ một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng đặc trưng của cư dân Nam Bộ. Sự tham gia trực tiếp của cộng đồng là yếu tố quan trọng giúp những tri thức, kỹ năng và tập quán liên quan đến lễ hội được tiếp nối qua nhiều thế hệ.
Lễ hội Kỳ yên đình Tân An là di sản văn hóa tiêu biểu của cư dân Nam Bộ, gắn với lịch sử khai hoang lập làng và tín ngưỡng thờ thần tại vùng đất ven sông Sài Gòn. Hệ thống nghi thức từ Thỉnh sắc, Túc yết, Xây chầu, Đại bội đến Đàn cả, Tôn vương và Đưa sắc thể hiện sự phong phú của văn hóa lễ hội đình làng, đặc biệt là sự kết hợp giữa nghi lễ truyền thống với nghệ thuật hát Bội. Việc duy trì lễ hội góp phần gìn giữ ký ức lịch sử, trao truyền tri thức dân gian và củng cố sự gắn bó trong cộng đồng. Với những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật đặc sắc, Lễ hội Kỳ yên đình Tân An được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 60/QĐ-BVHTTDL ngày 12/01/2022, ghi nhận vai trò của lễ hội trong đời sống văn hóa truyền thống của cư dân địa phương.
Nguồn ảnh: Sưu tầm
