Chùa A Nậu (chùa Sệu – Ninh Khánh, Ninh Bình)

Chùa A Nậu (chùa Sệu – Ninh Khánh, Ninh Bình)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý 

Chùa A Nậu, còn được gọi với tên dân gian là chùa Sệu, tọa lạc tại xóm Bình Khang, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, vốn là vùng đất phía Đông Nam của cố đô Hoa Lư. 

Tên gọi chùa Sệu bắt nguồn từ vị trí địa lý của ngôi chùa, nằm dưới chân núi Sệu, nên người dân địa phương quen gọi như vậy từ lâu đời. Sang thời Hậu Lê và Nguyễn, theo xu hướng mỹ hóa tên gọi trong các văn bản hành chính, một số quan lại đã dâng sớ xin đổi tên “Sệu” thành “Thiệu”. Kể từ đó, tên “chùa Thiệu” bắt đầu xuất hiện trong các tài liệu Hán Nôm chính thức liên quan đến di tích. Tuy nhiên, trong tâm thức dân gian và đời sống văn hóa địa phương, tên gọi chùa Sệu với âm sắc mộc mạc, gần gũi  vẫn được lưu truyền và sử dụng phổ biến cho đến ngày nay.

Vùng đất Ninh Bình xưa từng thuộc Nam Giao, trải qua các triều đại với nhiều tên gọi và đơn vị hành chính khác nhau. Trải qua biến động lịch sử và địa lý, Ninh Bình ngày nay nằm ở rìa phía Nam đồng bằng châu thổ sông Hồng, với địa hình đa dạng gồm đồng bằng, đồi núi và vùng ven biển. Đồng bằng chiếm khoảng 70% diện tích, thuộc lưu vực sông Đáy, sông Hoàng Long, được chia thành các tiểu vùng đặc trưng như thềm cổ lượn sóng, lòng chảo phù sa, vùng mấp mô và vùng trũng ven biển đang tiếp tục được bồi đắp. Vùng đồi gò và núi thấp phân bố chủ yếu ở phía Tây Bắc, hình thành từ các trầm tích cổ, tạo nên cảnh quan đặc trưng và giàu tiềm năng phát triển văn hóa  du lịch của Ninh Bình.

Lịch sử và nhân vật 

Theo văn bản Hán Nôm cổ lưu giữ tại chùa, tên gọi “A Nậu” mang đậm sắc thái ngôn ngữ dân gian. Chữ “A” nghĩa là nhỏ, dẹp; còn “Nậu” chỉ một loại nông cụ thô sơ cái cào cỏ, thường dùng để xới đất, làm cỏ trong canh tác nông nghiệp. Cái tên mộc mạc này có thể bắt nguồn từ nếp sinh hoạt lao động của cư dân bản địa, đặc biệt trong thời nhà Trần, khi vùng đất này từng là điền trang của công chúa Trần Ngọc Một,  người sau này đã xuất gia và viên tịch tại chùa.

Theo bài viết “Tình hình cúng ruộng vào chùa dưới thời Trần thế kỷ XIII-XIV (qua tư liệu văn bia)”, trong Tạp chí nghiên cứu Lịch sử số 7-2008,  tác giả Nguyễn Thị Phương Chi có viết” :

Trần Thái Tông là một ông vua sùng bái Phật giáo. Những năm đầu lên ngôi, đã có lúc ông muốn xa lánh triều chính lên núi Yên Tử làm hòa thượng. Bấy giờ, Ninh Bình không chỉ là cố đô, mà còn là thánh địa của Phật giáo. Trần Thái Tông muốn chấn hưng Phật giáo, nên đã cử một vị cao tăng đến đó tuyên dương Phật pháp.”

Ngoài ra tác giả còn đưa thêm thông tin: “Bia ruộng tam bảo chùa Sêu cho biết vua Trần Thái Tông xây dựng và cấp ruộng đất để phụng thờ Phật Pháp Tăng. A Nậu tự (tức chùa Sêu) tọa lạc ở địa phận xã Đới Nhân, tổng Đa Giá, huyện Gia Viễn, phủ Trường An, nay là thôn Bình Khang, xã Ninh Khánh, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình. Tấm bia ruộng Tam Bảo chùa A Nậu này có trong nội tự. Bia được tạo vào năm Thiệu Long Mậu Ngọ (1258) đời vua Trần Thái Tông

Tuy nhiên tác giả Đinh Khắc Thuần trong bài viết “Văn bia chùa thời Trần” đăng trong Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 09-2015, theo đó tác giả nói tấm bia ruộng chùa A Nậu thực chất của Thời Mạc: 

“Trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam thời Trần có văn bia “A Nậu tự Tam bảo điền bi” ở Hoa Lư, Ninh Bình được cho là bia thời Trần khắc năm 1258, nhưng thực tế đây là bia thời Mạc thế kỷ XVI với hoa văn dây leo khắc chìm tiêu biểu trên bia thời Mạc. Nội dung văn bia ghi lại sự kiện vua Trần cấp ruộng làm của Tam bảo của chùa”.

Tấm bia cổ mang tên “A Nậu tự Tam Bảo điều bi ghi rõ sự kiện vua Trần Thái Tông từng đến đây trong thời gian tu hành tại động Vũ Lâm, và đã hiến cúng cho chùa 90 mẫu 3 sào ruộng để làm hương hỏa. Chính công chúa Trần Ngọc Một, con gái vua Trần cũng từng tu tập và viên tịch tại ngôi chùa này.

Trong cuốn Văn Bia Hán Nôm thời Mạc (đơn) có chép rằng: 

“Bia “A Nậu tự Tam Bảo điền bi” khắc trên vách đá chùa A Nậu (còn gọi chùa Sêu) thuộc xã Đới Nhân huyện Gia Viễn, nay là xã Ninh Khánh huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình.

Bia khắc theo hình bia, cao l,25m, rộng 0,80m, có trán bia chạm lưỡng long chầu nguyệt, diềm xung quanh chạm dây leo hình sin tiêu biểu hoa văn trên bia thời Mạc. Bia 8 dòng, khoảng 100 chữ, có chữ Nôm. Niên đại ghi năm Mậu Ngọ, sau đó ghi Hưng Long tam bảo, nên một số người nhầm tưởng niên đại thuộc niên hiệu Hưng Long thời Trần. Thực ra đây là bia khắc vào thời Mạc năm Mậu Ngọ (1558) ghi lại ruộng dát chùa này từ thời Trần.

Phiên âm:

A Nậu tự Tam bảo điền bi Trường An phủ Gia Viễn huyện Đái Nhân xã đương hương đại tiếu đẳng. Nguyên hữu cổ tích danh lam Trần triều Thái Tông Hoàng đế ngự chế khai sáng A Nậu tự. Lưu Tam Bảo điền cửu bách thập nhất mẫu tam cao phụng sự Phật Pháp Tăng bảo. Đông nhất mẫu nhất cao, cận công thần điền, tây nhất mẫu cận quan điền, nam cửu thập nhất mẫu cận sơn cước, bắc cửu thập nhất cao cận nội tự tịnh dân điền. Như điền bạ nội. Mậu Ngọ niên hưng long tam bảo nhị niên sơ bát nhật.

Dịch nghĩa:

Bia ruộng Tam bảo chùa A Nậu Toàn dân lớn bé hương Đương xã Đái Nhân huyện Gia Viễn phủ hường An, vốn có cổ tích đại danh lam do Hoàng đế Thái Tông thời Trần ngự chế sáng tạo ra. Đó là chùa A Nậu. Lại cấp ruộng Tam bảo 91 mẫu 3 sào để phụng thờ Phật Pháp Tăng. Phía đông 1 mẫu 1 sào gần ruộng công thần, phía tây 1 mẫu gần ruộng quan, phía nam 91 sào gần chân núi, phía bắc 91 sào gần nội tự và ruộng dân. Tất cả ghi như trong bạ điền. Ngày mồng 8 tháng 2 năm Mậu Ngọ (1558)1 hưng long Tam bảo.”

Dựa vào các hiện vật cổ, ta có thể suy rằng chùa A Nậu được xây dựng vào triều đại Nhà Trần, do Trần Thái Tông khai sáng. Tuy nhiên trong một bài viết đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo của tác giả Nguyễn Văn Trò lại có thông tin như sau: 

“Chùa A Nậu thuộc thôn Đái Nhân, phường Ninh Khánh, thành phố Ninh Bình, nằm ở phía đông nam kinh đô Hoa Lư cũng được xây dựng vào thời Đinh-Lê. Tại đây đã tìm thấy những viên gạch có trang trí hoa sen thời Đinh – Lê. Cũng như chùa Phong phú, chùa A Nậu quy tụ lòng dân ở ngoại thành. Ngôi chùa này được mở mang vào thời Trần. Tấm bia “A Nậu tự Tam Bảo điều bị  cho biết: Trần Thái Tông khi xuất gia tu hành ở động Vũ Lâm đã đến đây và đã để lại chùa 90 mẫu 3 sào ruộng. Công chúa Trần Ngọc Một đã tu hành và mất tại chùa này.”

Vì vậy, thời điểm chính xác khởi dựng ngôi chùa hiện vẫn chưa được xác định rõ. Có thể chùa đã hình thành từ thời Đinh – Lê, hoặc cũng có khả năng đến thời Trần mới được xây dựng hoàn chỉnh. Dù được dựng vào giai đoạn nào, chùa A Nậu vẫn là một di tích gắn bó mật thiết với đời sống tín ngưỡng của cư dân địa phương suốt nhiều thế kỷ qua.

Không chỉ có giá trị về văn hóa tôn giáo, chùa A Nậu còn gắn bó mật thiết với lịch sử hiện đại. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chùa từng là nơi ở và làm việc của ngành bưu điện tỉnh Ninh Bình và cơ quan trung ương. Đỉnh núi phía sau chùa trở thành điểm tiền tiêu, canh gác ngày đêm, phục vụ công tác cảnh báo máy bay địch cho nhân dân sơ tán. 

Ni sư Thích Đàm Lý thời ấy đã nhường toàn bộ không gian chính điện cho chuyên gia Liên Xô sơ tán, tự chuyển xuống bếp ở. Tòa Tiền Đường trở thành nơi họp phổ biến kỹ thuật canh tác, chăn nuôi cho nhân dân. Trong khuôn viên chùa còn xây dựng nhiều hầm tránh bom, đến nay vẫn còn dấu tích. 

Nhằm bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của di tích, năm 2015, Bộ Văn hóa  Thể thao và Du lịch đã ban hành Công văn số 1951/BVHTTDL-DSVH, thống nhất chủ trương tu bổ chùa A Nậu bằng nguồn kinh phí xã hội hóa. Đến năm 2023, ngôi Đại Hùng Bảo Điện đã được khởi công trùng tu, mang dáng dấp kiến trúc truyền thống kết hợp hài hòa với đường nét hiện đại, nhưng vẫn giữ nguyên yếu tố gốc của ngôi chùa xưa. Công trình có tổng kinh phí xây dựng hơn 10 tỷ đồng.

Ngày 24/5/2023, Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh Ninh Bình phối hợp cùng chính quyền địa phương và chư Ni chùa A Nậu (tức chùa Sệu) long trọng tổ chức lễ cắt băng khánh thành ngôi Đại Hùng Bảo Điện, đánh dấu bước phát triển mới trong hành trình bảo tồn di tích và gìn giữ ký ức văn hóa Phật giáo nơi vùng đất cố đô.=

Bài thơ dưới đây là của tác giả Hoàng Quang Thuận, được đăng tải trên Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Với cảm hứng từ lịch sử chùa A Nậu và hình tượng Đức Phật, tác giả đã viết nên những vần thơ trang nghiêm, nhẹ nhàng về ngôi chùa này:

A Nậu thờ Đức Phật Thích Ca

Ca Tỳ La Vệ vua băng ha

Bồ đề thái tử thành đức Phật

Mây ngũ sắc hồng kết đầy hoa.

Kiến trúc cảnh quan 

Chùa A Nậu được xây dựng trên một khu đất rộng, địa thế thoáng đãng dưới chân núi Thiệu (còn gọi là núi Sệu). Núi có hình dáng như một vòng cung bao bọc phía sau, tạo nên thế “tựa sơn vọng thủy” hài hòa. Phía trước chùa là cánh đồng rộng, xa hơn là Quốc lộ 1A, trục giao thông chính chạy dọc Bắc Nam. Chùa quay mặt về hướng Đông Bắc,

Các hạng mục kiến trúc chính của chùa hiện nay bao gồm: Tam quan, Tam bảo, nhà Tổ, Phủ thờ, Nhà Khách, Lầu Quan Âm và Vườn Tháp. Tổng thể mang phong cách kiến trúc truyền thống giai đoạn cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, thể hiện qua bố cục mặt bằng, kết cấu vì kèo, mái ngói lợp mũi hài và các chi tiết trang trí trên gỗ. 

Tam Quan 

Cổng tam quan của di tích là một công trình kiến trúc tiêu biểu, mang đậm phong cách truyền thống kết hợp yếu tố trang trí hiện đại. Cổng được xây dựng theo lối “tam quan” với ba lối đi: cổng chính ở giữa có chiều rộng 1,6 mét, cao khoảng 2,5 mét và rộng hơn hai cổng phụ hai bên, tạo thế đối xứng nhau. Tầng trệt có ba cửa vòm hình cung tròn, cánh cửa sắt hoa văn cổ điển. Trên các trụ cổng và thân cột là những câu đối chữ Hán được khắc nổi, sơn đen. 

Phía trên là tầng lầu thiết kế như một lầu vọng nguyệt, có lan can bao quanh, mở thoáng bốn phía. Hệ mái được làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái, đầu đao cong vút, đắp hình linh thú và rồng cách điệu. Mái lợp ngói đỏ truyền thống, trên đỉnh trang trí bánh xe pháp luân, ở chính giữa tầng hai nổi bật ba chữ Hán “A Nậu tự”

Hai bên cổng có cầu thang dẫn lên tầng lầu, được trang trí đầu rồng ở điểm giao mái. Toàn bộ công trình sử dụng gam màu vàng nhạt và đỏ nâu làm chủ đạo, một số hoạ tiết được sơn màu các xanh lam, xanh ngọc. 

Phía trước Tam quan là một hồ nước và giếng cổ, phía Bắc Tam quan là cổng phụ dẫn vào khuôn viên di tích, có chiều rộng 1,5 mét. Cổng được xây với hai trụ vuông hai bên, phía trên mỗi trụ đều đắp nổi hình đóa sen. 

Tam Bảo

Bước qua cổng Tam quan là khoảng sân rộng được lát gạch đỏ, có chiều dài 11,4m và rộng 12,6m. Hai bên sân, phía tả và hữu, có đặt bát hương thờ các vị Hàn lâm, là những bậc trí giả được tôn kính. Phần tiếp giáp giữa sân và toà Tiền bái là một bậc tam cấp chạy dài suốt chiều ngang tòa nhà. Ba bậc thềm này có độ cao lần lượt là 25cm, 15cm và 10cm. 

Tiến sâu vào trong là khu chính điện tòa Tam bảo, được xây theo hướng Đông Bắc, có kiến trúc hình chữ Đinh (), gồm hai phần: Tiền Đường và Hậu Cung. Tòa Tiền Đường có kích thước 11,4m x 9,75m, gồm 5 gian 2 chái. Phần hiên rộng 1,25m, gồm các cột đá vuông (20cm x 20cm) đặt trên bốn tảng đá hình vuông (40cm x 40cm), tạo nên sự vững chãi cho toàn bộ kết cấu. Lối ra vào sử dụng hệ thống cửa gỗ lim chắc chắn. 

Lòng nhà rộng 4,5m, phần mái được đỡ bởi 4 vì kèo và 8 cột gỗ lim chính. Các cột cái có chu vi 91cm, cột con chu vi 82cm, tất cả đều được kê trên chân tảng đá vững chắc. Kiến trúc mái và hệ khung gỗ được chạm khắc tỉ mỉ với các họa tiết truyền thống như mây cuốn, lá lật, lá dắt và chữ triện. 

Gian chính giữa Tiền đường đặt bàn thờ Công đồng, phía bên phải là ban thờ và tượng Đức Ông; gian bên kế tiếp thờ tượng Hộ Pháp Trừng Ác trong tư thế ngồi trên lưng hà mã, tay cầm đao, áo mũ cân đai chỉnh tề, gương mặt dữ tợn. Bên trái là ban thờ Phổ Hiền, bên cạnh là tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện với hình ảnh tay cầm viên ngọc, ngồi trên lưng hà mã. Tượng này được phục dựng vào năm 1996 theo tư liệu chuyên môn, sau khi pho tượng gốc bị phá hủy bởi pháo kích trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp năm 1953.

Phía sau là Hậu cung, diện tích 38,7m², được nối liền với gian chính giữa của Tiền Đường. bộ khung mái được nâng bởi hai vì kèo với bốn cột lim lớn, hệ trang trí tập trung vào các họa tiết chữ triện, lá dắt và lá lật, tạo không khí trang nghiêm và tôn kính. Đây là nơi đặt ban thờ chính với bố cục thờ tự theo từng lớp từ trên xuống dưới gồm: 

Hàng thứ nhất: Ba pho tượng Tam Thế Phật, biểu hiện cho ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai.

Hàng thứ hai: Tượng A Di Đà ở trung tâm, hai bên là Quan Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát.

Hàng thứ ba: Chính giữa là tượng Ngọc Hoàng, hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu. 

Hàng thứ tư: Trung tâm là tượng Thích Ca Mâu Ni, hai bên là Thánh Tăng và Ca Diếp. 

Toàn bộ công trình được trang trí bằng hệ thống cửa võng, sơn thếp vàng, các cột treo hoành phi, câu đối và bày trí các đồ thờ cúng lộng lẫy, trang nghiêm. Mái Tam Bảo được lợp bằng ngói mũi hài, loại ngói đặc trưng của kiến trúc cổ truyền Việt Nam. Toàn bộ kết cấu mái không trang trí hoa văn, tạo nên vẻ mộc mạc, trang nghiêm cho toàn bộ công trình.

Nhà Tổ

Nhà Tổ được xây quay hướng Đông Bắc, có diện tích 79,3m², kết cấu gồm 5 gian, mái lợp ngói Nam truyền thống. Bốn cột hiên phía trước được làm bằng đá xanh nguyên khối, mỗi cột có kích thước 18cm x 18cm, đặt vững chãi trên các chân tảng đá hình vuông, mỗi chiều rộng 40cm. Trên thân cột khắc câu đối bằng chữ Hán, ca ngợi cảnh chùa thanh tịnh và tôn vinh đức độ của chư Phật.

Gian chính giữa của Nhà Tổ được thiết kế theo kiểu chuôi vỏ, là không gian thờ phụng Tổ sư Đạt Ma cùng các vị thiền sư từng trụ trì tại chùa. Các chi tiết trang trí trong Nhà Tổ mang đậm phong cách truyền thống, với các họa tiết chủ đạo là lá lật và chữ triện. Đặc biệt, những đấu bẩy ngoài hiên được chạm khắc hình rồng nổi đầy sống động, thể hiện sự công phu, tinh xảo và trình độ tay nghề điêu luyện của các nghệ nhân xưa.

Phủ thờ

Nằm cạnh Nhà Tổ, về phía Tây Bắc, là tòa Phủ gồm 3 gian, có diện tích khoảng 28m². Theo lời kể của vị sư trụ trì chùa A Nậu, trước đây Phủ tọa lạc ở phía Tây Nam của chùa, cách vị trí hiện nay khoảng 50 mét. Khi đó, Phủ có tên gọi là Phủ Sệu, do nằm dưới chân núi Sệu nên người dân địa phương đã lấy tên núi để đặt tên cho phủ.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, khu vực núi Sệu là địa bàn hoạt động của các chiến sĩ cách mạng. Khi địch tổ chức càn quét, Phủ Sệu bị tàn phá nghiêm trọng. Trước tình hình đó, nhân dân địa phương đã kịp thời di chuyển long ngai, bài vị, sắc phong và tượng thờ công chúa Trấn Ngọc Một về chùa A Nậu để tiếp tục hương khói, phụng thờ.

Đến năm 1990, được sự đồng thuận của chính quyền địa phương, nhà chùa cùng nhân dân đã chung tay xây dựng lại tòa Phủ như hiện trạng ngày nay. Công trình được xây quay mặt về hướng Nam, mái lợp ngói xi măng. Phủ gồm 3 gian: gian giữa thờ ba vị Thánh Mẫu, gian bên phải thờ công chúa Trấn Ngọc Một, vị thần được tôn kính gắn bó với vùng đất này; gian bên trái đặt long ngai, bài vị của một số ngôi đình khác được rước về, tuy chưa xác định rõ danh tính và lai lịch.

Vườn Tháp

Nằm ở khoảng sân phía bên tay trái khi bước qua Tam Quan là khu Vườn Tháp, được xây dựng khép kín với tường rào bao quanh. Trong khuôn viên này hiện có 7 ngôi tháp được bố trí thành ba lớp theo thế đăng đối, tạo chiều sâu và trật tự kiến trúc hài hòa.

Hàng thứ nhất gồm hai ngôi tháp đặt đối xứng hai bên, mở đầu cho trục chính của khu vườn.

Hàng thứ hai chỉ có một ngôi tháp, đặt ở vị trí trung tâm, nằm chính giữa hai tháp hàng đầu.

Hàng thứ ba gồm bốn ngôi tháp xếp thành một hàng ngang phía sau, tạo thành thế “tiền nhị, trung nhất, hậu tứ. 

Tất cả các ngôi tháp đều có hình thức kiến trúc tương đồng: cao ba tầng, xây bằng gạch trần không trát, tạo nét mộc mạc cổ kính. Trên các mặt tháp là những ô vuông khắc nổi chữ Hán, thể hiện đạo hạnh và pháp danh của các vị được thờ phụng. Đỉnh tháp trang trí các biểu tượng tâm linh như búp sen, đầu rồng, hổ phù,… Trong đó, đặc biệt có một ngôi tháp ở hàng thứ hai, phía trên được đặt mô hình tháp chín tầng thu nhỏ. 

Khu vườn tháp là nơi an trí tro cốt và tưởng niệm các vị cao tăng, trụ trì tiền nhiệm của chùa,  những bậc chân tu đã có công lao lớn trong việc hoằng dương Phật pháp và gìn giữ ngôi chùa qua các thời kỳ lịch sử.

Lầu Quan Âm

Lầu Quan Âm là một công trình kiến trúc được xây dựng hoàn toàn bằng đá xanh, có kết cấu hình vuông với bốn cột trụ chạm khắc hoa văn rồng uốn lượn và mây lửa quanh thân cột. 

Bên trong lầu đặt pho tượng Quan Âm Bồ Tát bằng đá trắng, đứng trên tòa sen, tay cầm tịnh bình, gương mặt hiền từ, ánh mắt từ bi hướng xuống. Phía trên là mái lầu chồng diêm với bốn góc đao cong vút, đỉnh mái đặt tháp chín tầng nhỏ tượng trưng cho sự thanh cao và giác ngộ. Bao quanh lầu là lan can đá chạm khắc hoa văn tinh tế, tạo nên không gian tôn nghiêm và biệt lập. Phía trước lầu có bàn thờ đá cùng lư hương và hai chân đèn đá, phía dưới đặt hòm công đức bằng gỗ. Lầu Quan Âm không chỉ là điểm nhấn kiến trúc trong cảnh quan chùa mà còn là nơi thể hiện niềm tin, lòng thành kính và văn hóa tâm linh của cộng đồng Phật tử.

Nhà Khách

Nhà Khách là một công trình kiến trúc truyền thống mang đậm phong cách đình chùa Bắc Bộ, được xây dựng theo kiểu nhà ngang, một tầng, với mái ngói mũi hài đỏ sậm đặc trưng. Mái nhà gồm hai lớp chồng diêm, trên đỉnh trang trí phù điêu “lưỡng long chầu nguyệt” cùng các đầu đao hình rồng, phượng, con kìm và hổ phù.

Mặt tiền công trình gồm năm gian vòm cuốn hình bán nguyệt liên tiếp, tạo thành hàng hiên rộng. Các cột hiên hình tròn được trang trí hoa văn rồng uốn lượn. Phía trước là khoảng sân được bài trí cây cảnh và bồn hoa góp phần làm tăng vẻ thanh tịnh và trang nghiêm cho tổng thể công trình. 

Bên cạnh là một ngôi nhà nhỏ gồm hai gian được xây sát tường, cùng với lối liến trúc giống nhau. 

Di vật 

Chùa A Nậu hiện vẫn bảo tồn được nhiều di sản văn hóa quý giá, phản ánh bề dày lịch sử và chiều sâu tâm linh của ngôi chùa cổ kính này. Các di sản tiêu biểu có thể phân chia theo từng khu vực như sau:

Khu Tam Bảo: Hiện lưu giữ 12 pho tượng cổ có giá trị nghệ thuật cao, cùng một bài thơ của vua Trần Thái Tông được chạm khắc trên gỗ, sơn son thếp vàng. Đặc biệt, nơi đây còn đặt bài vị của vua Trần Nhân Tông, được chạm nổi tinh xảo trên gỗ và sơn thếp công phu. Hai pho tượng Hộ Pháp bằng đất, cao 2,25m, tạc trong tư thế ngồi trên lưng hà mã, mang vẻ oai nghiêm, dữ dằn, được sơn son thếp vàng. Ngoài ra còn có một quả chuông cổ đúc từ thời vua Minh Mạng, và một tấm bia đá ghi lại việc trùng tu, tôn tạo chùa. 

Khu Phủ thờ: Tại phủ hiện đang lưu giữ một pho tượng công chúa Trần Ngọc Một, nhân vật linh thiêng gắn liền với lịch sử chùa. Bên cạnh đó là hai pho tượng hầu và ba pho tượng Thánh Mẫu, tất cả đều được chạm khắc tinh xảo. Đặc biệt, phủ còn lưu giữ hai chiếc đài gỗ cổ, xung quanh chạm nổi hình “lưỡng long chầu nguyệt”, được sơn son thếp vàng theo phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê.

Khu vực sân chùa và núi phía Đông Nam: Trước sân chùa đặt một tấm bia đá khắc ghi sự tích thờ phụng công chúa Trần Ngọc Một. Trên vách núi đá phía Đông Nam chùa còn lưu giữ một tấm bia khác, ghi lại việc vua Trần Thái Tông từng khai sáng ngôi chùa này và ban cấp ruộng đất làm hương hỏa cho việc thờ cúng lâu dài.

Xếp hạng

Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa và tâm linh, chùa A Nậu đã được Nhà nước xếp hạng là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia vào năm 1999.

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Thị Phương Chi, Tình hình cúng ruộng vào chùa dưới thời Trần thế kỷ XIII-XIV (qua tư liệu văn bia), Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số 7-2008. 
  2. Nguyễn Đại Đồng, Nguyễn Hồng Dương, Nguyễn Phú Lợi (2017), Lịch sử Phật giáo Ninh Bình, Nxb Tôn Giáo. 
  3. Đinh Khắc Thuần (2021), Văn Bia Hán Nôm thời Mạc (đơn), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. 
  4. Đinh Khắc Thuần, Văn  bia chùa thời Trần, Nghiên cứu Tôn giáo, số 09 (147), 2015. 
  5. Phạm Văn Thắm (2007), Văn Bia Thời Lý Trần, Nxb Hà Nội. 
  6. Nguyễn Văn Trò, Diện mạo Phật giáo ở kinh đô Hoa Lư và vùng phụ cận, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6 – 2010. 
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)