Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa An Bường tại Đội 2, thôn Liên Hiệp 2, Thị trấn Sơn Tịnh, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.
Chùa nguyên là Vức thờ Thần Hoàng Bổn Cảnh của xóm An Bường, hoang phế từ lâu. Chùa nằm ở lưng chừng đồi thuộc liên sơn núi Long Đầu về cuối hướng Đông, cách sau lưng chùa Phú Long hơn 500m.
Lịch sử và nhân vật
Năm Bính Ngọ 1966, Thượng tọa Thích Hồng Ân, từ Tổ đình Thiên Ấn đứng ra khai sơn, cải tạo diện tích đất Vức có đến 3000m2, lập chùa thờ Tam Bảo, lấy địa danh Vức đặt tên cho chùa là An Bường.
Thượng tọa Thích Hồng Ân, pháp danh Thị Từ, pháp tự Mạnh Huệ, thế danh Hoàng Mạnh Huệ, sinh năm 1913, đệ tử của Ngài Thích Huyền Trí, cầu pháp Ngài Thích Huệ Hải. Ngài nguyên trụ trì chùa Phước Lộc, nguyên Ban Chức Sự Sắc tứ Tổ đình Thiên Ấn.
Do Phật sự của Ngài ở rất nhiều nơi, Ngài trụ trì tại đây trong thời gian đôi năm, lại giao cho cư sĩ Nguyễn Tôn, pháp danh Hạnh Thiện trách nhiệm thủ tự, rồi ra đi. Theo lịch trình, Ngài về chùa hướng dẫn bổn đạo nghi thức tu hành.
Năm 1978, Thượng tọa Thích Hồng Ân viên tịch, chùa trải qua một giai đoạn cô quạnh, sự sinh hoạt vắng vẻ. Nhất là khi cư sĩ Nguyễn Tôn ngày một già yếu và qua đời năm Quý Mùi 2003, mộ táng của cư sĩ trong đất chùa.
Thực tế chùa An Bường vừa nhỏ, vừa ở trong hóc đồi, cây cối khuất lấp và thêm phần tẻ lạnh, nên chùa có phần xuống cấp. Năm 1993, cư sĩ Nguyễn Tôn cố gắng đại tu ngôi chánh điện và làm thêm nhà khách bên cạnh chùa.
Con trai của cư sĩ Nguyễn Tôn là cư sĩ Nguyễn Thử, pháp danh Tâm Nhựt, thay quyền cha cai quản cho đến nay. Người cai quản tự nguyện có bổn phận bảo vệ, lo nhang đèn hàng ngày, còn bổn đạo có lòng tín ngưỡng thì về chùa vào các ngày rằm, mồng một, các ngày lễ Phật, không giới hạn.
Kiến trúc cảnh quan
Cổng Tam quan của chùa An Bường có kiến trúc đơn giản, hiện đại với mái được làm từ xi măng, không có nhiều hoa văn trang trí phức tạp. Phía trước cổng chính là bảng hiệu với chữ Hán và chữ Quốc Ngữ ghi tên chùa.
Khi bước qua cổng Tam quan, bạn sẽ cảm nhận ngay không gian yên bình, thoáng mát với nhiều cây trúc xanh, tạo sự hài hòa với các công trình hiện đại của chùa. Bên phải lối vào là tượng Quán Thế Âm Bồ Tát bằng đá hoa cương, được bao quanh bởi trúc xanh mướt. Đối diện, bên trái, là tượng Phật Di Lặc cũng bằng đá hoa cương, được trồng cây trúc bao quanh. Sau tượng Phật Di Lặc, nằm về phía trái, là khu tháp mộ của chùa.
Bên phải chùa là lầu Chuông, trong khi lầu Trống được đặt bên trái. Chính giữa là Chính điện, được xây dựng theo kiến trúc chữ “khẩu” với ba gian. Xung quanh Chính điện, trúc xanh được trồng tạo nên một khung cảnh đơn giản, không phô trương nhưng vẫn tạo cảm giác thanh tịnh, thoáng mát. Kiến trúc Chính điện không cầu kỳ, chỉ gồm tiền đường và ban thờ Phật, mang lại một vẻ đẹp hiện đại và gọn gàng.
Cấu trúc Chính điện kiểu liền một khối gồm có tiền đường, ban thờ Phật. Bước vào chính điện, nơi tiền đường đặt đối xứng 2 vị hộ pháp Khuyến Thiện và Trừng Ác. Ban thờ Phật được thiết kế tối giản nhưng không làm ảnh hưởng tới bố cục chung trong bố cục thông thường tại các chùa. Bố trí ban thờ Phật gồm 2 lớp:
- Lớp thớ nhất: đặt tượng Phật Thích Ca
- Lớp thứ hai: đặt tượng Thất Phật Dược Sư
Đối xứng hai bên đặt ban thờ Phật tượng chư vị Văn Thù Bồ Tát đại diện cho Đại Trí và chân trí cùng với lý trí dung thông, đại diện cho giải, trí tuệ, đứng bên tay trái của Đức Phật Thích Ca. Ngoài ra, đặt tượng Đại Thế Chí Bồ tát và Ngài Địa Tạng Vương Bồ tát
Còn Phổ Hiền Bồ tát đại diện cho Đại Hạnh và chân lý, đại diện cho Tam Muội, tấm lòng từ bi, đứng phía tay bên phải của Đức Phật Thích Ca. Ngoài ra, đặt tượng Tượng Quan Âm Bồ tát.
Hai bên là hai dãy thư quán để Phật tử khi tới có không gian nghỉ ngơi thư giãn. Điểm đặc biệt là hai dãy tượng đá 18 vị la hán đối xứng bên hông Chính điện, với bãi cả xanh mát.
Ngoài ra xung quanh chùa tổng thể được xây dựng theo phong cách tối giản nhiều cây cối cùng thảm cỏ xanh, với hệ thống được quy hoạch tổng thể bố trí các công trình cân đối tạo không gian thư giãn.
Sự kiện và lễ hội
Tại chùa, Lễ Vu Lan và Lễ Phật Đản là những dịp lễ lớn và quan trọng, thu hút đông đảo phật tử địa phương tham gia.
Lễ Vu Lan diễn ra vào rằm tháng Bảy âm lịch, được tổ chức trang trọng và đầy ý nghĩa. Đây là dịp để con cháu bày tỏ lòng hiếu kính, tri ân đối với cha mẹ và tổ tiên, cũng như cầu siêu cho các vong linh đã khuất. Phật tử tụ họp để nghe giảng kinh, làm lễ cầu an và thả đèn hoa đăng, tạo nên không khí thiêng liêng và ấm cúng.
Lễ Phật Đản, diễn ra vào rằm tháng Tư âm lịch, kỷ niệm ngày sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chùa trang hoàng lộng lẫy với cờ hoa và đèn lồng, tổ chức các hoạt động như lễ rước, tụng kinh, thả đèn hoa đăng và thuyết giảng Phật pháp. Phật tử địa phương cùng nhau tham gia, thể hiện lòng thành kính và niềm vui mừng trước sự ra đời của Đức Phật.
Việc tổ chức lễ hội tại chùa không chỉ có ý nghĩa tâm linh mà còn là dịp để cộng đồng phật tử gặp gỡ, giao lưu, và gắn kết. Những lễ hội này giúp phật tử địa phương củng cố niềm tin, tìm thấy sự an lạc trong tâm hồn và duy trì, phát huy những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Tham khảo
Lê Vinh Bổn, Khảo cứu nghiên cứu lịch sử phật giáo Việt Nam, Lược Sử Phật Giáo và những ngôi Chùa Quảng Ngãi.