Chùa An Thái (Quỳnh Phú, Nghệ An)

Chùa An Thái (Quỳnh Phú, Nghệ An)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa An Thái, còn được biết đến với tên gọi Tổ đình Ngọc Lâm, là một cơ sở Phật giáo có lịch sử lâu đời tại Nghệ An. Trong dân gian, chùa còn được gọi là chùa Đót, do khu vực xung quanh trước đây mọc nhiều cây đót lớn. Tên gọi chùa Ngọc Lâm gắn với tên làng cổ, tên gọi chùa Phượng Sơn xuất phát từ vị trí địa lý khi chùa nằm dưới chân núi Phượng, địa thế “tựa sơn – hướng thủy”, lưng dựa vào núi Phượng Hoàng, mặt hướng ra biển Đông

Về địa giới hành chính qua các thời kỳ, chùa xưa thuộc vùng Kẻ Kiến, xã Ngọc Lâm, tổng Thanh Viên, huyện Quỳnh Lưu, phủ Diễn Châu, xứ Nghệ. Hiện nay, chùa tọa lạc tại thôn Minh Thành, xã Quỳnh Phú, tỉnh Nghệ An. 

Lịch sử và nhân vật

Các tư liệu lịch sử cùng hệ thống hiện vật còn lưu giữ cho thấy chùa An Thái có nguồn gốc rất sớm, có thể xuất hiện từ những thế kỷ đầu Công nguyên. Trải qua thời kỳ Bắc thuộc và các triều đại phong kiến độc lập, ngôi chùa liên tục được trùng tu, mở rộng, từng bước định hình quy mô và diện mạo kiến trúc. Dấu tích còn lại trong hệ thống tượng pháp, kiến trúc thờ tự cho thấy chùa từng phát triển hưng thịnh qua các giai đoạn như thời Ngô Quyền, thời nhà Trần và thời nhà Lê sơ, những thời kỳ mà Phật giáo giữ vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần xã hội.

Bước sang thời cận – hiện đại, lịch sử chùa gắn liền với tên tuổi của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản, một nhân vật có ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống tôn giáo và phong trào yêu nước tại địa phương. Dưới sự dẫn dắt của Ngài, chùa không chỉ là trung tâm Phật giáo mà còn trở thành một cơ sở cách mạng quan trọng trong giai đoạn 1930 – 1945. Trong bối cảnh thực dân, phong kiến đàn áp khốc liệt, chùa đã được sử dụng làm nơi in ấn tài liệu, cất giấu vũ khí, lập hầm bí mật, đồng thời là địa điểm liên lạc, hội họp và nuôi giấu cán bộ. Nhiều lần đối mặt với sự truy lùng, khủng bố và tra tấn dã man, nhưng Hòa thượng cùng Tăng Ni, Phật tử vẫn kiên trung giữ vững cơ sở, bảo vệ phong trào cách mạng.

Từ những năm 1930 – 1931, trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, chùa đã tích cực tham gia các hoạt động đấu tranh của quần chúng vùng biển, từ việc phá kho thóc, thu lương thực cứu đói cho dân đến việc quyên góp tài chính, mua sắm vũ khí, thuốc men phục vụ cách mạng. Đến năm 1935, Hòa thượng Thích Thanh Bản cùng chư tăng đã tham gia thành lập Hội An Nam Phật học tỉnh Nghệ Tĩnh.

Năm 1943 – 1944, chùa Ngọc Lâm tiếp tục là địa điểm hoạt động bí mật của tổ chức Việt Minh. Tuy nhiên, cơ sở đã bị lộ, bị thực dân Pháp càn quét, phá hủy và bắt giữ nhiều người, trong đó có Hòa thượng Thích Thanh Bản. Dù bị giam cầm và tra tấn, Ngài vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục, thể hiện tinh thần kiên trung của một nhà tu hành gắn bó với vận mệnh dân tộc.

Sau Cách mạng Tháng Tám, chùa tiếp tục đồng hành cùng kháng chiến. Năm 1946, hưởng ứng lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh, nhà chùa đã vận động nhân dân đóng góp hàng trăm tấn muối, lương thực phục vụ tiền tuyến. Chùa cũng là nơi thành lập chi bộ Đảng địa phương, mở lớp bình dân học vụ, huấn luyện dân quân du kích, đồng thời trở thành điểm trung chuyển hậu cần cho chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong kháng chiến chống Mỹ, chùa tiếp tục phát huy vai trò hậu phương, vừa sản xuất, vừa nuôi dưỡng người yếu thế và hỗ trợ lực lượng chiến đấu.

Sau chiến tranh, do ảnh hưởng của bom đạn và những biến động xã hội, chùa có thời gian bị bỏ hoang, xuống cấp nghiêm trọng. Tuy nhiên, từ những năm 1980 – 1990, cùng với sự đổi mới của đất nước, Phật tử và nhân dân địa phương đã từng bước khôi phục lại chùa, dù còn đơn sơ. Bước ngoặt quan trọng diễn ra từ năm 2012, khi Đại đức Thích Minh Hải được bổ nhiệm trụ trì. Dưới sự điều hành của Đại đức, chùa được trùng tu, xây dựng nhiều hạng mục như nhà thờ Tổ, vườn tháp, đại giảng đường, Phật đài, tháp chuông, nhà thờ Mẫu, nhà thờ Tứ Ân… tạo nên diện mạo khang trang, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng của Phật tử.

Từ năm 2018, chùa trở thành trụ sở của Giáo hội Phật giáo huyện Quỳnh Lưu, khẳng định vị thế trung tâm Phật giáo khu vực. Trong thời gian đại dịch COVID-19, chùa còn được sử dụng làm khu cách ly tập trung, chư tăng trực tiếp tham gia hỗ trợ công tác phòng chống dịch, thể hiện tinh thần nhập thế của Phật giáo trong bối cảnh hiện đại.

Với những đóng góp to lớn trong suốt chiều dài lịch sử, đặc biệt là trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước, Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Bản đã được Nhà nước truy tặng Huân chương Đại đoàn kết dân tộc. Ngày nay, chùa An Thái không chỉ là một di tích tôn giáo mà còn là chứng tích lịch sử sống động, phản ánh sâu sắc mối quan hệ gắn bó giữa đạo và đời trong truyền thống văn hóa Việt Nam.

Kiến trúc cảnh quan

Dựa trên hệ thống văn bia và thư tịch cổ còn lưu giữ, có thể khẳng định chùa An Thái (Tổ đình Ngọc Lâm) xưa kia là một quần thể kiến trúc hoàn chỉnh, quy mô lớn, mang đậm phong cách chùa cổ vùng duyên hải Bắc Trung Bộ. Tổng thể công trình được bố trí hài hòa theo thế đất “tựa sơn – hướng thủy”, lưng dựa vào núi Phượng Hoàng, mặt hướng ra biển, tạo nên một không gian vừa linh thiêng vừa khoáng đạt.

Quần thể kiến trúc truyền thống của chùa bao gồm nhiều hạng mục đặc sắc:

Tam Quan được xây dựng theo kiểu hai tầng, phía trên treo đại hồng chung nặng 108 cân. Cổng chính đề “Ngọc Lâm Tổ Đình”, hai cổng phụ lần lượt khắc chữ “Trí Tuệ” và “Từ Bi”. Các trụ biểu được trang trí hình tứ linh, nổi bật là phượng hoàng chầu đuôi vào giữa, vươn cao thanh thoát. Trên mái đắp nổi họa tiết “lưỡng long tranh châu”, đầu đao uốn cong với hoa văn hồi long mềm mại. Đôi câu đối chữ Nôm trước cổng thể hiện triết lý Phật giáo:

“Cửa từ bi đón khách siêu phương,
Đuốc trí tuệ soi đường giải thoát.”

Tòa Thượng điện có mặt bằng kiến trúc hình chữ Công (工), gồm 7 gian tiền bái và 3 gian hậu cung, kết cấu theo kiểu giá chiêng – chồng rường – con nhị, lợp ngói mũi hài truyền thống. Đây là không gian thờ tự trung tâm, bài trí hệ thống tượng pháp phong phú theo phong cách chùa Bắc Bộ: từ Tam thế Phật, Di Đà Tam Tôn, Linh Sơn Tam Thánh đến tượng Phật Mẫu Chuẩn Đề, Tuyết Sơn, Di Lặc, Ngọc Hoàng – Nam Tào – Bắc Đẩu, cùng tòa Cửu Long tái hiện cảnh đản sinh của Đức Phật. Hai bên còn thờ Chúa Ông, Thánh Hiền và các vị Hộ pháp, Kim Cương, Bồ Tát Địa Tạng, Quan Âm Thị Kính…

Hai dãy giải vũ (hành lang) chạy dọc hai bên, tạo sự cân đối và liên kết không gian nội tự.

Tổ đường là nơi thờ Tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử cùng chư vị Tổ sư qua các thời kỳ, ghi nhận công lao khai sơn, tạo tự.

Nhà Mẫu thờ hệ thống Công đồng Thánh đế và Tứ phủ, trong đó cung cấm thờ Mẫu Đệ Tam với bài vị “Thủy Tinh Xích Lân Thần Nữ”, thể hiện rõ sự giao thoa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian.

Vườn tháp Tổ gồm 8 tháp, nơi an trí xá lợi Phật và xá lợi chư vị Tổ sư, đồng thời có các tháp vọng thờ các bậc Tổ của thiền phái Yên Tử.

Miếu Đót thờ thần Cao Sơn Cao Các và tứ vị Thánh nương cửa Cờn Môn, những vị thần gắn với đời sống cư dân ven biển.

Nghè Phượng là chính cung thờ Thành hoàng làng Ngọc Lâm, phối thờ các thần linh bản địa như Sơn thần, Mộc thần, cá Ông phản ánh rõ tín ngưỡng sông nước của cư dân vùng biển.

Đền thờ Hưng Đạo Đại Vương Trần Hưng Đạo cùng Lục bộ nhà Trần, thể hiện sự tôn vinh các anh hùng dân tộc trong không gian chùa.

Tĩnh Thái Hư thờ Thái Thượng Lão Quân, cùng các vị thần như Sơn Tiêu Độc Cước, Tề Thiên Đại Thánh, cho thấy sự dung hợp giữa Phật giáo và Đạo giáo.

Ở sườn tây núi Phượng Hoàng có hang đá tự nhiên thờ Quan Âm Nam Hải, cùng Thiện Tài – Long Nữ, là nơi diễn ra các lễ lớn vào các ngày 19/2, 19/6 và 19/9 âm lịch.

Sườn đông dựng nhà Văn Thánh thờ Khổng Tử cùng Tứ phối và Thất thập nhị hiền, với các kỳ tế lễ Xuân Đinh và Thu Đinh theo truyền thống Nho giáo.

Trải qua chiến tranh cùng sự bào mòn của khí hậu khắc nghiệt vùng duyên hải, nhiều hạng mục kiến trúc xưa không còn giữ được nguyên trạng. Tuy vậy, những tư liệu Hán Nôm và dấu tích còn lại vẫn cho phép hình dung về một thời kỳ hưng thịnh của Tổ đình Ngọc Lâm, một trung tâm Phật giáo quan trọng của vùng biển Quỳnh Lưu, nơi hội tụ và dung hòa nhiều lớp văn hóa, tín ngưỡng trong lịch sử.

Hiện vật

1. Bệ sen gốm thời Tùy (Bắc thuộc, 581 – 619).

Trong những hiện vật được khai quật và phát hiện tại chùa, hiện nay còn lưu giữ được bệ sen chế tác hoàn toàn bằng gốm đất nung, chạm khắc vô cùng tinh tế, có trọng lượng khoảng 27kg. Đế sen là 1 khối hình tròn rỗng, phần thân tạo hình hai tầng đếm được tổng cộng có 37 cánh sen mềm mại, khắc họa bông sen đang độ khai mãn. Theo pháp số của nhà Phật, thì 37 cánh sen biểu trưng cho 37 phẩm trợ đạo, thể hiện cụ thể con đường tu tập, đưa tới giải thoát giác ngộ. Hai lớp cánh sen đan xen nhau tạo cảm giác uyển chuyển chân thực, xen kẽ giữa hai tầng cánh sen là đường chỉ nổi, điêu khắc diềm hoa dây mềm mại chạy quanh. Chiều cao của tổng thể tòa sen là 4 tấc 8 phân, biểu pháp cho 48 lời nguyện của Phật A Di Đà trong kinh Vô Lượng Thọ, bệ đài sen cao 1 tấc 2 phân, biểu pháp cho giáo lý thập nhị nhân duyên, đường kính chân đế 30 cm, đường kính miệng trên 40 cm, đường kính thân (chỗ lớn nhất ) là 5 tấc 2 phân biểu thị cho 52 nấc thang tu hành của Bồ tát đạo là: Thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, Bồ tát, Đẳng giác và cuối cùng là Bồ tát Diệu giác, tức quả vị Phật.

Một chi tiết độc đáo và đặc sắc của bệ sen, là trên tất cả các cánh sen đều được chạm khắc chìm hoa văn tinh tế, có điểm xuyết các vòng tròn nhỏ để tạo kiểu nền gấm hoa. Bao quanh các đường diềm của từng cánh sen, cũng được trang trí hoa văn rất công phu và sắc nét.

Tất cả các hoa văn trang trí trên bệ sen đều mang đậm dấu ấn đặc trưng của cổ vật thời Tùy vào khoảng thế kỷ thứ VI (581 – 619), cách đây gần 1500 năm. Hiện nay bệ sen cổ được nhà chùa bảo quản rất nghiêm ngặt.

2. Văn bia và rùa đá thời Ngô (938 – 955).

Tư liệu văn tự cổ nhất được phát hiện, chính là tấm bia đá cổ trong khuôn viên chùa. Qua quá trình điền dã, phân tích, khảo sát của các đoàn thể, nhà nghiên cứu đã xác định được niên đại của bia đá Chùa Ngọc Lâm có từ thời Ngô Quyền (938-944), được dựng vào ngày lành tháng Tý năm Tân Sửu (tức tháng 11 năm 941), ghi lại việc xây dựng mở mang ngôi chùa do người xưa để lại. Bia cao 2 m, rộng 0,8m không hoa văn diềm, Rùa bị mất đầu đắp lại bằng xi măng. Dòng văn bia nhiều nội dung, ghi lại việc sửa chữa chùa với quy mô lớn và ca ngợi địa linh nơi đây, tuy nhiên năm tháng đã mài mòn rất mờ. Trong những năm cải cách văn hóa, nhiều người dân địa phương tưởng rằng có vàng chôn bên trong rùa, nên đã làm mất đầu và bị gãy thân bia như hiện nay.

3. Giếng cổ thời Lý (1009 – 1225).
Đặc biệt, trong khuôn viên chùa còn lưu giữ được giếng cổ rất linh thiêng, dưới đáy giếng phát hiện có ván gỗ, khắc chữ:“順天甲子年開天造井” – “Thuận Thiên Giáp Tý niên khai thiên tạo tỉnh” cho chúng ta thấy giếng được đào vào năm 1024 triều đại vua Lý Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên. Như vậy, giếng cổ này có cách đây tròn 1000 năm. Giếng cổ này được bao bọc bởi lớp đá tảng cổ còn nguyên vẹn, bám lên trên lớp đá là những mảng rêu xanh rất cổ kính; có nhiều chỗ đá bị sụt, lộ ra lớp đất phía bên trong, như những hang đá nhỏ, giếng có chiều cao so với mặt đất là không bao nhiêu, chiều rộng tầm 1,5m, và có độ sâu tầm 3 tới 4m. Nhiều bậc cao niên trong làng cho biết: “Từ khi sinh ra và lớn lên giếng đã có từ lâu rồi. Lúc trước khi bà con nhân dân trong vùng chưa phát triển như bây giờ, thì nhà nào cũng dùng nước từ giếng chùa này”. Mùa mưa thì nước giếng dâng cao, chỉ cần dùng ca nhựa hay bất cứ vật dụng gì là có thể múc được nước, còn mùa nắng thì nước hơi thấp hơn phải dùng gàu để múc nước. Điều kỳ lạ, vào mùa khô hạn, các giếng nước của hộ dân quanh chùa đều cạn, nhưng long mạch của giếng chùa có nước quanh năm mát rượi không bao giờ cạn, có màu xanh bích, giếng nằm ngay dưới chân núi Phượng bởi vậy nước trong và ngọt, mùa đông lấy nước này sử dụng thì rất ấm, mùa hè mát.

Để lưu giữ nét độc đáo và bảo tồn được giếng cổ, năm 2014 nhà chùa đã cho khơi thông lại giếng và xây thành giếng cao hơn so với cũ. Còn kết cấu của giếng cổ vẫn được bảo tồn khá nguyên vẹn như trước. Chính những đặc điểm này càng tăng thêm giá trị của giếng cổ, dù trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, nhưng giếng cổ có tuổi thọ hàng nghìn trăm tuổi vẫn còn hiện hữu cho đến ngày nay. Có thể nói, dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử, trong đó có giai đoạn con người chủ ý tàn phá, Chùa Ngọc Lâm (An Thái) vẫn giữ được sự linh thiêng và những hiện vật có giá trị tâm linh và lịch sử.

4. Tượng Phật thời Hậu Lê và Tây Sơn.

Chùa còn lưu giữ được 06 pho tượng cổ, 04 pho tượng mang phong cách thời Hậu Lê (1427-1789), đó là pho tượng Phật Thích Ca và tượng Văn Thù, Phổ Hiền, tượng Tổ Đạt Ma. 02 Pho tượng Đức Chúa Ông và tượng Đức Thánh Hiền mang dáng dấp thời Tây Sơn (1778-1802).

Sự kiện và lễ hội

Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam, hình tượng Bồ Tát Quan Thế Âm với hạnh nguyện từ bi cứu khổ đã nhanh chóng hòa nhập với tín ngưỡng bản địa, đặc biệt là truyền thống mẫu hệ. Nhờ đó, tín ngưỡng Quan Âm lan tỏa sâu rộng, ăn sâu vào đời sống tinh thần của nhân dân, nhất là cư dân vùng biển.

Tại Quỳnh Lưu, chùa Ngọc Lâm (An Thái) từ lâu là trung tâm sinh hoạt tâm linh quan trọng. Trong tâm thức dân gian, Quan Âm là đấng che chở, cứu nạn và ban phúc, được tôn thờ phổ biến dưới hình tượng “Phật Bà”. Đặc biệt với ngư dân, niềm tin vào Quan Âm Nam Hải trở thành điểm tựa tinh thần mỗi khi ra khơi.

Từ đó, Lễ hội Quan Âm Nam Hải được phục dựng và tổ chức hằng năm (18–21/9 âm lịch), cùng các ngày vía Quan Âm (19/2, 19/6). Lễ hội gồm nhiều nghi thức truyền thống như rước kiệu, nghinh thỉnh các thần linh sông nước, cầu bình an và thuận lợi cho ngư dân. Phần hội phong phú với các hoạt động diễn xướng dân gian và trò chơi truyền thống, góp phần tôn vinh đời sống lao động và văn hóa miền biển.

Ngày nay, lễ hội còn gắn với các hoạt động xã hội như phóng sinh tái tạo nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường, tuyên truyền chủ quyền biển đảo. Qua đó, chùa Ngọc Lâm không chỉ là không gian tín ngưỡng mà còn là nơi kết nối truyền thống văn hóa với đời sống đương đại.

Tài liệu tham khảo

  1. Tài liệu lịch sử chùa An Thái do Đại đức Thích Minh Hải, trụ trì chùa cung cấp.
  2. Tài liệu phỏng vấn Đại đức Thích Minh Hải ngày 1/5/2026, lưu trữ tại Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa và Ứng dụng.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Name and Geographical Location

An Thai Pagoda, also known as Ngoc Lam Patriarchal Temple (To dinh Ngoc Lam), is a long-standing Buddhist establishment in Nghe An. In folk usage, it is also called Chua Dot, named after the abundance of dot grass that once grew in the surrounding area. The name Ngoc Lam is associated with the ancient village, while the name Phuong Son Pagoda derives from its geographical setting at the foot of Phuong Mountain, following the geomantic principle of “backed by mountains – facing water,” with its rear leaning against Phuong Hoang Mountain and its front oriented toward the East Sea.

In terms of historical administrative divisions, the pagoda was formerly located in Ke Kien region, Ngoc Lam commune, Thanh Vien canton, Quynh Luu district, Dien Chau prefecture, Nghe region. Today, it is situated in Minh Thanh hamlet, Quynh Phu commune, Nghe An province.

History and Figures

Historical sources and surviving artifacts indicate that An Thai Pagoda has very early origins, possibly dating back to the early centuries CE. Through periods of Chinese domination and successive independent dynasties, the pagoda was continuously restored and expanded, gradually forming its architectural scale and identity. Surviving statues and worship structures suggest that the pagoda flourished during periods such as the Ngo Quyen era, the Tran dynasty, and the Early Le dynasty—times when Buddhism held a prominent place in social and spiritual life.

In the modern era, the pagoda’s history is closely associated with the Venerable Thich Thanh Ban, a highly influential religious figure and patriot. Under his leadership, the pagoda became not only a Buddhist center but also an important revolutionary base during 1930–1945. Amid severe colonial repression, it served as a site for printing documents, storing weapons, constructing secret shelters, and hosting meetings and communications. Despite repeated persecution and torture, the Venerable, together with monks and followers, steadfastly protected the revolutionary movement.

During the Nghe Tinh Soviet movement (1930–1931), the pagoda actively participated in local struggles, including seizing grain supplies to relieve famine and raising funds for revolutionary activities. In 1935, Venerable Thich Thanh Ban helped establish the An Nam Buddhist Association of Nghe Tinh.

In 1943–1944, the pagoda continued to serve as a secret base for the Viet Minh. However, it was discovered and attacked by French forces, leading to destruction and arrests, including that of the Venerable. Despite imprisonment and torture, he remained steadfast and unyielding.

After the August Revolution, the pagoda continued supporting resistance efforts. In 1946, responding to Ho Chi Minh’s call for national resistance, it mobilized contributions of salt and food supplies. It also hosted a local Party cell, literacy classes, militia training, and served as a logistical hub during the Dien Bien Phu campaign. During the war against the United States, it continued to function as a rear support base.

After the war, the pagoda fell into disrepair due to bombing and social changes. From the 1980s–1990s, local residents and Buddhists gradually restored it. A major turning point came in 2012, when Venerable Thich Minh Hai became abbot, leading large-scale reconstruction including Patriarch Hall, stupa garden, lecture hall, Buddha platform, bell tower, Mother Goddess shrine, and Four Gratitudes hall.

Since 2018, the pagoda has served as the headquarters of the Quynh Luu District Buddhist Sangha, affirming its regional importance. During the COVID-19 pandemic, it functioned as a quarantine center, with monks actively supporting public health efforts.

For his contributions, Venerable Thich Thanh Ban was posthumously awarded the Great National Unity Order. Today, An Thai Pagoda stands as both a religious site and a historical monument, reflecting the close relationship between Buddhism and national life.

Architectural Landscape

Based on inscriptions and historical documents, An Thai Pagoda was once a large and complete architectural complex typical of coastal North Central Vietnam, harmoniously arranged according to geomantic principles.

Key components include:

Tam Quan Gate: Two-tiered structure with a large bell weighing 108 can. The main gate bears the inscription “Ngoc Lam To Dinh,” with side gates labeled “Tri Tue” (Wisdom) and “Tu Bi” (Compassion). Decorative motifs include the four sacred animals, phoenix imagery, and “two dragons contending a pearl.”
Main Hall (Thuong Dien): Built in the “cong-shaped” layout (工), with seven front compartments and three rear compartments. It houses a rich system of statues including Tam The Phat, Amitabha triad, Linh Son triad, Chuan De, Maitreya, Jade Emperor, and others.
Side Corridors (Giai Vu): Symmetrical halls connecting the main structure.
Patriarch Hall: Dedicated to the Truc Lam Zen lineage and founding monks.
Mother Goddess Shrine: Reflecting integration of folk beliefs.
Stupa Garden: Contains relics and memorial stupas.
Dot Shrine: Worships local deities associated with coastal life.
Phuong Shrine: Dedicated to village tutelary spirits.
Temple of Tran Hung Dao: Honoring the national hero.
Daoist Shrine (Tinh Thai Hu): Demonstrates religious syncretism.
Cave Shrine (west slope): Natural cave dedicated to Avalokitesvara (Quan Am Nam Hai).
Confucian Shrine (east slope): Dedicated to Confucius and scholars.

Although many structures have been damaged over time, surviving materials allow reconstruction of its once-flourishing state.

Artifacts
Sui Dynasty Lotus Pedestal (581–619)
A finely crafted terracotta lotus pedestal (27 kg) with 37 petals symbolizing the 37 aids to enlightenment. Its dimensions and symbolism correspond to Buddhist cosmology and practice stages.
Ngo Dynasty Stele and Stone Turtle (938–955)
A large stone stele dating to 941 records early construction and praises the sacred site.
Ly Dynasty Ancient Well (1024)
A sacred well dating to the reign of Ly Thai To, with water flowing year-round, considered spiritually significant.
Le and Tay Son Dynasty Statues
Six preserved statues, including Shakyamuni, Manjusri, Samantabhadra, Bodhidharma, and others.
Events and Festivals

From early times, Avalokitesvara worship merged with local beliefs, especially among coastal communities. At Ngoc Lam Pagoda, Quan Am is revered as a protector and benefactor, particularly by fishermen.

The Quan Am Nam Hai Festival is held annually (18–21/9 lunar calendar), along with key commemorative days (19/2, 19/6). Rituals include processions, water deity invocations, and prayers for safety.

The festival also features folk performances and community activities, and today includes environmental protection initiatives and marine conservation awareness.

Thus, Ngoc Lam Pagoda functions as both a religious center and a cultural bridge connecting tradition with modern life.

References

  1. Tài liệu lịch sử chùa An Thái do Đại đức Thích Minh Hải, trụ trì chùa cung cấp.
  2. Tài liệu phỏng vấn Đại đức Thích Minh Hải ngày 1/5/2026, lưu trữ tại Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa và Ứng dụng.

Tiếng Pháp (Français)

Dénomination et localisation géographique

La pagode An Thai, également connue sous le nom de To dinh Ngoc Lam, est un établissement bouddhique ancien de la province de Nghe An. Dans la tradition populaire, elle est aussi appelée pagode Dot, en raison de la présence autrefois abondante de plantes dot dans ses environs.

Le nom Ngoc Lam est associé à l’ancien village, tandis que l’appellation Phuong Son provient de sa situation géographique : la pagode est située au pied de la montagne Phuong, selon une configuration « adossée à la montagne – tournée vers l’eau », avec l’arrière appuyé sur la montagne Phuong Hoang et la façade orientée vers la mer de l’Est.

Sur le plan administratif, autrefois la pagode appartenait à la région de Ke Kien, commune Ngoc Lam, canton Thanh Vien, district Quynh Luu, préfecture Dien Chau, région Nghe. Aujourd’hui, elle est située dans le hameau Minh Thanh, commune Quynh Phu, province Nghe An.

Histoire et personnages

Les sources historiques et les vestiges conservés indiquent que la pagode An Thai possède une origine très ancienne, remontant possiblement aux premiers siècles de notre ère. À travers les périodes de domination étrangère et les dynasties féodales indépendantes, elle fut continuellement restaurée et agrandie, affirmant progressivement son importance architecturale et religieuse.

Les traces présentes dans les systèmes de statues et d’architecture témoignent d’un développement florissant sous différentes périodes, notamment sous Ngo Quyen, sous la dynastie Tran et au début de la dynastie Le, époques où le bouddhisme occupait une place majeure dans la société.

À l’époque moderne, l’histoire de la pagode est étroitement liée à la figure du Dai lao Hoa thuong Thich Thanh Ban, personnalité influente tant sur le plan religieux que patriotique. Sous sa direction, la pagode devint non seulement un centre bouddhique, mais aussi une base révolutionnaire durant la période 1930–1945. Elle servit à l’impression de documents, au stockage d’armes, à la construction de refuges secrets et à l’organisation de réunions clandestines.

Malgré les persécutions, arrestations et tortures, le vénérable et la communauté bouddhique restèrent fermes dans leur engagement.

Durant le mouvement Xo Viet Nghe Tinh (1930–1931), la pagode participa activement aux luttes populaires : redistribution de vivres, soutien matériel à la révolution, collecte de fonds et de médicaments. En 1935, elle contribua à la fondation de l’Association bouddhique An Nam dans la province.

Entre 1943 et 1944, elle continua d’être un centre clandestin du Viet Minh, avant d’être découverte et détruite par les forces coloniales, avec l’arrestation de nombreux militants, dont Thich Thanh Ban.

Après la Révolution d’Août, la pagode poursuivit son engagement : en 1946, elle mobilisa des ressources importantes pour soutenir la résistance nationale. Elle servit également de centre éducatif, de formation de milices et de base logistique durant la campagne de Dien Bien Phu, puis continua son rôle durant la guerre contre les États-Unis.

Après les guerres, la pagode tomba en ruine, avant d’être progressivement restaurée à partir des années 1980–1990. Une étape majeure eut lieu en 2012 avec la nomination du venerable Thich Minh Hai comme abbé, sous la direction duquel de nombreux travaux furent entrepris.

Depuis 2018, la pagode est devenue le siège de l’Association bouddhique du district Quynh Luu. Durant la pandémie de COVID-19, elle fut utilisée comme centre de quarantaine, illustrant l’engagement social du bouddhisme.

Pour ses contributions historiques, le vénérable Thich Thanh Ban a été décoré à titre posthume de l’Ordre de la Grande Union nationale.

Architecture et paysage

D’après les inscriptions et documents anciens, la pagode An Thai était autrefois un vaste complexe architectural typique des régions côtières du Centre-Nord, organisé selon le principe « adossé à la montagne – tourné vers la mer ».

Le complexe comprenait :

Tam Quan : porte à deux étages avec une cloche de 108 can, inscriptions « Ngoc Lam To Dinh », « Tri Tue », « Tu Bi », décorations de dragons et phénix.
Sanctuaire principal (forme 工) : 7 travées antérieures et 3 postérieures, toiture traditionnelle, abritant un riche ensemble de statues (Tam The Phat, Di Da Tam Ton, Chuan De, Di Lac, Ngoc Hoang…).
Galeries latérales assurant la symétrie.
Maison des patriarches dédiée à l’école Truc Lam Yen Tu.
Temple des Deesses Meres reflétant les croyances populaires.
Jardin de stupas (8 tours reliquaires).
Sanctuaires secondaires : Dot, Nghe Phuong, temple de Tran Hung Dao, Tinh Thai Hu (influence taoïste).
Grotte de Quan Am Nam Hai sur le flanc ouest.
Temple confucéen sur le flanc est.

Malgré les destructions, les vestiges permettent de reconstituer l’importance historique et culturelle du site.

Objets conservés

Socle de lotus en céramique (dynastie Sui, VIe–VIIe siècle) : riche symbolisme bouddhique (37 facteurs d’éveil, 48 vœux d’A Di Da, 52 étapes du bodhisattva).
Stèle et tortue de pierre (époque Ngo, Xe siècle) : inscription datant de 941.
Puits ancien (dynastie Ly, 1024) : source sacrée, utilisée jusqu’à aujourd’hui.
Statues anciennes :
époque Hau Le : Thich Ca, Van Thu, Pho Hien, Dat Ma
époque Tay Son : Chua Ong, Thanh Hien

Événements et fêtes

La pagode est un centre majeur du culte de Quan Am, particulièrement important pour les populations côtières.

Le festival Quan Am Nam Hai est organisé chaque année (18–21/9 lunaire), accompagné des jours sacrés (19/2, 19/6). Il comprend :

processions
rituels maritimes
prières pour la sécurité des pêcheurs

Les festivités incluent également des activités culturelles et traditionnelles.

Aujourd’hui, ces événements intègrent des actions sociales et environnementales, contribuant à la protection des ressources marines et à la sensibilisation à la souveraineté maritime.

Références

  1. Tài liệu lịch sử chùa An Thái do Đại đức Thích Minh Hải, trụ trì chùa cung cấp.
  2. Tài liệu phỏng vấn Đại đức Thích Minh Hải ngày 1/5/2026, lưu trữ tại Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa và Ứng dụng.

Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

安泰寺,又称玉林祖庭,是义安地区一座历史悠久的佛教寺院。在民间,寺庙亦被称为“Đót寺”,因周边过去生长有大量“đót”植物而得名。“玉林寺”之名源于古村名称,“凤凰山寺”则源于其地理位置——寺庙坐落于凤凰山脚下,地势呈“依山面水”,背靠凤凰山,面向东海。

从历史行政区划来看,寺庙旧属乞建地区,玉林社,清园总,琼流县,演州府,乂安处。现今寺庙位于义安省琼富社明城村。

历史与人物

现存史料与文物表明,安泰寺起源极早,可追溯至公元初期。历经北属时期及各封建王朝,寺庙不断得到修缮与扩建,逐步形成规模与建筑形态。从现存佛像与建筑遗迹来看,寺庙曾在吴权时期、陈朝及前黎朝等阶段达到兴盛,这些时期佛教在社会精神生活中占据重要地位。

进入近现代,寺庙历史与释清本大老和尚紧密相连。他在当地宗教与爱国运动中具有深远影响。在其领导下,寺庙不仅是佛教中心,还成为1930—1945年间的重要革命据点。在殖民与封建压迫下,寺庙被用于印刷文件、藏匿武器、设置秘密地道,并作为联络与会议场所,掩护革命干部。尽管多次遭受搜捕与严刑拷打,僧众与信徒依然坚守阵地,保护革命力量。

在1930—1931年义静苏维埃运动期间,寺庙积极参与沿海地区群众斗争,包括开仓救济、筹集物资、购买武器与药品等。至1935年,释清本和尚参与成立乂静佛学会。

1943—1944年间,寺庙继续作为越盟秘密活动地点,但后被法军发现并遭破坏,多人被捕,其中包括释清本和尚。即便在狱中,他仍保持坚定气节,不屈不挠。

八月革命后,寺庙继续参与抗战。1946年响应胡志明号召,动员群众捐献大量盐与粮食支援前线,同时成为地方党支部成立地、扫盲教育点、民兵训练基地及后勤中转站,并参与支援奠边府战役。在抗美战争中,寺庙继续发挥后方支持作用。

战后,由于战争破坏与社会变迁,寺庙一度荒废。20世纪80—90年代开始逐步恢复。2012年释明海大德担任住持后,寺庙得到全面修复,建设祖堂、塔园、讲堂、佛台、钟楼、母殿等,形成完善格局。

2018年起,寺庙成为琼流县佛教会所在地,确立区域佛教中心地位。在新冠疫情期间,寺庙还被用作集中隔离点,僧众参与防疫工作,体现佛教入世精神。

因其历史贡献,释清本大老和尚被追授“民族大团结勋章”。如今,安泰寺不仅是宗教遗址,也是重要历史见证。

建筑与景观

根据现存碑刻与古籍,安泰寺曾是规模宏大的完整建筑群,体现北中部沿海古寺风格。整体布局依“依山面水”而建,空间庄严开阔。

主要建筑包括:

山门(三关):两层结构,上悬108斤大钟。正门题“玉林祖庭”,侧门为“智慧”“慈悲”。装饰四灵纹样,屋脊为“双龙争珠”。门前对联体现佛教思想:“慈门迎客超方,慧炬照路解脱。”
上殿(正殿):呈“工”字形布局,含七间前殿与三间后殿,结构为传统木架。供奉体系丰富,包括三世佛、阿弥陀三尊、灵山三圣、准提佛母、弥勒、玉皇等。
两侧回廊(解宇):连接空间,形成整体平衡。
祖堂:供奉竹林三祖及历代祖师。
母殿:供奉四府圣母体系,体现民间信仰融合。
塔园:共有8座塔,供奉舍利与祖师。
Đót庙:供奉高山神及海神。
凤凰祠:供奉村社城隍及自然神。
兴道王祠:供奉陈兴道及陈朝人物。
太虚静:供奉道教神祇,体现三教融合。
观音洞:位于山体,供奉南海观音。
文圣祠:供奉孔子及儒家贤人。

尽管部分建筑因战争损毁,但遗迹仍展现昔日辉煌。

文物

隋代陶莲座(581–619)
重约27公斤,雕刻37瓣莲花,象征佛教“37道品”。高度、结构均具有象征意义,体现深厚佛教哲理。
吴代石碑与石龟(10世纪)
建于941年,记录寺庙修建历史,虽已残损,仍具重要史料价值。
李代古井(1024年)
井水四季不竭,具有重要生活与精神意义,至今仍保存完好。
后黎与西山时期佛像
共6尊,体现不同历史时期艺术风格。

事件与节庆

观音信仰自早期传入越南后,与母系信仰融合,广泛流传,尤其在沿海地区具有重要地位。

玉林寺长期为精神中心,观音被视为救苦救难之神,渔民尤为信仰“南海观音”。

每年农历9月18—21日举办观音南海节,同时还有2月19、6月19等观音诞辰日。活动包括迎神、祈福及民俗表演。

现代节庆还结合放生、环保与海洋主权宣传,使传统与现代融合。

参考资料

  1. Tài liệu lịch sử chùa An Thái do Đại đức Thích Minh Hải, trụ trì chùa cung cấp.
  2. Tài liệu phỏng vấn Đại đức Thích Minh Hải ngày 1/5/2026, lưu trữ tại Trung tâm Nghiên cứu Văn hóa và Ứng dụng.
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
53

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)