Chùa Bích Động (Gia Viễn, Ninh Bình)

Chùa Bích Động (Gia Viễn, Ninh Bình)

Thông tin cơ bản

Chùa Bích Động nằm trong rặng núi đá vôi Trường Yên thuộc xã Ninh Hải, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây là một di tích lịch sử văn hóa thuộc Quần thể danh thắng Tràng An, Tam Cốc – Bích Động đã được xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và UNESCO công nhận là di sản thế giới. “Khu danh thắng này đã được gọi là “Nam Thiên đệ nhị động””[1].

Lịch sử

Theo Đại Nam nhất thống chí: “Núi Bích Động ở địa phận xã Đam Khê, huyện Yên Mô, trong núi có động, nhũ đá tua tủa ngắn dài, soi đuốc thấy lóng lánh như pha lê. Ngoài cửa động có hai núi nhỏ đứng sững gọi là núi Tam Quan, người ta tất phải do núi này mới vào được trong động. Đời Lê Vĩnh Thịnh (1705-1719), có hai nhà sư là sư Trí Kiên, và sư Trí Thể dựng ba ngôi chùa Thượng, Trung, Hạ ở trong động, có khắc hai chữ “Bích động” vào vách đá, nay vẫn còn”[2]. Viết chi tiết thêm về chùa Bích Động, tác giả cho biết: “hai ngôi chùa Thượng và chùa Trung đều nhân động núi để làm chùa, còn ngôi chùa Hạ thì do nhân công, hai nhà sư Trí Kiên và Trí Thể xây dựng, cũng là nơi danh thắng”[3].

Vào cuối năm Giáp Ngọ, tức năm 1774, sau khi dẫn quân đi tuần hành ở biên giới trở về, chúa Trịnh Sâmtể tướng Nguyễn Nghiễm đã ghé thăm chùa. Chúa Trịnh Sâm đã đặt tên cho chùa là Bích Động, một dòng chữ nhỏ ở bên chữ Bích Động ghi “Nhật nam nguyên chủ đặc bút” chính là tên hiệu của chúa Trịnh Sâm. Dòng chữ nhỏ nữa khắc bên phải chữ Bích Động là “Nguyễn Nghiễm phụng đề” là tên người viết chữ. Tể tướng Nguyễn Nghiễm chính là thân sinh đại thi hào Nguyễn Du, người làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, đỗ Hoàng Giáp năm Vĩnh Khánh thứ 3, tức năm 1731, đã tuân phụng mệnh lệnh của chúa Trịnh Sâm mà viết chữ này. Hai chữ Hán lớn “Bích Động” do tể tướng Nguyễn Nghiễm viết là một tác phẩm nghệ thuật của con người gắn liền với kiệt tác của thiên nhiên. Nhờ có lời vàng của chúa Trịnh Sâm, thư pháp xuất sắc của tể tướng Nguyễn Nghiễm, cảnh trí chùa Bích Động thêm phần cổ kính, trang nghiêm.

Kiến trúc

Chùa Bích Động được xây dựng theo kiểu chữ Tam, ba toà không liền nhau, tam cấp dọc theo sườn núi, dựa vào thế núi từ thấp lên cao thành 3 ngôi chùa riêng biệt: Hạ, Trung và Thượng. Điều độc đáo của chùa Bích Động là núi, động và chùa bổ sung cho nhau, lại ẩn hiện giữa những cây đại thụ xanh biếc, làm cho chùa hoà nhập với cảnh trí thiên nhiên ngoại mục. Toàn cảnh như một bức tranh núi rừng hùng tráng, dát lên một phù điêu gồm 3 ngôi chùa cổ kính, mái ngói rêu phong, có đủ 8 cảnh đẹp mà người xưa đã gọi là Bích sơn bát cảnh, ba chùa lại được xây trên sườn núi cao, dưới gầm lại có động Xuyên Thủy.

Chùa Hạ

Chùa Hạ có 5 gian xây trên một nền cao dưới chân núi. Trong chùa thờ phật, kiến trúc chùa theo kiểu chữ Đinh. Vì kèo, xà ngang, xà dọc cũng bằng gỗ lim. Mái chùa là hai tầng mái uốn cong, gồm 8 mái. Các cột đá ở chùa hạ đều bằng đá liền một khối, không chắp nối, cao hơn 4m, làm được những cột đá như thế là một kỳ công.

Tại chùa Hạ, một bức Đại tự bằng chữ Hán ở chính giữa có ghi “Thanh thản cổ mộ” để nói lên cái tâm chính của chùa là thanh bạch từ xưa đến nay. Trên cùng là tòa tam thế. Ba bức tượng đại diện cho ba đời chư Phật. Kế đến là bộ tượng Tây Phương Tam Thánh, ngồi chính giữa là đức Phật Di Đà, bên phải là Quan Âm Bồ Tát, bên trái là Đại Thế Chí Bồ Tát.

Vị ngồi hàng thứ ba là Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn. Hàng thứ tư là tượng Thích Ca sơ sinh. Tám vị tướng mặc võ phục đứng bên phải là Bát Đại Kim Cương, đứng bên trái là đại diện cho tứ trực công tào – khuyến làm việc thiện, trừng trị cái ác, coi xét việc nhân quả ở cõi người. Cuối cùng là ba vị ngồi bên trái là Trí Kiên, Trí Thể và Trí Tâm – ba vị đại sư đã có công thành lập và xây dựng nên chùa Bích Động. Hai tượng bên ngoài là Nam Tào – Bắc Đẩu, coi xét sổ sanh tử. Tấm bia lớn bằng đá bên phải là tên những người đóng góp xây dựng chùa Bích Động.

Chùa Trung

Từ chùa Hạ bước lên 120 bậc theo đường hình chữ S tới lưng chừng dãy núi Ngũ Nhạc là chùa Trung. Ngay phía trước là hai chữ Bích Động tạc vào vách núi. Đây là một chùa rất độc đáo, ít nơi có được, một nửa gắn vào hang động, một nửa lộ thiên, chùa có 3 gian thờ phật. Lễ Phật xong ở Thượng điện, bước lên 21 bậc đá là đến động Tối. Đây là động chính, thâm nghiêm, tĩnh mịch, thiên nhiên đã miệt mài bao đời chau chuốt tỉ mỉ vô cùng tinh tế sắc sảo đến từng chi tiết nhỏ để tạo nên những ông tiên, cô tiên, tiểu đồng, rồng lượn, rùa bơi, voi chầu, hổ phục…

Phía trên của mái chùa có mười chữ Hán màu vàng là: Già Lam Thần Đại Hùng Bảo Điện Nam Thiên Tổ – nghĩa là tất cả các vị sư tổ ở trời Nam này đều xuất phát từ chùa Bích Động ra đi. Về mặt bài trí ở chùa Trung, PhậtThích Ca Mâu Ni có cửu long phù giá. Hai tượng ngồi phía ngoài là Văn Thù Bồ Tát, bên trái là Phổ Hiền Bồ Tát, bên trong chính cung là tượng thờ A-nan-đà tôn giả, còn được gọi là Đức Thánh hiền v.v… 

Chùa Thượng

Lên chùa Thượng, du khách phải bước tới gần 40 bậc đá theo sườn núi. Chùa Thượng còn gọi là chùa Đông, chùa thờ Quan Âm Bồ Tát. Đây là ngôi chùa nằm ở vị trí cao nhất, gần đỉnh núi Bích Động. Từ chùa Thượng nhìn ra xa có 5 ngọn núi đứng độc lập chầu về núi Bích Động, trông giống như 5 cánh hoa Sen, gọi là Ngũ Nhạc Sơn, gồm núi Tầm Sặng, núi Gia Định, núi Con Lợn, núi Đầu Cầu và núi Hang Dựa.

Bích động là một ngôi chùa độc nhất vô nhị ở Việt Nam, không nơi nào có thế đất, thế núi như vậy. Chùa Thượng có hai miếu hai bên: bên phải thờ Thổ Địa, bên trái thờ Đức Sơn Thần. Cạnh chùa có một bể nước gọi là “bể nước Cam Lộ” của Quan Âm Bồ Tát. Phía trước là cánh đồng Ngũ Môn. Đứng trên chùa Thượng có thể phóng tầm mắt bao quát được toàn bộ cảnh đẹp của chùa Bích Động, không những đẹp về phong cảnh duyên dáng hữu tình, về nghệ thuật văn hóa- kiến trúc, mà nơi đây còn mang ý nghĩa là một di tích lịch sử của tỉnh Ninh Bình.

Hang động

Động Tối

Phía sau chùa Trung, lên 20 bậc đá là đến Động Tối. Ở động có treo một quả chuông do hai nhà sư Trí Kiên và Trí Thể cho đúc vào năm 1707. Trong động còn có 3 pho tượng Phật bằng đá, nhũ đá hình rùa lớn và các khối đá gõ vào có tiếng như tiếng mõ[4]. Bài Minh Bia ghi trên chuông được xem là bài minh bia của chùa, viết bằng chữ Hán, trong đó có đoạn:

Tư sơn lũy tích

Phúc ngộ thiên duyên

Khai sơn tạc thạch

Uẩn khí lưu truyền

Dịch nghĩa:

Từng lên núi ấy

Có phúc, có duyên

Mở núi, đục đá

Tịnh khí lưu truyền

Dưới nền hang nhỏ này có nhũ đá giống như hình con rùa và đặc biệt có hai khối đá kỳ lạ, gõ vào kêu như tiếng mõ, một hòn nghe tiếng trầm, một hòn nghe tiếng thanh. Động Tối cũng là chùa thờ Phật. Đó là ngôi chùa thiên tạo.

Xuyên Thủy động

Xuyên Thủy động là một động tối và ngập nước nằm dọc theo chiều dài Bích Động, xuyên qua gầm núi chùa Bích Động. Xuyên Thủy động như một đường ống hình bán nguyệt bằng đá dài khoảng 350m uốn lượn từ phía Đông sang phía Tây. Bình quân bề rộng của Xuyên Thủy động là 6m, chỗ rộng nhất là 15m. Trần và vách động thường bằng phẳng, tạo hoá như xếp từng phiến đá lớn thành mái vòm cung, bán nguyệt với muôn hình vạn trạng.

Lối vào Xuyên thủy động ở phía sau núi, đối diện với đường vào Bích Động. Tại điểm kết thúc hành trình xuyên thủy động, du khách có thể leo núi để tới động và chùa Bích Động.

Chùa đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử – văn hóa quốc gia.

 —————–

Chú thích

[1] Võ Văn Tường, 108 danh lam cổ tự Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, 2007, tr. 123.

[2] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr. 292.

[3] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Sđd, tr. 320.

[4] Võ Văn Tường, 108 danh lam cổ tự Việt Nam, Sđd, tr. 123.

Tham khảo

Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr. 292.

Võ Văn Tường, 108 danh lam cổ tự Việt Nam, Nxb Thuận Hóa, 2007, tr. 123.

Wikipedia: https://vi.wikipedia.org/wiki/Ch%C3%B9a_B%C3%ADch_%C4%90%E1%BB%99ng

5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)