Chùa Bồ Hà (Triệu Sơn, Thanh Hoá)

Chùa Bồ Hà (Triệu Sơn, Thanh Hoá)

Chùa Bồ Hà ở làng Bồ Hà, xã Dân Quyền, huyện Triệu Sơn, tên chùa là gọi theo địa danh làng Bồ Hà đây là cách mà nhân dân thường gọi để phân biệt với các chùa khác trong vùng.

Vị trí địa lý

Dân Quyền là một xã nằm về phía đông bắc của huyện Triệu Sơn, cách thành phố Thanh Hóa 15 km, có thể nói là xã địa đầu của huyện có đường Quốc lộ 47 chạy qua, là xã có đông dân và có nền kinh tế phát triển cả thương nghiệp và nông nghiệp vì vậy nhu cầu về văn hóa tinh thần rất được quan tâm và phát triển. 

Làng Bồ Hà còn gọi là làng Bồ đầu thế kỷ XIX, thời vua Gia Long (1802 – 1819) là xã Bồ Hà thuộc tổng Đô Xá, huyện Nông Cống, phủ Tĩnh Gia, trấn Thanh Hoa; thời vua Đồng Khánh (1885 – 1888) cho đến sau Cách mạng tháng Tám, vẫn là đơn vị hành chính xã thuộc tổng Đô Xá, huyện Nông Cống; từ ngày 1 tháng 6 năm 1946 đến tháng 1 năm 1948, Bồ Hà thuộc xã Tam Đa; từ năm 1948 đến năm 1953 thuộc xã Tú Dân, huyện Nông Cống; tháng 3 năm 1953 khi phân chia lại địa giới hành chính, làng Bồ Hà thuộc xã Dân Quyền, huyện Triệu Sơn.

Cảnh quan kiến trúc

Cho đến nay chưa có tài liệu nào nói về việc xây dựng chùa Bồ Hà, theo các cụ cao tuổi thì chùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVI, đầu thế kỷ XVII. Lúc đầu chùa gồm có các công trình: cổng Tam quan, sân chùa, Tiền đường và Hậu cung. Tiền đường và Hậu cung kết cấu hình chữ Đinh (J), tất cả được làm bằng gỗ, nhưng qua quá trình tồn tại và phát triển cùng với sự thăng trầm của đất nước, ngôi chùa này đã bị hủy hoại vào khoảng năm 1953. Năm 2001, được sự đồng ý của chính quyền các cấp với lòng hảo tâm của bà con nhân dân và du khách thập phương, ngôi chùa mới được dựng lên trên nền đất cũ. Chùa gồm có 3 gian với 4 bộ vì kèo suốt gác chếnh, hệ thống tượng thờ mới được đưa vào chùa để thờ tự. 

Chùa Bồ Hà ngày nay với không gian và cảnh quan kiến trúc như sau:

Đường vào chùa là một lối đi rộng 2m dài 20m được láng bê tông. Bên phải đường vào chùa có một tấm bia đá, qua thời gian bia đá đã bị mòn hết chữ. Theo các cụ cho biết thì đây là bia Hậu (bia cung tiến xây dựng chùa). Tuy chữ trên bia đã bị mòn nhưng về hình dáng của bia, các đường diềm trang trí và hình dáng bia như sau: Chóp mũ bia hình tròn theo kiểu mũ trụ có kích thước chiều cao 0,15m, đường kính 0,1m; mũ bia (mái bia) hình tứ giác có 4 cạnh đều nhau, ở 4 góc có 4 sọc nổi hai bên nẹp rộng 2cm bao quanh có hoa văn đao lửa, mái có chiều cao 0,7m chiều rộng 4 cạnh bằng nhau là 1,2m; thân bia hình hộp chữ nhật chiều cao 1,2m, chiều rộng 0,65m bốn mặt đều có chữ nhưng hiện nay chữ đã bị mờ hết.

Đế bia có chiều cao 0,6m, chiều rộng bốn cạnh bằng nhau là 1,2m, được chia làm 4 cấp (gờ), trên cùng giáp với đáy gia là gờ giật rộng 0,07m so với thân bia, chiều cao 0,03m; lớp thứ hai cao 0,03m, rộng hơn lớp trên 0,05m; lớp thứ ba có chiều cao 0,1m, chiều rộng 0,15m, hình sống dừa, đây là lớp quan trọng nhất vì trên lớp này có hoa văn hình cánh cánh sen kép bao quanh; lớp thứ tư rộng hơn lớp thứ ba 0,1m, chiều cao 0,65m có nhiều chỗ bị sứt. Tấm bia đá này về hình dáng còn tương đối nguyên vẹn, nhưng phần nội dung văn bia thì đã mờ nhạt không nhìn thấy chữ. Căn cứ vào kiểu dáng của bia cùng với lời kể của các cụ cao tuổi trong làng cho biết tấm bia đá này được dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVI đầu thể kỷ XVII.

Sân chùa là khoảng sân được láng bê tông có chiều dài 7m chiều rộng 4m.

Chùa chính hiện nay là ngôi nhà 3 gian chiều dài 7m, chiều rộng 3,7m, được làm đơn giản kèo suốt gác chếnh, mái lợp ngói máy.

Thờ tự

Chính giữa là ban thờ đúc bằng bê tông ốp gạch. Cấp trên cùng (sát tường) đặt tượng đức Phật Thích Ca bằng gỗ, tượng có chiều cao 0,9m, chiều rộng 0,55m, tòa sen cao 0,3m, rộng 0,7m, tượng tạc theo thếCát tường tọa. Tương truyền đây là thế ngồi khi Thích Ca Mâu Ni thành đạo dưới gốc Bồ Đề, tay trái đặt ngang trên bàn chân phải, tay phải co vòng lên trên ngón trỏ chỉ lên gọi là thuyết pháp ấn”. Đây là tư thế mô phỏng Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp.

Cấp thứ hai là tượng Thiên Thủ Thiên Nhãn, tượng ngồi trên tòa sen có các cánh tay vươn ra. Thiên Thủ Thiên Nhãn thường được dân gian hiểu là: có nghìn mắt, nghìn tay để nhìn thấu mọi nỗi khổ và đưa tay cứu giúp được mọi khổ hạnh của chúng sinh. Điều đó cũng được lý giải trên cơ sở sáu căn đều diệu dụng (lục căn diệu dụng), tức là bất cứ một căn nào trong sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) cũng có thể thay thế tác dụng của các căn còn lại, thế nên không chỉ dùng mắt quán âm thanh mà còn có thể quán sắc, quán hương, quán vị, quán xúc và quán pháp. 

Lớp dưới có bát hương, mâm bồng và các đồ tế lễ.

Bên tả chùa có một ban thờ Mẫu, lớp trên cùng, sát tường là tượng Tam tòa Thánh Mẫu. Tượng chính giữa là Mẫu Thượng Thiên mặc yếm màu đỏ ngồi chính giữa. Bên tả là tượng Mẫu Thượng Ngàn mặc yếm màu xanh; bên hữu là tượng Mẫu Thoải mặc yếm màu trắng. Cả ba pho tượng này đều có áo khoác và mũ màu vàng, hình dáng và kích thước của các tượng tương đối giống nhau đều ngồi trên ngai tựa, các pho tượng này đều có thần thái hiền từ khoan dung độ lượng bao bọc cho chúng sinh. Lớp thứ hai và thứ ba có bát hương và các đồ tế lễ khác.

Chùa Bồ Hà được xây dựng mới trên khuôn viên cũ, không gian cũng như kiến trúc của chùa còn khiêm tốn, nhưng phần nào cũng đã đáp ứng được nhu cầu văn hóa tâm linh của nhân dân làng Bồ Hà và du khách thập phương.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), CN. Nguyễn Đăng Đạt
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Chua-Bo-Ha-Trieu-Son-Thanh-Hoa (8)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *