Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Bửu Châu tại Đội 3, thôn Phú Bình, thị tứ Châu Sa, xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi. Đây là một ngôi chùa có lịch sử lâu đời, gắn liền với đời sống văn hóa và tâm linh của người dân địa phương. Chùa Bửu Châu không chỉ là nơi hành hương, tu học của Phật tử mà còn là điểm đến để cộng đồng tìm về sự an yên, thanh tịnh trong tâm hồn giữa không gian thiên nhiên thanh bình của vùng quê Quảng Ngãi.
Lịch sử và nhân vật
Nguyên chùa có từ thời Gia Long (1802-1819), do làng lập dựng để thờ Ông, gọi là chùa Ông. Trải qua nhiều thời đại, chùa đã bị tiêu tàn, chỉ còn vườn đất với cái tên chùa Ông trong lòng tín ngưỡng.
Đến năm Mậu Tuất (1958), các ông Hương Hộ Chí và cư sĩ Nguyễn Xuân Mậu, cung thỉnh Hòa thượng Thích Minh Chiếu, một nhà tu hành ở Bình Định về Quảng Ngãi phụng sự đạo pháp, cùng bổn đạo trong làng đứng ra tái tạo cảnh chùa có tên là chùa “Bửu Châu”.
Chùa xây dựng trong diện tích chung trên 2500m2, gồm ngôi chánh điện, nhà Tổ, nhà Đông, nhà Tây, nhà Trù. Sân tiền, sân hậu lát gạch, trước sân dựng tượng đài Quan Thế Âm lộ thiên. Chung quanh chùa trồng cây cảnh, cổng chính tam quan và tường rào quy cũ, mặt chùa hướng về Nam.
Hòa thượng Thích Minh Chiếu viên tịch, giỗ Ngài vào ngày 17 tháng 11 âm lịch. Người trụ trì kế tiếp cho đến nay là Đại đức Thích Trừng Anh, đệ tử của Thượng tọa Thích Hồng Ân (Sắc tứ Tổ đình Thiên Ấn). Đại đức tên thật là Phạm Minh Môn, sinh năm 1940, tại huyện đảo Lý Sơn, pháp danh Tâm Nhựt, xuất gia từ năm lên 6 tuổi.
Hơn 50 năm qua, chùa chưa một lần tu sửa, tuy nay có phần xuống cấp, nhưng toàn bộ cơ sở chùa vẫn giữ nguyên hình dáng khang trang cổ kính. Chùa giữ y lệ rằm, mồng một, các ngày lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan, Tết cổ truyền.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa nằm trên một dải đất bằng phẳng hình chữ nhật dài, cổng chùa được xây dựng với kiến trúc đơn giản gồm hai trụ lớn và hai trụ nhỏ chia thành 3 lối vào, chính giữa treo biển tên chùa “Chùa Bửu Châu”.
Sau cổng chùa là tới khuôn viên, chính giữa khuôn viên đặt tượng Quán Thế Âm Bồ tát, hai bên đặt nhiều chậu cây cảnh kết hợp với nhiều cây xanh được trồng xung quanh tạo cảm giác thoáng mát, xanh tươi, thanh tịnh.
Chùa được xây dựng với kiến trúc 8 mái hay còn gọi là chồng diêm gồm có 2 tầng với 2 lớp mái chồng lên nhau. Kiểu kiến trúc này giúp không gian công trình trở nên thông thoáng. Với cấu tạo 2 tầng, cột lớn và thoáng, ánh sáng được phân bố đồng đều hơn, tạo chiều sâu và thâm sự uy nghi cho toàn thể mặt chùa. Đây là dạng kiến trúc thích hợp với những công trình có quy mô lớn.
Mái chùa chia thành các phần: mái lớn, triền mái, góc mái, diềm mái và các mái đỡ.
Mái lớn: Chiếm tới 2/3 chiều cao của cả công trình. Mái chùa sải rộng ra tứ bề, tạo phần hiên lớn, giúp che mưa che nắng tốt, thích nghi với điều kiện thời tiết tại nước ta.
Triền mái: Thẳng không cong, có độ hếch lên nhẹ tại phần góc nhằm mục đích tạo sự thanh thoát khi nhìn từ ngoài vào.
Phần góc mái và diềm mái: Phần góc mái được làm cong uốn ngược – thể hiện rất rõ rệt tại các ngôi chùa miền Bắc. Ngoài ra, góc mái cũng được trang trí hoa văn, cá hóa rồng tinh tế và cầu kỳ. Phần diềm mái được đặc trưng bởi các liên kết của ngói âm với nhau nên mang lại khả năng thoát nước cho mái một cách tuyệt vời.
Hệ thống mái đỡ: Phần này bao gồm hệ dầm, xà, bẩy, kẻ đỡ mái bằng gỗ, vừa đảm bảo độ bền chắc vừa được chạm khắc tinh xảo, mang lại vẻ đẹp thẩm mỹ riêng cho thiết kế kiến trúc mái chùa Việt Nam.
Trên mái chùa còn có nhiều chi tiết đắp nổi như mặt bánh xe luân hồi, con kìm và đầu đao của chùa gắn họa tiết rồng phượng đắp nổi thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa sức mạnh và cao quý, tượng trưng cho quyền uy và hòa bình. Đầu đao cong vút nâng đỡ mái chùa, mang dáng vẻ thanh thoát nhưng vẫn uy nghi. Họa tiết này không chỉ là điểm nhấn nghệ thuật mà còn là biểu tượng cho khát vọng vươn lên và sự thịnh vượng.
Chùa có 5 gian, hai bên sườn thoải ra tạo thành hành lang dài nối liền, Chính điện có kiến trúc dạng chữ Công (工), nối liền tiền đường với Thượng điện. Tại tiền đường có đặt đối xứng hai bên Nhị vị Hộ Pháp Khuyến Thiện Trừng Ác. Hai bên tạo 2 cửa nghách bên sườn Thượng điện, tại đây có hệ thống ban thờ Phật gồm 2 lớp:
- Lớp thứ nhất: đặt tượng Phật Thích Ca
- Lớp thứ hai: đặt tượng Thật Phật Dược Sư
Ngoài ra Chính điện, chùa còn có nhiều công trình phụ như nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà Tăng và các công trình khác xung quanh và phía sau, tạo nên một quần thể kiến trúc hài hòa và thống nhất, có thể hiện rõ sự rõ ràng tôn kính và uy nghi của thiên nhiên này.
Sự kiện và lễ hội
Tại chùa, Lễ Vu Lan và Lễ Phật Đản là những dịp lễ lớn và quan trọng, thu hút đông đảo phật tử địa phương tham gia.
Lễ Vu Lan diễn ra vào rằm tháng Bảy âm lịch, được tổ chức trang trọng và đầy ý nghĩa. Đây là dịp để con cháu bày tỏ lòng hiếu kính, tri ân đối với cha mẹ và tổ tiên, cũng như cầu siêu cho các vong linh đã khuất. Phật tử tụ họp để nghe giảng kinh, làm lễ cầu an và thả đèn hoa đăng, tạo nên không khí thiêng liêng và ấm cúng.
Lễ Phật Đản, diễn ra vào rằm tháng Tư âm lịch, kỷ niệm ngày sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chùa trang hoàng lộng lẫy với cờ hoa và đèn lồng, tổ chức các hoạt động như lễ rước, tụng kinh, thả đèn hoa đăng và thuyết giảng Phật pháp. Phật tử địa phương cùng nhau tham gia, thể hiện lòng thành kính và niềm vui mừng trước sự ra đời của Đức Phật.
Việc tổ chức lễ hội tại chùa không chỉ có ý nghĩa tâm linh mà còn là dịp để cộng đồng phật tử gặp gỡ, giao lưu, và gắn kết. Những lễ hội này giúp phật tử địa phương củng cố niềm tin, tìm thấy sự an lạc trong tâm hồn và duy trì, phát huy những giá trị văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc.
Tham khảo
Lê Vinh Bổn, Khảo cứu nghiên cứu lịch sử phật giáo Việt Nam, Lược Sử Phật Giáo và những ngôi Chùa Quảng Ngãi.