Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Cổ Chất có tên chữ là Phổ Quang tự. Từ thành phố Nam Định qua cầu Đò Quan theo đường 21 khoảng 18km đến cầu Vô Tình rẽ trái thêm 2km về trụ sở Ủy ban nhân dân xã Phương Định. Ngôi chùa Cổ Chất nằm cách Ủy ban xã 200m, trên một mảnh đất rộng, thoáng đãng ngay ở đầu thôn Cổ Chất, xã Phương Định, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Lược sử
Làng Cổ Chất ban đầu có tên là Cổ Hiền, được hình thành sớm do sự bồi đắp của sông Ninh Cơ ngày một lấn ra biển.
Theo cuốn thần phả đang lưu giữ tại đền Cổ Chất (bản sao vào đời vua Tự Đức năm thứ 16 (1863)) được biết rằng:“Dưới thời vua Lý Thái Tổ (1010 -1028), vùng đất Cổ Chất là một bãi sa bồi ven biển, dân cư thưa thớt. Đến thời vua Lý Nhân Tông (1072-1128) tại vùng đất này có ba anh em là Nguyễn Công Tham, Nguyễn Công Văn, Nguyễn Công Phạn lên kinh ứng thí và được bổ giữ những chức vụ quan trọng khác nhau trong triều đình. Vài năm sau, ba ông hộ giá vua đi bình phạt Chiêm Thành. Sau trận chiến này, Nguyễn Công Tham đã hy sinh, Nguyễn Công Văn được phong chức Tư lệ hiệu úy, Nguyễn Công Phạn được phong chức chỉ huy Điện tiền. Làm quan một thời gian, Nguyễn Công Phạn xin từ chức về quê đi tu”[1].
Nghe tin Nguyễn Công Phạn quy y ở chùa Dịch Diệp, dân trang Cổ Hiền rất vui mừng. Vì trước đây Nguyễn Công Phạn có công tâu với vua cho dân ở đây lập ấp nên mới cử người đến mời ông về thăm trang ấp. Nhân dân trang Cổ Hiền già trẻ gái trai kéo nhau đi đón Nguyễn Công Phạn đông như nêm cối. Cảm ơn tấm lòng thành kính của dân trang, ông mới cho vàng bạc để bà con xây dựng chùa Phổ Quang (chùa Cổ Chất) để làm nơi qua lại trụ trì. Lúc này ông đã lấy hiệu là Phạn Vũ thiền sư và đúc thêm chuông cho chùa Phổ Quang[2].
Tưởng nhớ công lao của ba người con quê hương lúc sinh thời đã có công giúp đỡ nhân dân, sau này người dân Cổ Chất đã lập đền thờ ngay sau chùa theo kiểu tiền Phật hậu Thánh để mãi về sau tri ân công đức. Việc thờ tự ấy cũng thể hiện niềm tự hào, là tấm gương cứu dân giúp nước cho các thế hệ sau này.
Kiến trúc
Tổng thể kiến trúc chùa Cổ Chất bao gồm các hạng mục: Tam quan, chùa, đền phủ, nhà Tổ cùng các công trình bổ trợ. Tất cả được phân bổ hợp lý, nằm trong một khuôn viên rộng rãi.
Năm 2003, chùa Cổ Chất được trùng tu. Đây là ngôi chùa được xây dựng trên diện tích đất rộng lớn bao gồm nhiều hạng mục công trình như chùa, đền, phủ, đều có quy mô to lớn trong, đó chùa được xây dựng sớm nhất. Các kiến trúc đăng đối hài hoà, trước cửa chùa chồng diêm nhiều tầng tăng thêm vẻ bề thế cho công trình. Toà Bái đường của chùa được xây rộng ra hai bên để làm nơi thờ Đức Ông và Đức Anan. Mặt bằng chùa được bố trí theo chiều dọc dài trên 3m.
Từ cửa Tam quan, theo con đường lát gạch rộng 1,2m dài 3m là tới cửa chùa chính. Trước cửa chùa là một sân gạch mặt trước là ba cửa cuốn vòm, cửa chính rộng hơn cửa hai bên. Tương ứng bên trên được xây thêm tầng chồng diêm. Đặc biệt ở tầng chồng diêm thứ hai có đắp tượng tứ vị bồ tát và bát bộ kim cương bằng vôi vữa quay về bốn hướng. Tất cả các tượng này đều có cùng kích thước cao 0,95m nên từ xa ta đã có thể trông thấy. Tượng đắp cân đối, y phục mềm mại, mỗi khuôn mặt mang một nội tâm riêng. Đây là những pho tượng được đắp vào thời Nguyễn nhưng cũng có giá trị nhất định về mặt nghệ thuật. Phía trước của tầng chồng diêm thứ ba có đắp nổi ba chữ hán Phổ Quang Tự là hiệu chùa.
Tầng một phía trong thiết kế theo lối cuốn vòm được mở rộng ra phía hai bên. Nó được xây dựng với ba vòm cuốn tạo thành ba gian, mỗi gian đều có chiều dài lọng nhà là 7,6m rộng 3,3m. Ở gian chính giữa có hai pho tượng hộ pháp Khuyến thiện và Trừng ác gian bên phải có bàn thờ Đức ông đối diện bên trái là bàn thờ Đức Anan. Giữa các gian đều có cửa cuốn thông sang nhau.
Tại mặt chính diện nằm dưới hệ thống vì kèo của gian thứ hai là bức chạm nổi giữa hai cột cái. Chính giữa có hai con rồng quay đầu vào nhau và tại trung tâm là mặt hổ phù. Con rồng hơi ngắn nhưng được chạm đầy đủ, thân bố cục hợp lý nên vẫn tạo ra vẻ đẹp riêng của chúng. Mặt hổ phù được tạo dáng tương đối độc đáo, có khuôn mặt gần giống mặt người. Bộ mặt này chiều cao lớn hơn chiều ngang vị trí mặt mũi miệng bố trí hợp lý tuy có cách điệu để tạo ra vẻ dữ tợn như mắt tròn, miệng rộng có răng nanh. Phía trên mặt hổ phù cũng có hình mặt trời nhưng được trạm nhỏ và năm tách ra không liên quan gì đến đôi rồng phía dưới. Nằm ở vị trí hai bên và về phía ngoài là hai con nghê được chạm nghiêng đang ngồi, mỗi con được bố trí ở trong một ô vuông. Phía dưới của toàn bộ mảng chạm này là mảng chạm vuông, thoáng bao gồm những mặt hổ phù và những dải như các dải băng vải.
Ở toà Thượng điện của chùa Cổ Chất những mảng chạm và các bộ phận chạm khắc thời Hậu Lê còn khá nhiều được kết hợp nhuần nhuyễn với phần kiến trúc đã tạo lên giá trị cho ngôi chùa. Với sự độc đáo về đề tài, đa dạng về các mô típ trang trí và với tay nghề vững vàng đầy sáng tạo đã góp phần làm cho các mảng chạm khắc ở đấy có phần hồn góp phần chứng minh cho một giai đoạn lịch sử mỹ thuật cũng như nền kiến trúc của dân tộc.
Hiện chùa còn lưu giữ nghê thời Lý thế kỷ XVII làm bằng gốm[3]
Chùa Cổ Chất chính là đại diện tiêu biểu cho nền văn hoá kiến trúc tâm linh Phật giáo Việt Nam nói chung và Phật giáo Nam Định nói riêng. Năm 1992, chùa Cổ Chất được công nhận là di tích văn hóa kiến trúc cấp Quốc gia.
Lễ hội
Đền, chùa Cổ Chất xã Phương Định không chỉ là những công trình có giá trị về nghệ thuật kiến trúc tiêu biểu cho phong cách thời Hậu Lê, thời Nguyễn mà còn là không gian diễn ra lễ hội từ ngày mùng 5 đến mùng 7 tháng 3 âm lịch với phần hội gồm thi bơi chải và các trò chơi dân gian như chọi gà, đánh đu…
Chú thích
[1] https://baonamdinh.vn/channel/5093/201401/nam-dinh-manh-dat-con-nguoi-chua-co-chat-2299005/
[2] Thế Tâm – Đồng Ngọc Hoa, Lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định, Nxb Tôn giáo, 2012, tr. 159.
[3] Thanh Kim Trà, bài “Chó, nghê, cẩu trong đời sống tâm linh và đời sống văn hóa người Việt”, tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 1-2018, tr. 81.
Tham khảo
- https://baonamdinh.vn/channel/5093/201401/nam-dinh-manh-dat-con-nguoi-chua-co-chat-2299005/
- Thế Tâm – Đồng Ngọc Hoa, Lịch sử Phật giáo tỉnh Nam Định, Nxb Tôn giáo, 2012, tr. 159.
- Thanh Kim Trà, bài “Chó, nghê, cẩu trong đời sống tâm linh và đời sống văn hóa người Việt”, tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Bình, số 1-2018, tr. 81.