Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Cói (Thần Tiên tự) xưa nằm trên địa phận làng Cói, xã Hợp Thịnh (Tam Dương), nay thuộc phường Hội Hợp, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc. Làng Cói xưa là một vùng đất có bề dày lịch sử, chùa có tháp Cói, cùng với quán Tiên, cầu Đá, đình Tiên, chùa Hạ, miếu Mốc, cây trôi… tạo nên một quần thể di tích dày đặc, gắn với những phong tục, lễ hội truyền thống rất phong phú của các làng cổ trong tổng.
Lịch sử
Niên đại xây dựng của Chùa Cói chưa được xác định chính xác do thiếu tư liệu cụ thể. Tuy nhiên, theo các khảo cứu di tích và tài liệu của Viện Mỹ thuật, các chuyên gia nhận định rằng Chùa Cói có thể được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIII, với các cấu trúc ban đầu gồm tam quan và chùa chính. Đến thế kỷ XVIII, hai cây tháp bảy tầng đã được dựng thêm ở hai bên phía trước chùa, sau tam quan. Đến thế kỷ XIX, chùa đã hoàn thiện với quy mô lớn, bao gồm tam quan, tháp, và hệ thống tượng pháp có giá trị nghệ thuật cao. Nhờ vào giá trị văn hóa và nghệ thuật, chùa được Viện Viễn Đông Bác cổ xếp hạng trong danh mục các di sản văn hóa quan trọng của Việt Nam vào năm 1939.
Trong những năm 50 của thế kỷ XX, chùa chịu nhiều tổn thất nghiêm trọng, chỉ còn lại tam quan, một cây tháp và một số pho tượng cổ. Khi được xếp hạng là di tích cấp tỉnh vào năm 1996, chùa đã mất đi phần lớn kiến trúc nguyên bản. Kiến trúc mới được Nhân dân phục hồi lại trên nền mới, dịch chuyển về phía trước gần chân tháp, thay thế cho kiến trúc cũ đã bị phá hủy.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Cói nguyên gốc hiện không còn tồn tại, chỉ còn lại nền móng cũ và một số gian mới được tu tạo vào những năm 1990. Một công trình kiến trúc đáng chú ý của chùa là tam quan, hiện chỉ còn tồn tại trong các bức ảnh lưu trữ. Tam quan của chùa có kiến trúc ba gian, một tầng mái kiểu tàu đao với kết cấu chồng rường truyền thống của kiến trúc gỗ miền Bắc Việt Nam. Điểm đặc biệt của tam quan này là kết cấu chịu lực với 10 cột đá xanh được gọt đẽo công phu, mỗi cột có đường kính khoảng 0,25m và cao 2m. Hai cột chính ở gian giữa có phần thân được tạo hình như một tấm bia đá, trên đó khắc nổi các họa tiết trang trí như hoa văn búp sen, cánh dơi, lá đề, và tên những người đã công đức xây dựng chùa. Do phần lạc khoản bị mờ, niên đại chính xác của tam quan chưa thể xác định, nhưng dựa vào tài liệu của Viện Mỹ thuật, tam quan chùa Cói có thể đã được xây dựng vào khoảng thế kỷ XIII, thời kỳ nhà Trần. Vào đầu thế kỷ XXI, phần mái của tam quan bị hư hỏng nặng, do đó, người dân và nhà sư trụ trì đã quyết định hạ giải và xây dựng một kiến trúc mới trên nền tam quan cũ, với phần trên là gác chuông và phía dưới đặt bàn thờ Nguyễn Danh Phương.
Một giá trị nổi bật khác của chùa Cói là cây tháp được xây dựng bằng gạch, có niên đại gần 300 năm. Hiện tại, chỉ còn lại một cây tháp, nhưng cũng đã bị hư hỏng nặng. Tháp bị mất phần đỉnh và một mảng lớn ở hai tầng trên cùng, phần nền móng bị lún, thân tháp bị tróc lớp áo vữa, và các tầng không còn cân đối, xuất hiện một số vết nứt. Cây tháp hiện còn có 7 tầng, cao 7,7m, được xây dựng theo lối kiến trúc cổ truyền “thượng thu hạ thách.” Chân tháp có kích thước 1,7m, các tầng tháp giảm dần về chiều cao và chiều rộng từ dưới lên trên, với khoảng cách giảm đều 20cm. Gạch xây tháp là loại gạch Bát Tràng hình chữ nhật và hình vuông, có kích thước 30cm x 50cm hoặc 30cm x 30cm, và độ dày từ 2 đến 3cm. Loại gạch này có độ nung cao, rắn chắc, không cong vênh, và có khả năng chịu mưa nắng tốt. Các tầng tháp được xây bằng gạch hình chữ nhật, trong khi gạch hình vuông được sử dụng để xây các lớp ngăn cách giữa các tầng, tạo thành một vành đai chịu lực. Ở bốn góc tháp, các góc cong nhẹ giống như mái đao trong kiến trúc gỗ, giúp giảm bớt vẻ nặng nề của tháp. Bốn mặt thân tháp được trang trí đơn giản với bốn ô cửa, bốn tầng dưới có cửa hình vuông và ba tầng trên có cửa hình vòm cuốn. Toàn bộ thân tháp được trát lớp áo vữa bảo vệ, không có họa tiết trang trí hay hoa văn. Sự đơn điệu này có thể do ảnh hưởng của thời đại, khi Phật giáo thời kỳ hậu Lê bị suy yếu trước Nho giáo. Tháp Cói được cho là có liên quan đến cuộc khởi nghĩa của Quận Hẻo Nguyễn Danh Phương (1740-1751), theo truyền thuyết, chỉ trong một đêm, Nguyễn Danh Phương đã cho xây dựng tháp Cói và quán Tiên để thu phục nhân tâm và gây thanh thế trong cuộc đấu tranh chống lại triều đình Lê-Trịnh.
Ngoài ra, chùa Cói còn có một giếng đá cổ với tang hình vành khăn cao 50cm, lưu lại những vết tích do thừng kéo nước mài mòn trên đá sa thạch, cùng với các cột tam quan bằng đá xanh nguyên khối.
Hiện vật
Di vật hiện còn tại chùa bao gồm 12 pho tượng gỗ có giá trị nghệ thuật đặc biệt, thuộc phong cách điêu khắc thời Hậu Lê. Các tượng này gồm: ba pho tượng Tam Thế, tượng A-di-đà, tượng A-nan-đà, tượng Thích Ca đứng thuyết pháp, cùng với các tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí. Những pho tượng này phản ánh rõ nét đặc trưng của nghệ thuật điêu khắc Phật giáo thời kỳ Hậu Lê, với các đường nét và chi tiết tinh xảo.
Tuy nhiên, tình trạng bảo tồn của các tượng không còn được nguyên vẹn. Một số pho tượng đã bị thất lạc hoặc hư hại qua thời gian, trong khi một số khác đã được sơn lại. Việc này không chỉ làm giảm giá trị nguyên bản của các tượng mà còn ảnh hưởng đến khả năng nghiên cứu và nhận diện các đặc điểm nghệ thuật cổ truyền của chúng.
Xếp hạng
Chùa Cói, cùng với tháp, tam quan và hệ thống tượng, đã được công nhận là di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 2882/QĐ-UB ngày 23 tháng 12 năm 1996 của UBND tỉnh Vĩnh Phúc. Trước đó, vào năm 1939, tổng thể kiến trúc của chùa đã được Viện Viễn Đông Bác cổ xếp hạng là di sản văn hóa có giá trị quan trọng tại Việt Nam. Quyết định công nhận này khẳng định giá trị văn hóa và nghệ thuật của chùa, tháp, tam quan, và các di vật liên quan, đồng thời bảo đảm việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản trong bối cảnh lịch sử và văn hóa của khu vực.
Tham khảo
- Mỹ Thuật Thời Trần (NXB Văn Hóa 1977) – Nguyễn Đức Nùng, 152 Trang