Chùa Đại Tiền (Thanh Hoá)

Chùa Đại Tiền (Thanh Hoá)

Ngày nay tại làng Đại Tiền xã Hoằng Đại, thành phố Thanh Hóa vẫn còn khu đất mà dân trong làng vẫn quen gọi là khu cồn Chùa. Đó chính là nơi dấu tích còn lại của ngôi chùa Đại Tiền mà sách Địa chí văn hóa Hoằng Hóa Lịch sử Đảng bộ phong trào cách mạng xã Hoằng Đại đã nhắc đến.

Dấu tích lịch sử

Theo sách Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử quán triều Nguyễn chép: Thời kỳ đầu Công nguyên, vùng đất Hoằng Hóa thuộc vào bộ Cửu Chân. Suốt thời thuộc Hán, vùng đất này được gọi là huyện Tư Phố, đến đời Tam Quốc và Lưỡng Tấn thì vùng này thuộc đất của huyện Kiến Sơ và Cao An, sang đời Tùy thì đổi thành Long An thuộc quận Cửu Chân. Đến đời Đường, năm Vũ Đức thứ 5 (1622), Lý Cao tổ đặt Giao Châu đại tổng quản phủ lãnh 10 châu, đổi quận Cửu Chân thành châu Ái, huyện Long An được đổi thành Sùng An, và đến năm Chí Đức thứ 2 (757) thì đổi tên huyện Sùng An thành Sùng Bình thuộc châu Ái.

Đến thời kỳ độc lập, dưới triều Đinh, vua Đinh Tiên Hoàng đã chia cả nước thành 10 đạo. Năm Canh Tuất, niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất (1010), nhà Lý đổi 10 đạo thành 24 lộ, riêng vùng đất của châu Hoan, châu Ái thì gọi là trại. Vào cuối thế kỷ XI đầu thế kỷ XII, nhà Lý đổi châu Ái thành phủ Thanh Hoa, Hoằng Hóa lúc này được gọi là giáp Cổ Hoằng. Thời vua Trần Anh Tông, niên hiệu Hưng Long (1293-1314), đổi giáp Cổ Hoằng thành huyện Cổ Đằng. Đến đời vua Trần Thuận Tông, niên hiệu Quang Thái năm thứ 10 (1397), đổi phủ Thanh Hoa làm trấn Thanh Đô, huyện Cổ Đằng được đổi tên thành huyện Cổ Linh. Thời thuộc Minh, đổi trấn Thanh Đô thành phủ Thanh Hóa, thì huyện Cổ Linh lại trở về tên gọi cũ là Cổ Đằng thuộc phủ Thanh Hoa. Thời Lê, năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), Thanh Hóa thuộc Đạo Hải Tây. Đời Lê Thánh Tông, năm Quang Thuận 10 (1469) chia cả nước làm 13 đạo Thừa tuyên; lấy 3 châu của phủ Thanh Hoa cũ (thời thuộc Minh) gộp cả với 2 phủ Trường Yên, Thiên Quan, đặt làm Thanh Hoa thừa tuyên gồm 6 phủ, 22 huyện, 4 châu. Thời kỳ này huyện Cổ Đằng trong đó có vùng đất của xã Hoằng Đại được đổi tên thành huyện Hoằng Hóa, thuộc vào phủ Hà Trung. Đời Lê Trung Hưng gọi 2 phủ Trường Yên, Thiên Quan là Thanh Hoa ngoại trấn (để phân biệt với nội trấn là phần Thanh Hóa hiện nay). Dưới triều Tây Sơn và đầu triều Nguyễn gọi là Thanh Hoa nội trấn.

Vào đầu thế kỷ XIX, huyện Hoằng Hóa gồm có 7 tổng, với 161 xã, thôn, trang, sở. Lúc này, Đại Tiền là một trong 14 xã, thôn của tổng Từ Minh thuộc huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa nội. Năm Minh Mệnh 12 (1832) chia đặt tỉnh hạt toàn quốc, đổi trấn Thanh Hóa thành tỉnh Thanh Hoa. Đến năm 1841 (vì kiêng tên huý Hoàng thái hậu Hồ Thị Hoa mẹ vua Thiệu Trị) nên tỉnh Thanh Hoa lại được đổi thành tỉnh Thanh Hóa.

Đến thời kỳ vua Đồng Khánh (1885-1889) đến trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Đại Tiền vẫn thuộc tổng Từ Minh, huyện Hoằng Hóa, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Sau Cách mạng tháng Tám, làng Đại Tiền và Hà Phương lại được sáp nhập vào tổng Bái Trạch. Đến năm 1946, thành lập xã Đại Bái gồm có ba làng: Đại Tiền, Hà Phương và Lam Hà.

Đến năm 1947, thực hiện chủ trương của Đảng và Mặt trận Việt Minh, các xã nhỏ lại được sáp nhập lại thành các xã lớn để thuận lợi cho việc triển khai đường lối kháng chiến và thành lập các mặt trận Việt Minh chống Pháp. Lúc này, xã Đại Bái được sáp nhập với xã Hoằng Lộc để thành lập nên xã Hoằng Lộc. Đến năm 1953, xã Hoằng Lộc lớn lại được chia thành 4 xã nhỏ gồm: Hoằng Lộc, Hoằng Thành, Hoằng Trạch và Hoằng Đại. Ngày 20 tháng 10 năm 1953, xã Hoằng Đại chính thức được thành lập với 3 làng: Đại Tiền, Hà Phương và Lam Hà. Từ ba làng lớn này, ngày nay được chia thành các xóm nhỏ như: Kiều Tiến, Đồng Tiến, Đại Đồng, Vinh Quang, Hạnh Phúc, Quang Hải, Cát Lợi và Sơn Hà.

Ngày nay, xã Hoằng Đại nằm ở phía đông nam của huyện Hoằng Hóa, ngay bên bờ sông Mã; phía bắc giáp với xã Hoằng Lộc; phía đông giáp với xã Hoằng Thành, Hoằng Trạch; phía tây và tây bắc giáp xã Hoằng Quang và phía nam giáp với sông Mã.

Vị trí địa lý

Ngược dòng thời gian về với vùng đất Hoằng Đại chúng ta biết: vùng đất này được hình thành là do sự bồi tụ bởi phù sa của dòng sông Mã (con sông lớn nhất trên dải đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa), tạo nên mảnh đất phì nhiêu màu mỡ, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp. Nằm cạnh dòng sông Mã nên dân cư ở đây cũng được hưởng lợi từ nguồn thủy sản dồi dào của dòng sông mang lại. Mặt khác, nơi đây lại nằm ngay trên trục đường bộ chính, nối liền Nam – Bắc “con đường thiên lý”, từ rất sớm đã giữ vai trò quan trọng trong việc đi lại của cư dân và quân lính cũng như việc vận chuyển lương thực, hàng hóa của thương nhân.

Với vị trí thuận lợi về giao thông, đất đai phì nhiêu màu mỡ nên mảnh đất đã có sức hấp dẫn rất lớn đối với những cư dân nông nghiệp lúa nước. Bởi thế mà từ nhiều vùng miền (từ miền Bắc vào và miền Trung ra) như các dòng họ: Lê, Nguyễn, Trần, Trương, Đào… đã về đây sinh cơ lập nghiệp từ rất sớm, hình thành nên làng xóm dân cư đông đúc.

Di tích lịch sử – văn hoá

Trong quá trình sinh cơ lập nghiệp, người dân Hoằng Đạt đã tạo nên một vùng văn hóa đa sắc màu, mang đặc trưng của vùng văn hóa lúa nước – đồng chiêm trũng với những ngày hội mùa, hội làng náo nức. Để có được nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, cũng giống như người Việt ở đồng bằng Bắc bộ, người dân nơi đây cũng xây dựng nên các công trình kiến trúc văn hóa như đình, đền, chùa,… để làm nơi thờ cúng thần linh và thỏa nguyện tín ngưỡng tâm linh của mình.

Theo tài liệu Địa chí văn hóa Hoằng Hóa cho biết: xưa kia xã Hoằng Đại có đình, nghè, văn chỉ, võ chỉ và có hai ngôi chùa làng là Đại Tiền và Hà Phương. Theo sách Lịch sử Đảng bộ và phong trào cách mạng xã Hoằng Đại cho biết: chùa Đại Tiền “là một ngôi chùa lớn được xây dựng ở phía tây bắc của xã, chùa có từ trước năm 1930. Hiện nay dấu tích còn lại là khu đất nằm giữa cánh đồng. Xung quanh có khu vườn rộng trồng cây ăn quả, chùa xây 3 gian bằng gạch, lợp ngói, trong chùa có nhiều tượng Phật bằng gỗ được sơn son thiếp vàng, tỏa ánh hào quang lộng lẫy. Từ trước năm 1940, làng cử một cụ già trông coi để ngày rằm, mồng một hàng tháng, thiện nam, tín nữ đến dâng hương, hành lễ. Sau đó một Chi hội Phật học nhận trông coi chùa. Sáng mai, chiều tối các cụ trong ban trị sự gõ mõ tụng kinh, đại tín đồ đến làm lễ”.

Theo lời kể của các cụ cao niên trong làng cho biết: Chùa Đại Tiền có lịch sử xây dựng từ thời Lê, gắn liền với sự tích về bà Nhũ mẫu Quốc vương: Chuyện kể rằng vào thời Lê, nhà vua sinh hạ được một hoàng tử nhưng sau khi sinh ra thì hoàng tử quấy khóc suốt ngày đêm, kéo dài đến 3 tháng trời mà vẫn không dứt. Nhà vua cho mời các thầy tướng số đến xem thì nói rằng, phải bế hoàng tử đi khắp kinh thành, nếu gặp ai mà hoàng tử nín (không khóc nữa) thì rước người đó về chăm sóc cho hoàng tử. Nhà vua cho người bồng hoàng tử đi khắp nơi trong kinh thành, khi gặp một người phụ nữ nghèo đi ăn xin, thì đột nhiên hoàng tử nín lặng, ôm chặt lấy người phụ nữ này. Từ đó nhà vua cho mời bà vào cung chăm nuôi cho hoàng tử. Sau khi hoàng tử lớn lên và được làm vua, đã về quê của nhũ mẫu, nhà vua đã cho xây đình, xây chùa và đặt tên chùa theo tên làng. Khi bà nhũ Mẫu mất, nhà vua đưa về quê chôn cất và cho xây đền thờ gọi là đền thờ Nhũ mẫu Quốc vương, ngày nay đền thờ vẫn còn tại làng Đại Tiền.

Di sản kiến trúc

Ngôi chùa làng Đại Tiền trước đây được xây dựng trong làng (nay thuộc xóm Kiều Tiến), nhưng vì khuôn viên chặt hẹp, quy mô nhỏ. Đến thời Nguyễn, chùa bị hư hỏng, khi tôn tạo lại dân làng đã di dời ra khu đất mới, giữa cánh đồng phía trước làng (nay thuộc xóm Đại Đồng). Chùa Đại Tiền tọa lạc ở giữa không gian đồng ruộng bằng phẳng, rộng rãi, ngoảnh mặt về hướng tây nam, nhìn ra sông Mã, lấy núi Rừng Thông làm tiền án.

Theo trí nhớ của các cụ cao niên trong làng, trước khi chùa bị phá, toàn bộ khuôn viên chùa từ ngoài vào trong gồm có các hạng mục: Ao chùa, Sân và Chùa.

Ao chùa, được trồng sen, đến mùa hoa sen nở, mùi thơm lan tỏa làm cho nơi cửa chùa luôn ngào ngạt hương hoa, hoa sen được hái mang lên lễ Phật, hạt sen được nấu chè để dâng Phật.

Sân chùa: được lát bằng gạch bát đỏ, xung quanh có nhiều cây cổ thụ như vải, mít và hai cây hoa Đại tỏa bóng che mát cho sân chùa.

Chùa chính, gồm hai tòa, được kết cấu theo kiểu “Tiền nhất, Hậu đinh”.

Ngôi nhà Tiền điện gồm bốn vì kèo và bốn hàng cột đỡ tạo thành ngôi nhà ba gian, được kết cấu theo lối “chồng rường kẻ bẩy”, tất cả bộ khung vì bằng gỗ lim hoàn toàn, nhà được xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Toàn bộ ngôi nhà có 8 cột cái và 12 cột quân. Phía trên có 8 xà đại và phía dưới có 4 xà con, 14 đường hoành xát mái, hệ thống kèo và xà được chạm trổ theo cụm đề tài tứ quý (tùng cúc, trúc, mai) rất đẹp. Ở mỗi bộ vì nóc được kết cấu bởi câu đầu ăn mộng vào hai đầu cột. Mái được lợp ngói mũi. Nhà Tiền điện được trổ 3 cửa ra vào tạo cho không gian phía trước sáng thoáng và thuận tiện trong mỗi dịp hành lễ. Hai bên hồi nhà có hai cột nanh được xây theo kiểu hình trụ vuông, phía trên trang trí hình lồng đèn.

Phía sau nhà Tiền điện là ngôi Hậu điện hình chữ Đinh (hay còn gọi là kiểu chuôi vồ). Mái sau của nhà Tiền điện với mái trước của nhà Hậu điện cùng chung một máng nước bằng đá.

Nhà Hậu điện gồm có 5 gian và hậu cung. Đây là ngôi nhà được kết cấu theo kiểu vì kèo suốt gác chếnh, xung quanh có tường bao, phần tường vào hậu cung để trống, mái cũng được lợp ngói mũi. Hậu cung được xây theo kiểu đặc trưng thời Nguyễn, bên trong cuốn vòm, bên ngoài làm thành hai mái dốc, lợp ngói mũi.

Theo các cụ cao niên trong làng cho biết: Tính từ Hậu cung (Thượng điện) ra ngoài, bên trên đặt các tượng Phật thành 5 lớp theo thứ tự từ cao xuống thấp là: thứ nhất là 3 pho tượng Tam Thế; thứ hai tượng A Di Đà; lớp tượng thứ ba là Ngọc Hoàng ngồi ở giữa, hai bên là Nam Tào, Bắc Đẩu; Lớp thứ tư là tượng Cửu Long (Thích Ca sơ sinh) và lớp thứ năm là bát hương và các mâm bồng đựng đồ lễ.

Phần Tiền đường của nhà Hậu điện được bài trí thành ba ban thờ, một ban ở giữa và hai ban hai bên ở vị trí gian thứ nhất và gian thứ năm. Ban thờ gian giữa là bức tượng Thích Ca Mâu Ni có kích thước lớn, được tạc trong tư thế tọa thiền trên đài sen; ban thờ ở gian thứ nhất (tính từ trái qua phải) là ban thờ Nhũ mẫu Quốc vương. Ban thờ tại gian thứ 5 là ban thờ Hậu. Gian thứ 2 và thứ 4 để trống.

Nhà Tiền điện không có ban thờ, đây là nơi hành lễ của tín đồ.

Hiện trạng chùa Đại Tiền

Cùng chung số phận của nhiều ngôi đình chùa trên mảnh đất xứ Thanh, trải qua những biến cố thăng trầm của lịch sử, ngôi chùa bị hoang phế vào những năm 1964 -1965. Ngày nay tại địa điểm chùa Đại Tiền cũ vẫn còn nền móng của Hậu cung (Hậu điện). Phần nền móng đo được kích thước chiều rộng 7m, chiều dài 11m. Xung quanh khu vực nền móng còn nhiều phiến đá lan giai, chân tảng cũ, bát hương cũ, máng đá cũ và đặc biệt còn 8 đế đài sen là nơi đặt tượng. Đế đài sen bằng chất liệu đá xanh nguyên khối, tạc vuông, mỗi cạnh có kích thước 57cm, trên mặt tạc nổi hình tròn, xung quanh là những cánh hoa sen.

Căn cứ vào tài liệu lịch sử đã ghi chép cũng như hồi ức của các cụ cao niên, hiện trạng nền móng và các di vật còn lại cho thấy: chùa Đại Tiền do vua Lê cho xây dựng để trả ơn cho làng Đại Tiền, quê hương sinh ra Nhũ mẫu của mình. Trải qua nhiều lần tu sửa, đến thời Nguyễn thì chùa Đại Tiền được dân làng xây dựng lại trên khuôn viên đất phía trước làng, có quy mô tương đối lớn, khang trang và bề thế nhưng rất tiếc là chùa đã bị phá trong những năm đế quốc Mỹ bắn phá miền Bắc lần thứ nhất (1964 – 1965).      

Những năm gần đây, do nhu cầu về tín ngưỡng tâm linh của nhân dân địa phương, xuất phát từ giáo lý “từ bi hỉ xả” của đạo Phật và cũng là một nét đẹp trong văn hóa của người Việt, để giáo dục đạo đức cho con cháu, sống chan hòa tình làng nghĩa xóm, anh em thuận hoà, đùm bọc nhau và biết sống hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, tránh xa cái ác và làm theo điều thiện,… nhà chùa cùng với chính quyền và bà con nơi đây có tâm nguyện tôn tạo lại chùa Đại Tiền làm nơi thờ Phật, cầu mong đức Phật che chở cho dân làng có cuộc sống bình yên. Đây cũng là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng của các tầng lớp nhân dân trong làng, từ đó thúc đẩy việc xây dựng nếp sống văn hóa phù hợp với đời sống văn hóa mới nhưng vẫn bảo lưu gìn giữ được những nét đẹp văn hóa truyền thống của làng quê Đại Tiền.

Tham khảo 

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), ThS. Vũ Thị Hường
Chấm điểm
Chia sẻ
eaf8a521bd23787d2132

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Hình ảnh
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926