Chùa Đăm (Hưng Khánh tự – Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Chùa Đăm (Hưng Khánh tự – Bắc Từ Liêm, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Đăm hay còn gọi là chùa Thôn Trung, tên chữ là Hưng Khánh tự, tọa lạc tại số 8, phố Đăm, Tổ dân phố Trung 5, phường Tây Tựu, Thành phố Hà Nội. Chùa nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 20km về phía Tây. Chùa thuộc Sơn môn Đào Xuyên (Thánh Ân tự).

Lịch sử và nhân vật

Theo các tư liệu lịch sử, từ rất sớm chùa Đăm đã là một ngôi cổ tự có quy mô lớn, kiến trúc bề thế và linh ứng, ban đầu mang tên Bảo Sở. Chùa từng có lầu cao, gác rộng, hệ thống thượng lương, rui mè, rường cột được chạm khắc tinh xảo; trong chùa treo chuông, trống lớn, thể hiện vị thế quan trọng của một trung tâm Phật giáo trong vùng. Đến thế kỷ XVI, chùa đã trải qua những đợt tu sửa đáng kể, và trong khoảng thời gian này, tên gọi Bảo Sở dần được thay bằng Hưng Khánh tự.

Sang các thế kỷ XVII–XVIII, chùa tiếp tục được trùng tu, tôn tạo nhiều lần. Năm 1686, tòa Tiền đường được sửa chữa lớn; năm 1726 tu bổ toàn bộ Chùa Chính; các năm 1746 và 1770 tiến hành đại trùng tu từ Tam quan đến các hạng mục kiến trúc chủ yếu. Cuối thế kỷ XVIII, sau biến động lịch sử khiến chuông và khánh bị phá hủy để đúc tiền, dân làng đã cho đúc lại chuông và khánh vào năm 1796, khôi phục đầy đủ pháp khí cho chùa.

Bước sang thời cận – hiện đại, năm 1926 chùa được tôn tạo, trở thành ngôi chùa to đẹp nhất trong vùng. Năm 1948, chiến tranh khiến chùa cùng đình, miếu bị đốt cháy và hủy hoại nặng nề; đến năm 1952 mới được trùng tu lại. Từ sau đó, chùa tiếp tục được sửa chữa qua nhiều đợt: năm 1991 tu bổ Nhà Tổ, Thượng điện, nhà Tứ Ân, nhà Tảo Soạn và dựng tượng Quan Âm; năm 2004 tu bổ 5 gian Đại Bái, tòa Tiền đường, làm cổng chùa, nhà Tảo Soạn cùng một số hạng mục khác; năm 2017 đúc chuông đồng nặng 1.500 kg; năm 2018 đại tu Nhà Tổ.

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chùa từng được gọi là “chùa kháng chiến”, là nơi tổ chức hoạt động cách mạng và nuôi giấu cán bộ địa phương, góp phần quan trọng vào phong trào đấu tranh của vùng.

Kiến trúc và cảnh quan

Chùa quay hướng Đông Nam, tổng thể kiến trúc hiện tại của chùa gồm 3 hạng mục chính: Chùa Chính, Nhà Tổ và Nhà Mẫu (4). Chùa sở hữu không gian kiến trúc thoáng rộng và khoáng đạt, toát lên vẻ trầm mặc, thanh tịnh đặc trưng của một danh lam cổ tự. Dù phần lớn công trình đã trải qua nhiều đợt trùng tu trong thế kỷ XX, đặc biệt năm 1991 với việc sửa chữa nhà Tổ, Thượng điện, nhà Tứ Ân, nhà Tạo soạn và tạc tượng Quan Âm nhưng tổng thể chùa vẫn giữ được phong thái cổ truyền, hài hòa với cảnh sắc làng quê Bắc Bộ.

Ngự trên một khu đất rộng và thông thoáng giữa trung tâm cư trú của làng, chùa như được bao bọc bởi những tán cây cổ thụ sum sê, cùng nhiều loài cây lâu năm tạo bóng mát quanh năm. Hướng đông nam của chùa mở ra một không gian sáng sủa, khoáng đạt. Kiến trúc tổng thể gồm ba hạng mục chính: chùa thờ Phật, nhà Tổ và nhà Mẫu, tạo nên bố cục truyền thống chặt chẽ mà vẫn mềm mại, uyển chuyển.

Xưa kia, Tam Quan của chùa nổi tiếng rộng lớn và bề thế; nay tuy không còn nguyên vẹn, nhưng bốn trụ cổng vuông vẫn còn đứng đó như chứng tích thời gian. Trên các trụ được đắp nổi hình rồng, mặt trước thể hiện hình voi chầu, mặt sau khắc họa bộ tứ quý tùng – cúc – trúc – mai cùng hình hạc, mang dấu ấn mỹ thuật dân gian tinh tế. Sau cổng là một kiến trúc vuông nhỏ hai tầng, tám mái cong, dựng bằng bê tông với bốn cột tròn, chân cột uốn lượn mềm mại, bao quanh là những cánh sen cách điệu. Bên trong tôn trí tượng Quan Âm đứng trên đài sen, đài được nâng bởi bốn đầu quỷ theo nghệ thuật điêu khắc truyền thống.

Từ đây, qua cổng phụ và khu vườn rộng rãi đầy hoa, cây cảnh, du khách bước trên sân lát gạch Bát Tràng cổ, theo bậc tam cấp để tiến vào Chùa Chính là không gian trung tâm lưu giữ hơi thở linh thiêng và dấu ấn lâu đời của ngôi cổ tự.

Hiện vật

Hiện nay chùa còn giữ được các di vật gồm:

  • 1 quả chuông Hưng Khánh tự chung đúc năm Bính Thìn
  • 1 khánh đồng Hưng Khánh tự khánh ký đúc năm Bính Thìn
  • 2 tấm bia Hậu Thần bi ký niên hiệu Cảnh Hưng thứ 32 (1771), bia Hưng Khánh tự các chung hậu phòng/ Tam Quan tam phủ quán bi niên hiệu Cảnh Hưng thứ 7 (1746).

Xếp hạng

Năm 2000, với các giá trị văn hóa, kiến trúc, nghệ thuật, chùa Đăm được Bộ Văn Hóa và Thông tin công nhận là di tích Nghệ thuật.

Chú thích

  1. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Hưng Khánh do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.
  2. Vũ Văn Quân (Chủ biên), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 3, Nxb Hà Nội, 2021,  tr 583.
  3. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Hưng Khánh do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.
  4. Lưu Minh Trị (Chủ biên), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 2, Nxb Hà Nội, 2011, tr 473.

Tài liệu tham khảo

  1. Hệ thống văn bia chùa Đăm.
  2. Vũ Văn Quân (Chủ biên) (2021), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 3, Nxb Hà Nội.
  3. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (2011), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 2, Nxb Hà Nội.
  4. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Đăm do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Name and Location

Dam Pagoda, also known as Thon Trung Pagoda, formally named Hung Khanh Tu, is located at No. 8, Dam Street, Trung 5 Residential Cluster, Tay Tuu Ward, Hanoi City. The pagoda lies about 20 km west of central Hanoi. It belongs to the Dao Xuyen monastic lineage (Thanh An Tu).

History and Historical Figures

According to the inscription Bao thiet hoa dang kinh bi, erected in the first year of Quang Hoa (1541) and composed by Nguyen Quang Hue, a Doctor of the At Mui examination, Dam Pagoda was originally an ancient temple of grand scale and magnificence, known as Bao So (1):

…Bao So Pagoda has been spiritually efficacious since ancient times, with tall pavilions and spacious galleries; the upper beams, rafters, and trusses were all carved and decorated. Inside hung large bells and drums; although time has passed, the pagoda still lacked an iron lamp. Now Bui Phuc Da, Nguyen Ich Tang… have generated merit, collecting scraps of metal to cast a lamp… All who have contributed merit shall have their names recorded on the main stele of Bao So Pagoda, Tay Dam Village, below…

The stele Hung Khanh Tu Tien Duong the thach bi, dated the 3rd year of Hung Tri (1590), also records:

It is often said that Hung Khanh Pagoda has been spiritually efficacious since ancient times; its walls were tall and its buildings spacious, and the upper beams, rafters, and columns were carved and adorned. Over time, the walls collapsed and the structures decayed without reinforcement, leaving the pagoda in ruins. Now Vu Quan La, Nguyen Thanh Xu… have generated merit, moved by compassion, urging the villagers to contribute labor to repair the pagoda… I am honored to inscribe this text on stone for transmission through eternity. Those with merit shall have their names recorded on the grand stele of Hung Khanh Pagoda, Tay Dam Village, below…

From these two steles, it can be affirmed that the pagoda must have been built before 1541 under the name Bao So, underwent restorations in 1541 and 1590, and during this period it adopted the name Hung Khanh Tu.

The pagoda continued to be restored many times. In 1686, the 7th year of Chinh Hoa, the Front Hall was extensively renovated. In the 7th year of Bao Thai (1726), the entire Main Pagoda was repaired; major restorations continued in 1746 and 1770, from the Three-Entrance Gate to the principal architectural structures. Based on inscriptions on the bell and gong of Hung Khanh Pagoda, it is known that in 1796 the villagers recast the bell and gong after Bang quan cong Nguyen Huu Chinh destroyed them in 1787 to cast coins.

In 1926, the pagoda was restored and became the largest and most beautiful in the region. In 1948, it was burned down, and the pagoda, communal house, and shrines were all destroyed. In 1952, the communal house, pagoda, and shrines were restored. In 1991, the Ancestral Hall, Upper Hall, Tu An Hall, Tao Soan House, and the statue of Avalokitesvara were repaired or reconstructed. In 2004, five bays of the Great Hall, the Front Hall, the main gate, the Tao Soan House, and other structures were refurbished. In 2017, the pagoda cast a 1,500-kg bronze bell. In 2018, a major restoration of the Ancestral Hall was undertaken.

During the resistance war against the French, the pagoda was known as a “resistance pagoda,” serving as a base for revolutionary activities and sheltering local cadres (2).

Lineage of Resident Abbots (3)

According to historical records on the formation and lineage of Hung Khanh Pagoda provided by Bhikkhu Thich Thien Phap, the pagoda’s caretaker, the abbots affiliated with the Dao Xuyen monastic lineage include:

– Dieu Minh Bao Thap, Maha Sramana Tran Tinh, dharma name Quoc Giang, Thich Pha/Pho Van, Giac Linh Thien Toa Ha.
– Hung Long Bao Thap, Maha Sramana, Bhikkhu of the Bodhisattva Precepts, Tu Thong Chinh, Thich Hoan Hoan, Zen Master Toa Ha. He made great contributions to spreading the Dharma and establishing temples. He built seven pagodas including Dam Pagoda, Ngoc Mach Pagoda, Nhon Pagoda, and the pagodas of Dai Tu, Phu Da, Ngu Cau, and An Trai in the former Hoai Duc region
– An Quang Bao Thap, Maha Sramana, Bhikkhu of the Bodhisattva Precepts, Tu Thong Tap, Thich Duong Duong, Zen Master Toa Ha.
– Duong Dinh Bao Thap, Maha Bhikkhu of the Bodhisattva Precepts, Tu Thong Nhu, Thich Trung Truc, Zen Master Toa Ha.
– Tay Giang Bao Thap, Maha Bhikkhu of the Bodhisattva Precepts, Tu Tam Tien, title Minh Duc, Giac Linh Thien Toa Ha. He inherited the vows of the Patriarch. Patriarch Tam Tien, titled Minh Duc, served as abbot during the resistance war against the French. He pioneered efforts to mobilize the people to join the resistance, directly sheltered cadres, built revolutionary bases, and contributed significantly to the local movement. He died heroically and was posthumously recognized as a martyr; his grave is located at the Martyrs’ Cemetery of Nhon Town.
– Thuy Khanh Bao Thap, Maha Bhikkhu of the Bodhisattva Precepts, Tu Tam Phu, title Truc Lam Giac Linh Thien Toa Ha.
– Kim Khanh Bao Thap, Maha Bhikkhu of the Bodhisattva Precepts, Thich Minh Tam, title Phap An, Giac Linh Thien Toa Ha.
– Pha Dong Thap, Bodhisattva Precepts of the Heart-Ground, Tu Tam Quang, Giac Linh.
– Pha Dong Thap, Bodhisattva Precepts of the Heart-Ground, Tu Tam Khanh, Giac Linh.
– Current abbot: Venerable Thich Minh Tuan – Member of the Central Executive Council of the Vietnam Buddhist Sangha, Vice Chairman of the Hanoi Buddhist Administrative Committee, Head of the Hanoi Capital Ritual Committee.

Architecture and Landscape

The pagoda faces the southeast. Its present complex consists of three principal structures: the Main Pagoda, the Ancestral Hall, and the Mother Goddess Hall (4). The architectural space is open and serene, reflecting the contemplative atmosphere of an ancient temple. Although most structures underwent major restorations during the 20th century—especially in 1991 with repairs to the Ancestral Hall, Upper Hall, Tu An Hall, Tao Soan House, and the carving of the Avalokitesvara statue—the pagoda still preserves its traditional harmony and the rustic charm of a northern Vietnamese village landscape.

Situated on a broad, airy plot at the center of the residential community, the pagoda is surrounded by lush, ancient trees and long-lived foliage that provide shade throughout the year. Facing southeast, the pagoda opens into a bright, expansive space. The overall layout consists of three main sections—Buddha Hall, Ancestral Hall, and Mother Goddess Hall—forming a traditional arrangement that is both balanced and graceful.

In earlier times, the pagoda’s Three-Entrance Gate was famous for its grand and imposing structure; though no longer intact, its four square pillars still stand as witnesses of time. Each pillar features high-relief carvings of dragons; the front depicts elephants in attendance, while the back portrays the four seasonal plants—pine, chrysanthemum, bamboo, apricot—together with cranes, all reflecting refined folk artistry. Behind the gate is a small square two-story structure with eight curved roofs, built of concrete, supported by four round columns whose bases curve gently; stylized lotus petals surround the structure. Inside stands the statue of Avalokitesvara upon a lotus pedestal supported by four demon heads in traditional sculptural style.

Passing through the side gate and the spacious garden filled with flowers and ornamental plants, visitors walk across an ancient Bat Trang brick courtyard, ascend the triple-step platform, and enter the Main Pagoda, the central sacred space that preserves the spiritual essence of the ancient temple.

Artifacts

The pagoda currently preserves the following relics:

– 1 bronze bell (Hung Khanh Tu Chung) cast in the Year of the Dragon.
– 1 bronze gong (Hung Khanh Tu Khanh) cast in the Year of the Dragon.
– 2 steles: Hau Than bi ky, dated the 32nd year of Canh Hung (1771); Hung Khanh Tu cac chung hau phong / Tam Quan tam phu quan bi, dated the 7th year of Canh Hung (1746).

Recognition

In 2000, for its cultural, architectural, and artistic values, Dam Pagoda was recognized by the Ministry of Culture and Information as an Artistic Heritage Site.

Notes

  1. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Hưng Khánh do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.
  2. Vũ Văn Quân (Chủ biên), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 3, Nxb Hà Nội, 2021,  tr 583.
  3. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Hưng Khánh do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.
  4. Lưu Minh Trị (Chủ biên), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 2, Nxb Hà Nội, 2011, tr 473.

References

  1. Hệ thống văn bia chùa Đăm.
  2. Vũ Văn Quân (Chủ biên) (2021), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 3, Nxb Hà Nội.
  3. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (2011), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 2, Nxb Hà Nội.
  4. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Đăm do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.

Tiếng Trung (中文)

寺名與地理位置

沾寺(Dam),又稱村中寺(Thon Trung),字名興慶寺(Hung Khanh tu),位於河內市西垂坊中五組沾街8號。寺院距離河內中心約二十公里,向西而行即可抵達。此寺隸屬桃川山門(Dao Xuyen / Thanh An tu)。

歷史沿革與人物事跡

根據**《保設花燈扛碑》碑文記載,此碑立於光和初年(1541),由阮光惠(Nguyen Quang Hue)—乙未科進士—撰寫。碑誌稱,沾寺古名保所(Bao So)**,昔為一座規模宏大、莊嚴壯麗的古剎:

……保所寺自古靈應,高樓廣閣,棟樑椽椽皆雕飾華美。殿內懸掛大鐘大鼓,然隨歲月流易,寺中尚無鐵燈。今有裴福多(Bui Phuc Da)、阮益增(Nguyen Ich Tang)等發心捐金,收集碎鐵鑄燈……凡具善心功德者,其姓名皆刻於西沾社保所寺之碑上……

第二塊碑 《興慶寺前堂世石碑》,立於興治三年(1590),又記載:

常聞興慶寺自古靈應,垣高屋闊,棟樑斗拱皆雕繪華麗。久之牆傾壁剝,歲月遷流,尚未修葺,寺宇日益頹圮。今有武官羅(Vu Quan La)、阮清處(Nguyen Thanh Xu)等發心功德,勸導鄉民同心修寺……得以鐫刻銘文,流傳萬世。凡具善心者皆記名於西沾社興慶寺大碑……

從兩碑內容可確定:本寺至少於1541年前已建成,古名保所,並於1541、1590兩度重修,其間正式改名為興慶寺。

此後寺院多次重建:

– 1686(正和七年):重修前堂
– 1726(保泰七年):全面修繕正寺
– 1746、1770:大規模修復三關及主體建築
– 根據鐘、罄銘文,1796村民重新鑄鐘鑄罄,以替代1787被**平郡公阮有整(Nguyen Huu Chinh)**毀去的鐘罄
– 1926:興慶寺成為本區最大最美之寺
– 1948:寺、亭、廟遭焚毀
– 1952:重建寺、亭、廟
– 1991:修繕祖堂、上殿、四恩堂、造辦房;塑立觀音像
– 2004:修五間大拜殿、前堂、山門及多項建築
– 2017:鑄銅鐘一口,重1500公斤
– 2018:大修祖堂

在抗法時期,寺院曾是地方革命活動與掩護干部之據點,被稱為**“抗戰寺”**。

歷代住持

根據現任管理者**比丘釋善法(Thich Thien Phap)**提供之資料,興慶寺歷代住持如下:

  1. 妙明寶塔和尚(Diem Minh Bao Thap),摩訶沙門陳性(Tran Tinh),諱國講(Quoc Giang),釋普文(Thich Pha / Pho Van),覺靈禪座下。

  2. 興隆寶塔和尚(Hung Long Bao Thap),摩訶沙門、比丘菩薩戒,自通徵(Thong Chinh),釋圓圓(Thich Hoan Hoan),禪師座下。

    此師功德深厚,曾興建沾寺、玉脈寺(Ngoc Mach)、苧寺(Nhon)及大寺、富多、御溝、安齋等七寺。

  3. 恩光寶塔和尚(An Quang Bao Thap),比丘菩薩戒,自通習(Thong Tap),釋唐唐(Thich Duong Duong),禪師座下。

  4. 楊亭寶塔和尚(Duong Dinh Bao Thap),比丘菩薩戒,自通如(Thong Nhu),釋中直(Thich Trung Truc),禪師座下。

  5. 西江寶塔和尚(Tay Giang Bao Thap),比丘菩薩戒,自心進(Tam Tien),號明德(Minh Duc),覺靈禪座下。

    於抗法時期任住持,為革命先鋒,掩護干部,組織鄉民抗戰,後英勇犧牲,被追授烈士,安葬於苧市烈士陵園(Nhon)。

  6. 瑞慶寶塔和尚(Thuy Khanh Bao Thap),比丘菩薩戒,自心富(Tam Phu),號竹林覺靈(Truc Lam)。

  7. 金慶寶塔和尚(Kim Khanh Bao Thap),比丘菩薩戒,釋明心(Thich Minh Tam),號法印(Phap An)。

  8. 法同塔(Pha Dong Thap),心地菩薩戒,自心廣(Tam Quang)。

  9. 法同塔(Pha Dong Thap),心地菩薩戒,自心慶(Tam Khanh)。

  10. 現任住持:上座釋明俊(Thich Minh Tuan)

    — 越南佛教教會中央教會委員、河內市佛教副理事長、河內市佛教儀禮部主任。

建築與景觀

寺院坐向東南,整體包括三大建築:正寺、祖堂、母堂。興慶寺空間開闊、清朗寧靜,即便多次修繕,仍保持北部古寺典雅古樸的氣象。

寺居村中腹地,古木參天環繞,四時蔭涼。舊時三關宏偉,今僅存四方石柱,雕龍、象蹲、四季花鳥與仙鶴圖案,展現民間美術之精巧。

門後為八角二層小亭,四圓柱承托,柱足捲雲,旁飾蓮瓣。亭內供立姿觀音像,立於四鬼首托起之蓮台,展現傳統雕塑風格。

穿過副門與花園,即至鋪設八倉古磚之大院,由三階步入正寺,此處為古剎核心所在。

寺內文物

寺中現存文物包括:

  • 一口興慶寺銘鐘(丙辰年)

  • 一面興慶寺銅罄(丙辰年)

  • 兩方石碑:

    • 《後神碑記》(景興三十二年,1771)

    • 《興慶寺各鐘后房 / 三關三府觀碑》(景興七年,1746)

價值評定

2000年,因具文化、建築與藝術價值,沾寺被越南文化與信息部認定為藝術類遺跡。

註釋

  1. Hệ thống văn bia chùa Đăm.
  2. Vũ Văn Quân (Chủ biên) (2021), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 3, Nxb Hà Nội.
  3. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (2011), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 2, Nxb Hà Nội.
  4. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Đăm do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.

Tiếng Pháp (Français’)

Nom et position geographique

Le temple Dam (Chua Dam – nom khong dau), egalement appele Temple de Thon Trung, porte le nom lettré Hung Khanh tu (Hung Khanh tu – nom khong dau). Il se situe au numero 8, rue Dam, To dan pho Trung 5, quartier Tay Tuu, ville de Ha Noi, a environ vingt kilometres a l’ouest du centre-ville. Le temple appartient a la lignee monastique Dao Xuyen (Dao Xuyen son mon – Thanh An tu).

Histoire et personnages

Selon la stele Bao thiet hoa dang keng bi, erigee en 1541 (premiere annee de l’ere Quang Hoa) et redigee par le Docteur Nguyen Quang Hue, il est etabli que le temple Dam etait autrefois un ancien sanctuaire majestic sous le nom de Bao So.

La stele rapporte que le « Temple Bao So possedait depuis l’ancien temps une spiritualite reconnue, des pavillons eleves, des galeries spacieuses, des poutres et chevrons richement sculptes. Une grande cloche et un tambour y etaient suspendus… ».

La stele Hung Khanh tu tien duong the thach bi (1590) confirme que, bien que celebre autrefois pour sa magnificence, le temple s’etait deteriore avec le temps avant d’etre restaure par les habitants du village.

D’apres ces inscriptions, le temple fut construit avant 1541 sous le nom de Bao So, restaure en 1541 puis en 1590, periode au cours de laquelle il prit le nom de Hung Khanh tu.

Le temple fut ensuite renove en 1686, 1726, 1746, 1770, puis plus tard en 1796 lorsque les villageois refondirent cloche et khanh apres la destruction ordonnee par Bang quan cong Nguyen Huu Chinh en 1787.

Au XXe siecle, il connut de nouveaux travaux :

– 1926 : restauration majeure faisant de Chua Dam le plus grand temple de la region ;
– 1948 : incendie detruisant temple, dinh et mieu ;
– 1952 : restauration generale ;
– 1991 : renovation Nha To, Thuong dien, Nha Tu An, Nha Tao Soan et erection statue Quan Am ;
– 2004 : renovation Dai Bai, Tien Duong, porte d’entree et divers ouvrages ;
– 2017 : fonte cloche de 1500 kg ;
– 2018 : restauration importante de Nha To.

Pendant la resistance contre les Francais, le temple fut surnomme « temple de la resistance » en raison de ses activites clandestines et de l’hebergement de cadres revolutionnaires.

Les generations de superieurs monastiques

Les informations fournies par Ty khieu Thich Thien Phap permettent d’identifier les maitres successifs de la lignee Dao Xuyen, parmi lesquels :

– Dieu Minh Bao Thap, Maha Sa mon Tran Tinh, hui Quoc Giang, Thich Pha/Pho Van, Gac linh Thien toa ha.
– Hung Long Bao Thap, Maha Sa mon Ty khieu Bo Tat gioi, Tu Thong Chinh, Thich Hoan Hoan, Thien Su toa ha, fondateur de sept temples dans l’ancienne region Hoai Duc (Chua Dam, Ngoc Mach, Nhon, Dai Tu, Phu Da, Ngu Cau, An Trai).

– An Quang Bao Thap, Maha Sa mon Ty khieu Bo Tat gioi, Tu Thong Tap, Thich Duong Duong.
– Duong Dinh Bao Thap, Maha Ty khieu Bo Tat gioi, Tu Thong Nhu, Thich Trung Truc.
– Tay Giang Bao Thap, Maha Ty khieu Bo Tat gioi, Tu Tam Tien, hieu Minh Duc, patriarche durant la resistance contre les Francais, heros revolu­tionnaire reconnu Martyr.
– Thuy Khanh Bao Thap, Maha Ty khieu Bo Tat gioi, Tu Tam Phu, hieu Truc Lam.
– Kim Khanh Bao Thap, Maha Ty khieu Bo Tat gioi, Thich Minh Tam, hieu Phap An.
– Pha Dong Thap, Tam Dia Bo Tat gioi, Tu Tam Quang.
– Pha Dong Thap, Tam Dia Bo Tat gioi, Tu Tam Khanh.

Superieur actuel :

Venerable Thich Minh Tuan – Uỷ vien Hoi dong Tri su GHPGVN, Pho Ban Tri su Phat giao Ha Noi, Truong ban Nghi le Phat giao Thu do.

Architecture et paysage

Le temple, oriente sud-est, comprend trois ensembles principaux : Chua Chinh (temple principal), Nha To (Maison des Patriarches) et Nha Mau (Maison de la Mere).

Malgre de nombreuses restaurations, l’ensemble preserve l’harmonie d’un ancien temple rural du Nord Vietnam.

Situe au coeur du village, entoure d’arbres centenaires, le temple s’ouvre sur un espace lumineux et paisible.

L’ancien Tam Quan, jadis monumental, a disparu mais quatre piliers carres subsistent, ornes de dragons, d’elephants et de motifs du quattrofoil (tung – cuc – truc – mai).

Derriere la porte, un petit pavillon carre a deux etages et huit toitures courbes abrite une statue de Quan Am sur lotus, porte par quatre tetes de demons selon la tradition sculpturale ancienne.

Depuis ce pavillon, en traversant le jardin fleuri et la cour pavee de briques anciennes de Bat Trang, les visiteurs accedent au Chua Chinh, coeur spirituel du sanctuaire.

Objets conserves

Aujourd’hui, le temple preserve :

– Une cloche Hung Khanh tu datee de l’annee Binh Thin
– Un khanh (cloche plate) date de la meme annee
– Deux steles : Hau Than bi ky (1771) et Hung Khanh tu cac chung hau phong (1746)

Classement

En 2000, en raison de sa valeur culturelle, artistique et architecturale, le temple Dam fut reconnu comme Monument artistique par le Ministere de la Culture et de l’Information.

Notes

  1. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Hưng Khánh do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.
  2. Vũ Văn Quân (Chủ biên), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 3, Nxb Hà Nội, 2021,  tr 583.
  3. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Hưng Khánh do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.
  4. Lưu Minh Trị (Chủ biên), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 2, Nxb Hà Nội, 2011, tr 473.

Reference

  1. Hệ thống văn bia chùa Đăm.
  2. Vũ Văn Quân (Chủ biên) (2021), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Tập 3, Nxb Hà Nội.
  3. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (2011), Hà Nội danh thắng và di tích, Tập 2, Nxb Hà Nội.
  4. Tư liệu về lịch sử hình thành và lịch đại chư vị Tổ sư chùa Đăm do Tỷ khiêu Thích Thiện Pháp (phụ trách trông coi chùa) cung cấp.
Chấm điểm

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin
chua-dam-hung-khanh-tu-nguon-google-maps

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)