Chùa Đậu (Thường Tín – Hà Nội)

Chùa Đậu (Thường Tín – Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Vị trí địa lý và tên gọi

Nằm cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km, chùa Đậu vốn là Thành Đạo Tự tọa lạc ở thôn Gia Phúc, xã Nguyễn Trãi, huyện Thường Tín, Hà Nội. Đây là ngôi chùa không chỉ nổi tiếng với bề dày lịch sử – văn hóa, mà còn bởi giá trị kiến trúc, mỹ thuật độc đáo, cổ kính…nơi đây còn được người đời mệnh danh là “Đệ nhất danh lam”. Chùa là nơi thờ Đại Bồ Tát Pháp Vũ trong hệ thống Tứ pháp ( Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện) hay bà Đậu nên chùa được gọi là chùa Đậu và Pháp Vũ tự. Dưới thời phong kiến chùa Đậu chủ yếu dành cho các bậc vua, quan vãn cảnh, lễ bái nên còn gọi là chùa Vua. Đây là 1 trong những ngôi chùa minh chứng cho sự giao thoa văn hóa giữa Phật Giáo và tín ngưỡng văn hóa dân gian của người Việt.

Lịch sử hình thành

 Tương truyền chùa được xây dựng dưới thời Bắc Thuộc lần thứ hai (602 – 939), nhưng theo sử sách được ghi lại cùng các văn bia còn được cất giữ tại chùa thì chùa Đậu được xây dựng vào thời Lý. 

Theo vị trụ trì của chùa là Đại Đức Thích Thanh Nhung, Sĩ Nhiếp đã cho lập ngôi chùa này vào đầu thế kỷ thứ 3 (từ năm 200 cho đến 210). Trước đó, trong một lần quân của ông đến khu vực của làng Gia Phúc đã nhận ra địa thế linh thiêng của khu vực này, bèn lập tức trình lên Sĩ Nhiếp. Thấy vậy, ông đã cho dựng chùa để cho dân chúng tu hành, đồng thời đặt tên chùa là Thành Đạo tự với ý nghĩa đây là mảnh đất của Phật. Sau đó, ông cho người rước Đại Thánh Pháp Vũ Đại Bồ Tát về chùa thờ nên chùa còn được gọi là Pháp Vũ Tự.

Chùa đã trải qua nhiều lần trùng tu và có lẽ lần trùng tu lớn nhất vào thời nhà Mạc được xác định qua các vết tích được tìm thấy ở chùa như các viên gạch lớn thời Mạc hay một số bia có niên hiệu Sùng Khang (1566-1577).

Theo tấm bia Tu tạo Pháp Vũ tự, có niên hiệu Dương Hòa thứ 5 (1639) chép rằng: vào năm 1635, đời vua Lê Thần Tông, chùa khi đó đã bị xuống cấp trầm trọng, bà Ngô Thị Ngọc Nguyên vốn là cung tần trong triều đình đã đứng ra làm hội chủ hưng công khởi xướng trùng tu ngôi chùa với quy mô lớn chính vì thế ngôi chùa trở lên bề thế khang trang, uy nghiêm lẫy lừng và được phong tặng là “ Đệ nhất danh lam” thời bấy giờ.

Năm 1947, chùa bị thực dân Pháp tàn phá và đốt cháy nặng nề, người dân nơi đây đã cùng nhau công đức, cúng dường để khôi phục lại chùa. Cho đến khoảng thời gian trước đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội vào năm 2010, chùa Đậu đã được tu sửa, cải tạo và mang diện mạo như ngày hôm nay.

Kiến trúc

Chùa Đậu được xây dựng theo lối kiến trúc “nội công, ngoại quốc” “tiền Phật, hậu Thánh”. Sau chùa là con sông Nhuệ chảy qua. Mặc dù trải qua biết bao thăng trầm lịch sử nhưng đến nay chùa Đậu vẫn giữ được nhiều nét cổ xưa vốn có của nó thể hiện qua các công trình kiến trúc như mái ngói, cột kèo, hoa văn được chạm trổ một cách tinh xảo.
Tam quan chùa là 1 gác chuông hai tầng 8 mái với các đầu đao cong vút được chạm khắc các hình tượng rồng, phượng và hoa lá. Tầng trên treo quả chuông đúc năm 1801 Tân Dậu niên hiệu Cảnh Thịnh, triều Tây Sơn. 

Sau Tam quan là 1 khoảng sân rộng có bậc thềm dẫn đến Tiền đường, trong đó ở bậc thềm chính giữa là đôi rồng đá khoảng năm 500 năm tuổi  nay đã phủ rêu xanh với những nét chạm khắc tỉ mỉ và tinh xảo.

Nhà tiền đường được xây dựng theo lối kiến trúc nghệ thuật giữa thế kỷ XVII (thời Lê) được thể hiện qua các hình tượng rồng, phượng, lân. Bên cạnh đó còn có các mảng phù điêu được chạm khắc rất tỉ mỉ và điêu luyện như hình tiên nữ đầu người, mình chim, những chàng trai cưỡi rồng đánh hổ. Sau những cánh cửa gỗ đã ngả màu vì thời gian của nhà tiền đường là 2 vị hộ pháp Khuyến Thiện và Trừ Tà oai nghiêm sừng sững với ý nghĩa sâu xa của của Đức Phật khuyên bảo răn dạy chúng sinh ở cõi phàm trần. Một điều đặc biệt là tại tòa Tiền đường có một khánh gỗ lớn, đồng thời cũng là tấm bảng văn ghi niên đại Chính Hòa thời nhà Lê (cuối thế kỷ XVII). Hiện vật này được coi là rất hiếm trong di sản văn hóa ở nước ta. 

Hai bên nhà tiền đường là 2 dãy hành lang song song bên phải thờ Đức Ông, Cấp Cô Độc bên trái thờ đức Thánh Hiền cùng 18 vị La Hán và các tấm bia đá cổ từ TK 16 – TK 18 ghi rõ lịch sử những lần đã trùng tu chùa. 

Tiền đường phía trước, nối liền với hai dãy hành lang hai bên và nhà tổ ở phía sau làm thành một khung vuông bao bọc lấy tòa thiêu hương và điện thờ Bà Đậu hay nữ thần Pháp Vũ. Tượng bà Đậu được chạm khắc khá độc đáo. Pho tượng này đã được phục chế lại vào giữa thế kỷ thứ XX nhưng vẫn giữ được nét đẹp của điêu khắc, tạo tác thời xưa.

Danh Tăng

Tương truyền rằng 2 vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường tu hành vào thế kỷ thứ 17, là trụ trì chùa Đậu. Đại sư Vũ Khắc Minh là chú ruột của Vũ Khắc Trường. Ngay từ nhỏ, 2 chú cháu đã vào chùa Đậu để tu hành lấy Vũ Khắc Minh tự Đạo Chân, Vũ Khắc Trường tự Đạo Tâm với chí nguyện độ sinh. Hai ngài dành cả cuộc đời mình để tầm sư học đạo, sống đời sống thiểu dục, cơm ăn một bữa vào giờ chính Ngọ nên dân làng thường gọi với cái tên dân dã là “Nhà sư rau”. Một ngày kia  khi biết số mệnh đã tận, thiền sư Vũ Khắc Minh căn dặn đệ tử: sau đúng 100 ngày, nếu không nghe thấy tiếng mõ tụng kinh của ta nữa thì hãy mở cửa am, nếu thân ta hôi thối thì dùng đất lấp am lại, còn thân ta nguyên vẹn, không có mùi thì lấy sơn bả lên người ta trước khi xây bịt kín am” rồi ngài vào am nhập thất.  Đợi đến đúng 100 ngày các đệ tử mở cửa am ra thì thấy Ngài đã viên tịch trong tư thế kiết gà, không bốc mùi hôi thối. Độ khoảng 10 năm sau, người cháu của ngài là thiền sư Vũ Khắc Trường cũng nhập thất gõ mõ tụng kinh và viên tịch như người thầy của mình. Các đệ tử đã làm theo lời thầy chỉ dạy lấy sơn ta bả lên thi hài của các nhà sư. 

 Năm 1983, PGS. TS Nguyễn Lân Cường đã đưa nhục thân của các Ngài về bệnh viện Bạch Mai chụp X – Quang. Qua các phim chụp, “nhà xương học” hàng đầu Việt Nam đã rất ngạc nhiên khi không phát hiện được vết đục nào trên hộp sọ, xương cốt vẫn còn vẹn nguyên bên trong thi hài. 

Năm 2016, hai Pho tượng nhục thân của Vũ Khắc Minh và thiền sư Vũ Khắc Trường đã được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhân là bảo vật quốc gia. 

Di Văn

Trong tấm bia Tu tạo Pháp Vũ tự tạo năm Dương Hoà thứ 5 1639 (triều Mạc) còn lưu giữ bút tích của Vũ Khắc Trường. Nội dung văn bia cho biết lịch sử chùa Pháp Vũ (tên chữ của chùa Đậu, được sáng lập từ triều Lý) và quá trình tu tạo lại chùa. Bia để ở đầu dải vũ bên trái, hai mặt đều khắc chữ, trang trí hoạ tiết khá cầu kỳ. Trán bia có hình lưỡng long chầu nguyệt. Giữa các chữ trên trán bia cũng trang trí hoa văn. Nét chữ trên bia rất đẹp, phóng khoáng. Ở mặt sau bia, trước phần ghi tác giả có vài dòng chữ bị đục. Trong văn bia còn có bài minh độc vận dài 56 câu. Tác giả văn bia là Thám hoa Nguyễn Thọ Xuân, người xã Lạc Sơn, huyện Chí Linh, phù Nam Sách, nay là thôn Lạc Sơn, xã Thái Học, huyện Chí Linh, Hải Dương. Ông vốn tên là Minh Triết, thi đỗ khoa Tân Mùi (1631) đời Lê Thần Tông. Khi vào đình đối được vua yêu mến, cho đổi tên thành Thọ Xuân. Đặc biệt dòng cuối cùng của bia ghi rõ ràng: “Tăng Vũ Khắc Trường tự Đạo Tâm, trụ trì bản tự ở xã Gia Phúc viết chữ”. (Gia Phúc xã trụ trì bản tự tăng Vũ Khắc Trường tự Đạo Tâm thư).

Nội dung tấm bia như sau:

“Pháp Vũ là ngôi chùa cổ được xây dựng từ đời Lý. Trải hơn mấy trăm năm, chùa vẫn đứng ở đất Phúc làng Thượng, làng Gia, làng Hoằng; sánh ngang cùng thắng cảnh Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp Điện. Người người cầu xin đều rất linh ứng. Nhưng bởi năm dài dấu cũ, mưa dập gió vùi, khiến cảnh chùa mấy độ tang thương. Để có thể chấn hưng, khôi phục được cảnh ấy, ắt phải nhờ bậc đại từ bi xuất thế. Nay cung tân Vương phủ Ngô Thị Ngọc Nguyên vốn là lệnh tộc đất Hoan châu, lại là thế gia nơi Thạch ấp, dòng dõi trâm anh, vị ngôi quý hiển, mến mộ đức tốt của Ỷ Lan nguyên phi, ngưỡng vọng tông phái còn truyền lại của Quan Âm bồ tát, nên đã mở lòng Bồ đề, ra tay đàn việt. Thế là vào tháng 10 năm Bính Tý (1636) liền dùng của nhà, tìm thợ giỏi, vung rìu gió, múa búa trăng, dựng lên hai toà thiêu hương, tiền đường. Cột rường chạm trổ, ngói lợp long lân. Những chỗ hỏng dột khác thì tu bổ lại. Đến tháng 2 năm đó, công việc hoàn tất. Đến lúc này, ngọc biếc tụ thành một lâu đài, bạc vàng ánh khắp ba ngàn thế giới. Cột chạm kèo tô lung linh nét vẽ; tuệ nhật từ vân rực rỡ huy hoàng. Hình thế chùa vươn cao, quy mô chùa rộng lớn, đẹp hơn cảnh xưa rất nhiều. Thế rồi chọn ngày lành, mời hòa thượng Đạo Long tới làm lễ khánh tán. Đại pháp hội viên tròn, đại công đức theo đủ. Công đức của Phật đã giác ngộ lòng người, khiến cho bậc quyền quý hâm mộ sẽ nhân đó mà ngưỡng vọng ân đức, còn dân thường kính tín sẽ nhân đó mà đốt hương cầu khấn, cùng tán tụng phúc đức của hội chủ mênh mông như hà hải, cùng ca vịnh công lao hội chủ dồi dào như mưa móc. Công ơn ấy sẽ được thập phương biết đến, sẽ được chư Phật chứng minh. Tuổi thọ dài lâu, năm năm được hưởng phúc dày; lá ngọc cành vàng đời đời cháu con đông đúc. Không chỉ ban cho bản thân người đó, cho gia đình, con cháu mà là cho cả làng xóm gần xa đều được sống trong cảnh bình yên. Thật tốt đẹp thay! Bèn khắc vào đá để lưu truyền mãi mãi.”

Bài minh viết:

“Đất có thuần phong,
Chùa tên Pháp Vũ.
Đời Lý dựng lên,
Quê Phúc thường trụ.
Cảnh sánh Tây thiên,
Danh lừng Nam thổ.
Cùng Điện, Vân, Lôi,
Trấn châu huyện phủ.
Chạm trổ đống lương,
Quanh co dải vũ.
Lầu ngọc gác vàng,
Nước khấn dân cầu,
Âm phù dương trợ.
Nay cảnh hư hao,
Khiến người lo nghĩ.
Khôi phục cảnh xưa,
Cần người tầm cỡ.
Vương phủ cung tần,
Họ Ngô hội chủ.
Bồ đề mở lòng,
Phương tiện khai lộ.
Tiền của xuất ra,
Vật liệu lo đủ.
Tuyển thợ xem ngày,
Vung rìu khua búa.
Thiêu hương dựng lên,
Tiền đường chính ngự.
Đổ dựng nát xây,
Xấu tu hỏng bổ.
Chấn chỉnh uy nghi,
Đổi thay quy củ.
Tuệ nhật rõ ràng,
Mây lành bao phủ.
Quả thiện viên thành,
Tốt lành ắt tụ.
Thành thọ diên trường,
Hoàng đồ củng cố.
Vận nước dài lâu,
Phúc nhà gồm đủ.
Thẻ hạc thêm dài,
Lộc trời hưởng thụ.
Ơn khắp họ hàng,
Cửa nhà rạng rỡ.
Lá ngọc tốt tươi,
Cành vàng nảy nụ.
Chi phái thiên hoàng,
Ơn trời mưa đổ.
Sông lắm tốt lành,
Núi dài phúc tộ.
Ân đức mở mang,
Dân khang vật phụ.
Hội tụ thiện duyên,
Hằng hà sa số.
Bia đá vừng bền,
Lưu truyền vạn cổ.
Năm Bính Tý (1636) hưng công làm mới lại hai toà thiêu hương, tiền đường.
Đến năm Kỷ Mão (1639) lại làm lại tòa hậu đường, vật liệt được dùng toàn bằng gỗ tốt.

Hội chủ hưng công:

Tín Hoạn người xã Trảo Nha, huyện Thạch Hà, phủ Hà Hoa, xứ Nghệ An.
Cung tần trong Vương phủ Ngô Thị Ngọc Nguyên, nay đổi thành Lê Thị Ngọc Nguyên, hiệu Như Ý bồ tát.
Công tôn Trịnh Thụ, Trịnh Căn, Trịnh Quế.
Ngày lành tháng 2 năm niên hiệu Dương Hòa 5 (1639) dựng bia.”

Vậy là thiền sư Đạo Tâm không chỉ để lại tượng cốt cho người đời sau ngưỡng vọng mà còn lưu lại bút tích trên tấm bia nơi chùa thiền sư trụ trì.

Pháp Vũ tự- Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt

Pháp Vũ tự ( chùa Đậu) là ngô chùa có tầm quan trọng trong đời sống của cư dân nông nghiệp lúa nước từ ngàn xưa đến nay. Chính vì vậy, cứ mỗi độ tháng Giêng âm lịch chùa thường tổ chức lễ hội lớn từ ngày mùng 8 đến mùng 10 để nhân dân về đây chiêm bái, lễ Phật cầu mong 1 năm mùa màng bội thụ, mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an.
Vào thời phong kiến ngôi chùa này chủ yếu dành cho các vua, quan vào chiêm bái, lễ Phật nên người dân quan niệm rằng khi bước vào nơi có vua chúa thường xuyên tới lui lễ Phật thì ắt sẽ cầu được ước thấy. Vì lẽ đó, ngày nay, trước khi bước vào kỳ thi hàng trăm sĩ tử xứ Kinh Bắc từ khắp nơi đổ về chiêm bái, cầu mong quốc thái, dân an.

Tài liệu tham khảo

  1. Hà Văn Tấn, Nguyễn Văn Kự, Phạm Ngọc Long, Chùa Việt, Nxb Thế Giới. 
  2. Bản dịch văn bia nhóm nghiên cứu Chốn Thiêng. 
  3. Nguyễn Bá Lăng, Kiến trúc Phật giáo Việt Nam, Viện Đại học Vạn Hạnh.

___________________

Tiếng Anh (English)

Chua Dau, also known as Phap Vu Tu, is located in Gia Phuc hamlet, Nguyen Trai commune, Thuong Tin district, about 25km from the center of Hanoi. With a long history since the Ly dynasty and rebuilt several times through different dynasties, Chua Dau is not only a famous temple in terms of history and culture but also known by the locals as the “First National Monument”.

Chua Dau is where Dai Bo Tat Phap Vu is worshipped within the system of Four Dharma Realms and also the place to worship Mrs. Dau, hence known by two different names. In the past, the temple was often dedicated to kings, officials, and ceremonies, so it was also called the King’s temple, symbolizing the cultural convergence between Buddhism and Vietnamese folk beliefs.

The architecture of Chua Dau inherits the traditional architectural style blending “inner work, foreign countries” and “before Buddha, after Holy”, with structures such as the Three Entrances, Antechamber, and parallel corridors. These structures not only demonstrate the sophistication in carvings but also serve as places to preserve many valuable cultural heritages such as name boards, stone steles recording history and documents.

Chua Dau is also known through famous monks such as Zen masters Vu Khac Minh and Vu Khac Truong, who devoted their lives to teaching and practicing Zen. The inscriptions and stone steles stored at the temple are evidence of the importance of this place in the spiritual and cultural life of the Vietnamese people.

Every year, Chua Dau organizes a large festival from the 8th to the 10th day of the Lunar New Year, attracting a large number of people to attend, praying for a prosperous and peaceful new year with abundant harvests.

Tiếng Trung (Chinese)

大殿寺,又称法武寺,位于河内市中心约25公里的Thuong Tin地区的Gia Phuc村。大殿寺自黎朝以来历史悠久,经过多次朝代的重建,不仅在历史文化上是一座著名的寺庙,还被当地人称为“第一国家纪念碑”。

大殿寺是供奉大菩萨法武的地方,也是供奉夫人Dau的地方,因此有两个不同的名称。过去,寺庙经常是专为国王、官员和仪式而建,因此也被称为国王寺,象征着佛教和越南民间信仰的文化融合。

大殿寺的建筑继承了传统的建筑风格,融合了“内功、外国”和“前佛、后圣”的结构,其中包括三个入口、前厅和平行廊。这些结构不仅展示了雕刻的精湛技艺,还作为保存许多宝贵文化遗产的地方,如名牌、记录历史的石碑和文件。

大殿寺也因著名的僧侣如禅师Vu Khac Minh和Vu Khac Truong而闻名,他们将一生奉献给教学和实践禅修。存放在寺庙的铭文和石碑证明了这个地方在越南人的精神和文化生活中的重要性。

每年,大殿寺都会在农历新年的第8到第10天举办一次盛大的节日,吸引大量人们参加,祈祷新的一年收成丰富、和平安宁。

Tiếng Pháp (French)

Le temple Chua Dau, également connu sous le nom de Phap Vu Tu, est situé dans le hameau de Gia Phuc, la commune de Nguyen Trai, le district de Thuong Tin, à environ 25 km du centre d’Hanoï. Avec une longue histoire depuis la dynastie des Ly et reconstruit plusieurs fois à travers différentes dynasties, le temple Chua Dau n’est pas seulement un temple célèbre en termes d’histoire et de culture, mais aussi connu par les habitants comme le “Premier Monument National”.

Chua Dau est l’endroit où Dai Bo Tat Phap Vu est vénéré dans le système des Quatre Royaumes du Dharma et aussi l’endroit où est vénérée Mme Dau, d’où les deux noms différents. Dans le passé, le temple était souvent dédié aux rois, aux fonctionnaires et aux cérémonies, il était donc aussi appelé le temple du Roi, symbolisant la convergence culturelle entre le bouddhisme et les croyances populaires vietnamiennes.

L’architecture de Chua Dau hérite du style architectural traditionnel mêlant “travail intérieur, pays étranger” et “avant Bouddha, après Saint”, avec des structures telles que les Trois Entrées, l’Antichambre et les couloirs parallèles. Ces structures ne démontrent pas seulement la sophistication dans les sculptures, mais servent également de lieux de préservation de nombreux héritages culturels précieux tels que les plaques de nom, les stèles de pierre enregistrant l’histoire et les documents.

Chua Dau est également connu à travers des moines célèbres tels que les maîtres zen Vu Khac Minh et Vu Khac Truong, qui ont consacré leur vie à l’enseignement et à la pratique du zen. Les inscriptions et les stèles en pierre conservées au temple sont la preuve de l’importance de cet endroit dans la vie spirituelle et culturelle du peuple vietnamien.

Chaque année, Chua Dau organise une grande fête du 8ème au 10ème jour du Nouvel An lunaire, attirant un grand nombre de personnes pour participer, priant pour une nouvelle année prospère et paisible avec des récoltes abondantes.

Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)