Chùa Đệ Tứ (phường Lộc Hạ, TP Nam Định)

Chùa Đệ Tứ (phường Lộc Hạ, TP Nam Định)

Thông tin cơ bản

Lịch sử

Nằm cách đường quốc lộ 10 khoảng 200m, thuộc địa bàn phường Lộc Hạ, chùa Đệ Tứ có tên chữ là Đại Thánh Quán tự vốn được xây dựng trên nền móng cũ của cung Đệ Tứ, một trong những cung điện được các vua Trần xây dựng vào thế kỷ XIII dành cho các vương phi công chúa, hoàng thân quốc thích nghỉ ngơi. Sách Đại Nam nhất thống chí viết: “Chùa quán Đại Thánh ở xã Đệ Tứ, huyện Mỹ Lộc là hành cung thứ tư (đệ Tứ hành cung) do nhà Trần xây dựng. Sau dân sở tại dùng chữ Đệ Tứ làm tên xã, lại dựng chùa ở đây.”1

Tuy nhiên, khi tìm hiểu một số di cảo thơ của người xưa trong cuốn 100 năm Thăng Long – Hà Nội, Thiên Trường – Nam Định (Hội Nhà văn xuất bản năm 2010) của Hội Văn học Nghệ thuật Nam Định thì nhận thấy vấn đề rằng, rất có thể Đệ Tứ không phải là một cung nhà Trần mà chỉ của một vị quan lại. Có thể nhắc tới ba bài thơ:

Bài thơ thứ nhất của Vũ Duy Thiện chép trong Lịch Đại An dân ký như sau:

到 第 四 闍
相 傳 自 古 有 軍 營
天 屬 爲 名 半 萬 兵
四 隊 時 常 留 不 改
平 分 水 陸 幾 畨 靈
生 防 莫 敢 離 屯 住
死 戰 誰 收 置 石 銘
瓦 礫 人 言 陳 代 事
孤 魂 並 立 望 無更

Phiên âm:

ĐÁO ĐỆ TỨ ĐÔ2
Tương truyền tự cổ hữu quân doanh
Thiên Thuộc vi danh bán vạn binh3
Tứ đội thời thường lưu bất cải
Bình phân thuỷ lục kỷ phiên linh
Sinh phòng mạc cảm ly đồn trú
Tử chiến thuỳ thu trí thạch minh
Ngoã lịch nhân ngôn Trần đại sự
Cô hồn tịnh lập vọng vô canh.

Dịch nghĩa:

 ĐẾN ĐỆ TỨ ĐÔ
Tương truyền nơi đây thuở trước có quân doanh, với tên Thiên Thuộc ước nửa vạn người.
Đội 4 thời thường trú ngụ không biến cải, chia làm thuỷ lục từng bao lần lập công hiển hách.
Khi sống dám nói rằng dời bỏ nơi đồn trú, qua cuộc chiến tranh chết đi ai vì thu nhặt xác tàn.
Phế tích gạch ngói đây phương dân nói là việc cũ thời Trần, các nơi đền miếu dựng thờ cô hồn mong rằng chớ hề thay đổi.

Bài thứ hai của Vũ Triệt Vũ:

過 孤 魂 寺
萬 里 風 塵 不 顧 身
孤 魂 四 邑 感 君 恩
佋 來 未 必 真 名 字
付 在 方 官 歲 两 分

Phiên âm:

QUÁ CÔ HỒN TỰ
Vạn lý phong trần bất cố thân
Cô Hồn tứ ấp cảm quân ân
Chiêu lai vị tất chân danh tự
Phó tại phương quan tuế lưỡng phân.

Dịch nghĩa:

TỚI CHÙA CÔ HỒN
Muôn dặm xông pha gió bụi, đâu dám coi mình là trọng.
Dựng bốn ngôi chùa ở bốn ấp đều gọi là Cô Hồn.
Thuở ấy chiêu về biết có đúng được họ tên,
Giao cho quan sở tại thường năm hai lần lễ bái vào tiết xuân phân, thu phân.

Bài thứ ba của Trần Kỳ chép trong Quốc sử tất đọc và Kiến văn vựng tuyển như sau:

大 聖 觀 寺
譜 存 光 啟 祀 三 清
立 觀 閒 時 見 有 寕
天 屬 幾 畨 臨 難 死
地 餘 長 壘 聚 民 生
當 間 輝 净 來 修 處
又 得 棃 公 次 室 情
老 少 飽 温傳 故 事
春 秋 思 德 拜 遺 形

Phiên âm:

ĐẠI THÁNH QUÁN TỰ
Phả tồn Quang Khải tự Tam Thanh
Lập quán nhàn thời kiến hữu ninh
Thiên Thuộc kỷ phiên lâm nạn tử
Địa dư trường luỹ tụ dân sinh
Đương gian Huy Tịnh lai tu xứ
Hựu đắc Lê công thứ thất tình
Lão thiếu bão ôn truyền cố sự
Xuân thu tư đức bái di hình.

Dịch nghĩa:        

CHÙA ĐẠI THÁNH QUÁN4
Tự phả ghi rằng ông Quang Khải sùng thượng Tam thanh, nên dựng quán để khi nhàn cầu đảo thấy được sự yên lành.
Tại đây quân Thiên Thuộc từng nhiều phen tử nạn. Luỹ đất hằn lên kéo dài kia là chỗ nhà dân cư trú.
Thời ấy có cung phi Huy Tịnh tới tu tỉnh nghỉ ngơi. Rồi lại được Lê Tần vì tình của thứ thất mà góp công.
Già trẻ ngày nay đội ơn được sự ấm no, mỗi khi tới tiết xuân thu đều tụ lại lễ lạy tại trước tượng thờ.

Theo như nội dung ba bài thơ trên thì Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ trước đây vốn là nơi đóng quân của bốn đội trong đội quân của nhà nước có tên là Thiên Thuộc. Đội quân này tồn tại từ thời Trần, lập công hiển hách trong chống Nguyên, qua chống Minh. Về sau nhân dân lập miếu Cô Hồn thờ những cô hồn tử sĩ ở cả bốn ấp. Hiện ở Đệ Nhị vẫn còn tấm bia nói về đội quân Thiên Thuộc được dựng từ thời Mạc. “Lý lịch di tích lịch sử – khảo cổ học chùa Đệ Tứ xã Lộc Hạ ngoại thành Nam Định” cũng nhắc đến một tấm bia nói về đội quân Thiên Thuộc, nhưng không cho biết nội dung cụ thể tấm bia đó. Đặc biệt bài Đại Thánh quán tự của Trần Kỳ có nguyên chú rất rõ ràng rằng chùa Đệ Tứ thờ Trần Quang Khải, chùa vốn do Trần Quang Khải lập ra gọi là Tĩnh Tâm quán, đến thời Lê mới đổi là Đại Thánh quán, thời sau Lê Trịnh mới thờ Phật nên thêm chữ tự sau chữ quán thành Đại Thánh quán tự. Các tác giả của ba bài thơ trên đều sống ở thời Lê: Vũ Duy Thiện là người xã An Cự, huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Đại An, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức 9 (1478) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Hiến sát sứ, Nhập thị kinh diên; Vũ Triệt Vũ (1460 – ?) quê xã Đào Lạng, huyện Đại An (nay thuộc xã Nghĩa Thái, huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông, làm quan Hình bộ Tả thị lang; Trần Kỳ là người xã An Thái, huyện Thiên bản (nay thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng giáp) khoa Đinh Mùi niên hiệu Hồng Đức 18(1487) đời Lê Thánh Tông, làm quan đến Hàn lâm viện, Đông Các hiệu thư.

Đại Nam nhất thống chí chỉ nói Đệ Tứ là hành cung nhà Trần. Đây là bộ sách địa chí – địa lý được biên soạn dưới thời Nguyễn, tức là ra đời muộn hơn nhiều so với ba bài thơ nêu trên. Tài liệu gần sự kiện đáng tin cậy hơn tài liệu ra đời xa sự kiện. Vì thế ba bài thơ của ba vị Tiến sĩ quan chức nhà nước nêu trên là tài liệu rất đáng coi trọng. Như vậy, chưa đủ chứng cứ thuyết phục nói di tích Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ là bốn hành cung ngoại của nhà Trần. Cuộc khai quật khảo cổ học do viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam phối hợp cùng Ty Văn hóa Nam Hà tiến hành từ ngày 23/1/1976 đến ngày 18/3/1976 với diện tích khai quật 300 m2 ngay tại khuôn viên chùa. Ngay ở dưới độ sâu 0,5m – 1,1m đã tìm thấy hàng trăm di vật như mảnh gốm sứ, gạch ngói, đầu rồng đất nung, dụng cụ lò nung gốm… Rất có thể phế tích, di vật này chính là phế tích Tĩnh Tâm quán của Trần Quang Khải chứ không phải hành cung nhà Trần. Các di tích chùa Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ có nguồn gốc từ các miếu Cô Hồn thời Trần, vì thế có thể nói đó là dấu ấn văn hóa vật thể thời Trần trong cộng đồng dân cư Nam Định hiện nay.

Kiến trúc

Chùa Đệ Tứ không chỉ là một nơi ẩn chứa nhiều giá trị khảo cổ học mà còn là một công trình kiến trúc có giá trị nghệ thuật. Nằm quay hướng tây, ẩn dưới những tán cây cổ thụ to lớn và quang cảnh làng mạc thanh bình, ngôi chùa làm theo kiểu chữ công, kết hợp với các công trình phụ trợ xung quanh như giếng nước, vườn cây, nhà tổ, tăng phòng, nhà khách tạo thành một không gian linh thiêng, gần gũi và tĩnh lặng.

Tiền đường gồm 5 gian 2 chái được tu sửa vào năm Thành Thái thứ 8 (1898) nên mang đậm phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Toàn bộ tiền đường gồm có 6 bộ vì được làm theo kết cấu chồng rường giá chiêng, bẩy tiền, bẩy hậu. Trên các xà dọc, xà nách, câu đầu được điểm xuyết nhẹ nhàng các họa tiết long chầu, tứ quý, lá lật với đường nét thoáng đạt. Gánh đỡ bộ mái tiền đường là 24 cây cột lim đều có đường kính 0,30m.

Tam bảo ba gian được nối với tiền đường bởi kỹ thuật giao mái bắt vần. Tam bảo gồm 4 gian xây dọc, đặt trên vì 4 hàng chân theo kết cấu kẻ truyền. Trên các câu đầu, bẩy, kẻ được bào trơn, chạy đường chỉ kép. Tại tam bảo có bài trí 15 pho tượng mang phong cách thời Nguyễn chia làm 5 lớp.

Thượng điện gồm 3 gian xây ngang, nối với tam bảo bằng kỹ thuật giao mái bắt vần. Tại đây, các cấu kiện gỗ cũng được trang trí nhẹ nhàng, đơn giản tạo thành một không gian rộng rãi, thoáng đạt.

Bao quanh ngôi chùa là nhà tổ 7 gian, nhà khách 7 gian, phủ mẫu 3 gian, tăng phòng 5 gian. Tất cả các hạng mục công trình này đều được làm bằng gỗ lim, mái lợp ngói nam. Trải qua thời gian, được sự quan tâm của chính quyền và nhân dân địa phương nên các công trình vẫn giữ được độ bền vững cùng các phong cách kiến trúc cổ truyền.

Cũng giống như nhiều ngôi chùa khác được xây đựng trên mảnh đất Thiên Trường xưa, chùa Đệ Tứ ngoài thờ Phật còn thờ các danh tướng nhà Trần như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão. Cùng với những di tích lịch sử văn hóa khác như đền Thiên Trường, chùa Phổ Minh, đền Bảo Lộc… chùa Đệ Tứ đã góp phần tạo nên một quần thể di tích văn hóa Trần ở Nam Định. Khách hành hương về đây sẽ có cơ hội tìm hiểu về mảnh đất phát tích của vương triều Trần đồng thời được sống lại với một thời kỳ lịch sử huy hoàng của dân tộc.

Chú thích

[1] Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận hóa, 2006, tr. 416.

[2] Đệ Tứ đô: Cửa Đệ Tứ – tên cũ chùa Đệ Tứ hiện nay. Chữ “đô” còn nghĩa là cái lầu canh xây ở trên thành.

[3] Nguyên chú của tác giả (Vũ Duy Thiện): “Bốn đạo quân Thiên Thuộc có ước 5.000, Đệ Tứ thường có 2.000 thì 1.000 là thuỷ chiến. Vào thời chống Nguyên, rồi đến chống Minh vẫn còn được biên chế đầy đủ, nhưng thường lúc đã tận diệt. Nay là bốn ngôi chùa ở Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ”.

[4] Chùa thuộc thôn Đệ Tứ, phường Lộc Hạ, thành phố Nam Định hiện nay, thờ Trần Quang Khải và thờ Phật.

Nguyên chú của tác giả (Trần Kỳ): Ông Chiêu Minh Đại vương này rất thông về đạo thần tiên, con cháu ông kế chí có nhiều tác phẩm như: Bất tín vu thuyết, Nam nhân Nam thần, Cần công khổ học… Ban đầu ông Quang Khải ở đặt là Tĩnh Tâm quán, đời Lê đổi là Đại Thánh quán, sau Lê Trịnh mới thờ Phật mà thêm chữ tự (chùa) vào sau chữ quán.

Tham khảo

Quốc sử quán triều Nguyễn (2006), Đại Nam nhất thống chí, tập 3, Nxb Thuận hóa.

Dương Văn Vượng, Trần Mỹ Giống, Về di tích Đệ Nhất, Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ: https://thuviennamdinh.vn/Dia-chi/Dia-danh/81-Ve-Di-tich-De-Nhat-De-Nhi-De-Tam-De-Tu

 

5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)