Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Đức Sơn, tên chữ là Đức Sơn tự, tọa lạc tại xóm Bắc Sơn, xã Vân Diên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, cách thành phố Vinh khoảng 22 km về phía Tây. Xưa kia, vùng đất này có tên là Kẻ Nầm, vì vậy dân gian còn quen gọi là chùa Nầm. Chùa Đức Sơn và đền Đức Sơn nằm liền kề trong cùng khuôn viên, hợp thành một cụm di tích đã được xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Vân Diên là một vùng đất cổ thuộc thành Vạn An, nơi từng là căn cứ đóng quân của nghĩa quân Mai Thúc Loan trong cuộc khởi nghĩa chống quân xâm lược nhà Đường vào thế kỷ VIII.
Lịch sử và nhân vật
Tương truyền, chùa Đức Sơn được xây dựng từ thời Trần, trên vùng đất Vạn An xưa, là ngôi chùa thuộc phái Đại thừa, thờ Đức Phật Thích Ca, cùng chư vị Phật và Bồ Tát. Trải qua bao biến thiên lịch sử, ngôi chùa đã nhiều lần được trùng tu, tôn tạo, song vẫn giữ được dáng vẻ cổ kính, thanh tịnh. Đây cũng là một trong những ngôi chùa cổ nhất xứ Nghệ, mang giá trị lớn về lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng.
Theo ghi chép, vào năm Tự Đức thứ 25 (1872), chùa được trùng tu quy mô lớn, sau đó tiếp tục được tu sửa vào thời Nguyễn, góp phần gìn giữ và hoàn thiện diện mạo như ngày nay.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Đức Sơn tọa lạc trên một gò đất cao, thoáng đãng, nằm ở trung tâm làng Bắc Sơn, xã Vân Diên. Hiện nay, trong khuôn viên chùa còn có các hạng mục kiến trúc tiêu biểu như: Cổng, Tam Quan, Lầu Hộ Pháp, chùa Chính Hạ và chùa Thượng.
Cổng
Cổng chùa Đức Sơn được xây dựng năm 2004, có kết cấu đơn giản gồm hai trụ biểu tạo thành lối đi chính ở giữa, gồm hai tầng mái, mái lợp ngói mũi hài. Trên thân cột khắc câu đối bằng chữ Hán.
Bước qua cổng là khoảng sân rộng, giữa sân đặt bức bình phong có kích thước lớn. Phía sau bình phong là Tam Quan, mở ra không gian thanh tịnh dẫn vào khu chính điện của chùa.
Tam Quan
Tam Quan chùa gồm ba cổng, trong đó cổng chính giữa được tạo bởi hai trụ biểu cao, trên đỉnh gắn đôi lân chầu. Hai bên là hai cổng phụ, mỗi cổng có hai tầng mái và lối cửa uốn cong hình vòm cung, tạo nên vẻ mềm mại, hài hòa cho tổng thể kiến trúc.
Bên cạnh cổng phụ đặt một tấm bia đá lớn, từ Tam Quan, là hệ thống tường bao được xây bao quanh khuôn viên, tạo không gian khép kín, tách biệt và trang nghiêm cho các công trình chính bên trong.
Lầu Hộ Pháp
Qua Tam Quan, có thể thấy hai Lầu Hộ Pháp song song hai bên, mỗi lầu được xây theo kết cấu mái chồng diêm, tạo thành tám mái với đầu đao uốn cong hình vân mây và hoa lá cách điệu. Trên các cột trụ phía trước khắc những câu bằng chữ Hán. Bên trong lầu thờ tượng Hộ Pháp trong tư thế trang nghiêm: đầu đội mũ Kim Khôi, mình mặc giáp Nhẫn Nhục, chân mang hài.
Nhà Tổ
Đi hết Nhà Lục Đạo, qua một khoảng sân nhỏ là đến Nhà Tổ, phía bên phải sân là bàn thờ Thập Loại Cô Hồn, nơi thờ cúng những vong linh không người hương khói, được nhà chùa làm lễ tưởng niệm vào dịp Vu Lan hằng năm (rằm tháng Bảy Âm lịch.
Phía trước Nhà Tổ có khắc ba chữ Hán “Tổ Sư Đường”, hai bên cột chạm khắc câu đối ca ngợi công hạnh chư Tổ. Trong gian giữa bài trí ba pho tượng các vị sư trụ trì, được tạc bằng gỗ mít theo lối mộc mạc, chân thực, thể hiện lòng tôn kính và tri ân đối với các bậc tiền nhân hoằng pháp.
Chùa Hạ
Chùa Hạ gồm ba gian, kết cấu bằng hệ vì kèo gỗ chắc chắn, tường xây gạch và lợp ngói nam truyền thống. Mặt trước mở ba cửa rộng tương ứng ba gian, tạo không gian thoáng đãng, còn phía sau bố trí hai cửa nhỏ hai bên dẫn lối lên Chùa Thượng phía sau. Trên xà ngang, chính giữa gian nhà là bức hoành phi sơn son thếp vàng rực rỡ, khắc ba chữ: “Kim Liên Tọa”.
Gian giữa đặt một hương án gỗ chạm trổ hoa văn tinh tế, trên bày bát hương sứ cổ. Sau hương án là bàn thờ xây bằng gạch vôi vữa gồm ba cấp, dùng để an vị bảy pho tượng Pháp. Những pho tượng này vốn thuộc Chùa Nường Hai, nơi tương truyền công chúa thứ hai của vua Lê Trung Tông từng xuất gia dựng chùa. Khi Chùa Nường Hai bị bom Mỹ phá hủy, dân làng đã rước toàn bộ tượng về hợp tự tại đây, nên chùa hiện lưu giữ trọn vẹn hệ thống tượng quý của chùa Nường Hai.
Trong bảy pho tượng ấy, nổi bật nhất là bộ Tam Thế đặt ở cấp cao nhất, ba tượng có hình khối cân đối, gương mặt thanh thoát phảng phất nét nữ tính; mái tóc xoắn nhỏ xen sát nhau, lông mày cong mềm, sống mũi thẳng, miệng mỉm cười an nhiên, đôi tai dài dày theo đúng tướng Phật. Tượng khoác áo cà sa hở ngực, tay áo dài buông mềm, vạt áo trải nhẹ xuống đùi, tạo nên vẻ thanh tịnh mà sống động.
Chùa Thượng
Từ Chùa Hạ, bước qua cửa sau sẽ ra khoảng sân nhỏ nối liền với hai dãy hành lang. Tại phần hồi mái, kết cấu chồng diêm hai lớp. Hệ mái chùa được dựng từ các đòn tay lớn kết hợp với những thanh rui bản rộng đặt vuông góc để làm mặt phẳng đỡ ngói, bên trên có các thanh mè chạy song song với đòn tay, tạo thành một bộ mái truyền thống chắc chắn và uyển chuyển.
Chùa Thượng dựng theo chiều dọc, gồm ba gian, khung nhà tạo bởi bốn bộ vì kèo gỗ; mỗi vì có bốn hàng chân cột. Mặt trước có ba cửa gỗ kiểu bàn khoa đặt trên bậc tam cấp cao khoảng 0,30 m. Bên trong, tại gian trong cùng (gian thứ ba), hệ khung gỗ đóng ván tạo thành các bậc cao thấp, dùng để đặt tượng thờ.
Bài trí tượng tháp ở chùa Thượng được chia thành 7 lớp theo thứ tự từ ngoài vào trong, từ thấp lên cao.
Ngoài cùng vào bậc thấp hơn cả đặt bộ tượng Đức Ông – A Nan Đà, cả hai pho tượng đều được chế tác bằng chất liệu gỗ mít, tượng ở thế ngồi. Tượng Đức Ông ở bên trái, có chiều cao l,18m, rộng ngang ngực 0,75m, rộng ngang đùi 0,85m. Thân tượng mặc áo long bào, ngồi buông chân, hai bàn tay đặt lên đùi. Tượng A Nan Đà ở bên phải, có chiều cao từ l,12m, rộng ngang ngực 0,75m, rộng ngang đùi 0,85m.
Bậc thứ hai bài trí bộ tượng Thích Ca sơ sinh gồm 3 tượng (thích Ca sơ sinh (tượng Cửu Long) ở giữa hai bên là Phạm Thiên và Đế Thích). Tượng Thích Ca sơ sinh là hình một chú bé đầu đội một chiếc lá sen to, tay trái chỉ trời, tay phải chỉ đất, áo có hoa văn mây màu vàng sáng ánh, tượng cao 0,50m, rộng ngang ngực 0,15m, chất liệu bằng đồng. Tượng Phạm Thiên và Đế Thích đều có kích cỡ bằng nhau với chiều cao l,08m, rộng ngang ngực 0,90m, đầu đội mũ bình thiên, mặc áo long cổn, tay cầm hốt, ngồi trên long ngai.
Thứ ba là bộ tượng Phật Thích Ca và tượng Quan Âm Tọa Sơn, Quan Âm Thiên Quyển.
Thứ tư là bộ tượng Quan Âm Tống Tử gồm hai pho tượng, theo lời các sư trong chùa, tượng ngồi bên cạnh Thị Kính là Thiện Sỹ, chồng của Thị Kính. Tượng đầu đội mũ cánh chuồn, mặc áo quan, bụng hơi nhô, ống tay áo rộng buông mềm xuống hai bên đùi, tay trái ông cầm một cuốn sách, tay phải nắm hờ.
Pho Quan Âm Tống Tử (dân gian vẫn quen gọi là Quan Âm Thị Kính), tượng được chạm trổ tỉ mỉ, tinh tế từ dáng người, nếp áo đến cả phần đế, tượng ngồi trong tư thế cát tường, chân trái kéo lên, tay trái đặt nhẹ trên đầu gối. Tượng cao 1,05 m cả đế; vòng ngực 0,64 m; vòng đùi 0,88 m, mái tóc tượng được thếp vàng óng ánh, trên tay bế một đứa bé. Phần đế tượng làm từ khối gỗ mít già, được tạc thành những phiến đá tự nhiên đặt trên một tấm gỗ vuông có chân đế.
Thứ 5 là bộ tượng Ngọc Hoàng, gồm 3 tượng (Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu).
Thứ 6 là bộ tượng Di Đà Tam Tôn, còn được gọi là bộ Tây Phương tam thánh, gồm các tượng A Di Đà, Quán Thế Âm Bồ Tát, Đại Thế Chí Bồ Tát. Tượng A Di Đà được tạc ở tư thế đứng thuyết pháp, cao 1,10m, tóc xoắn ốc, đầu đế lộ đỉnh, khuôn mặt đôn hậu, mắt nhìn xuống như đang suy tư, sống mũi cao, thẳng, miệng hơi mỉm cười, tai dài, tượng mặc cà sa với những nếp gấp rất đều. Tượng Quan Âm Bồ Tát ở thư thế ngồi (bên trái tượng A Di Đà), tay trái cầm lọ Cam lồ, chân trái co lên, bàn tay phải để ngửa trên đầu gối, đầu đội mũ tỳ lư. Tượng được tọa trên một bệ nguyên là một gốc mít già được nghệ nhân sửa sang lại, tạo hình đầu rồng cách điệu, mắt sáng, miệng há rộng, râu, bờm, vảy rồng tạo bởi các mắt gỗ tự nhiên trông như con rồng chuẩn bị vươn mình bay lên trời xanh. Tượng Đại Thế Chí Bồ Tát ngồi trong tư thế thoải mái, chân đi hài, đầu đội mũ tỳ lư, tay trái cầm cuốn kinh, tay phải dơ ngang ngực.
Tháp Mộ
Xưa kia, chùa có khu Tháp Mộ, nhưng do nhiều biến động nay chỉ còn dấu tích và những viên gạch, ngói, đá ong còn sót lại.
Di vật
Ngoài hệ thống tượng pháp, chùa Đức Sơn còn lưu giữ được 210 bản gỗ khắc kinh nhà Phật để in ấn, người xưa đã dùng gỗ mực khắc chữ nổi, có nhiều bản còn khắc cả hình vẽ, nhiều nhà nghiên cứu đã in các bản đó để làm tư liệu.
Tại chùa còn lưu giữ được 1 chuông đồng cổ từ thời Lê, có chiều cao (cả quai) 1,13m, đường kính đáy 0,62, nặng 180kg. Theo dòng chữ Hán khắc trên bia “Đức Sơn tự chung” nghĩa là chuông của chùa Đức Sơn. Thân chuông được trang trí và khắc những chữ Hán nói về giờ, ngày, tháng, năm đúc chuông: “Tuế thứ Đinh Tỵ niên, lục nguyệt thập ngũ nhật, Giáp thân thời tu tạo”.
Sự kiện và lễ hội
Hàng năm tại chùa tổ chức một ngày giỗ hợp kỵ tất cả các nhà sư trụ trì, người tu hành và thầy chùa vào ngày 05/10 (Âm lịch) và ngôi nhà tổ là nơi: thờ các vị sư trụ trì tại chùa.
Người dân Nam Đàn quan niệm những tấm áo vải đã khoác lên mình tượng sẽ đem lại rất nhiều may mắn đặc biệt là cho trẻ em. Nên ở đây hàng năm có tục may áo mới cho tượng đế thay tấm áo cũ và chia cho những gia đình có con cháu hay đau yếu, khó nuôi để lấy khước. Vì vậy tượng cửu Long ở đây luôn được khoác áo vải màu vàng.
Xếp hạng
Chùa Đức Sơn đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng cấp Quốc gia từ năm 2000.
Tài liệu tham khảo
- Nguyễn Quang Hồng, Dấu tích của một số ngôi chùa cổ trên đất Nghệ An, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, số 6-2008.
- Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên) (2006), Chùa Cổ Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Những nét độc đáo ở chùa cổ Đức Sơn, Đài Phát thanh – Truyền hình Nghệ An, 12/ 2/2024.
- Linh thiêng cõi phật: Đức Sơn ngôi chùa cổ nơi thành Vạn An, Kênh Nghệ An TV.
- TS. Nguyễn Quốc Tuấn (2013), Văn hóa Phật giáo xứ Nghệ Quá khứ, hiện tại, tương lai, Nxb Hồng Đức.