Chùa Hoa Sơn (Chùa Bà Thiều – Hà Trung, Thanh Hoá)

Chùa Hoa Sơn (Chùa Bà Thiều – Hà Trung, Thanh Hoá)

Làng Kênh nơi có chùa Hoa Sơn là một vùng đất cổ thuộc xã Hà Lai. Đầu thế kỷ XIX làng Kênh thuộc tổng Phi Lai, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa. Đến đời vua Đồng Khánh (1885 – 1888), thôn Kênh thuộc xã Phi Lai, tổng Phi Lai, huyện Nga Sơn, phủ Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Đầu đời vua Thành Thái (1889 – 1905), làng Kênh thuộc huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung.

Vị trí 

Vị trí xây dựng ngôi chùa dưới chân sườn núi Bà Già và Năm Căn thuộc địa phận do chính phi Nguyễn Thị Ngọc Tú, con gái của Đoan quốc công Nguyễn Hoàng phát tâm công đức xây dựng nên từ thế kỷ XVII. Đây là nơi có cảnh trí thiên nhiên đẹp đẽ, u tịch, được bao bọc bởi những dãy núi Chủng Tiên (xã Hà Lai) ở phía bắc, núi Vườn Hoa (xã Hà Lai) ở phía nam, ở phía tây giáp làng Thiều Áng (xã Hà Bình), phía đông giáp Rừng Tốp thuộc xã Hà Lai rất phù hợp với việc xây dựng chùa.

Lịch sử dựng chùa

Về lịch sử dựng chùa Hoa Sơn, có thể thấy ở vào thế kỷ XVII, là giai đoạn mà chùa tháp được xây dựng với quy mô to lớn, phần lớn các công trình tu tạo này đều được sự bảo hộ của các chúa Trịnh hay các vương phi trong phủ chúa. Ở địa bàn huyện Tống Sơn xưa, theo sử sách chép lại thì chính phi của Thanh Đô vương Trịnh Tráng là Nguyễn Thị Ngọc Tú đã cho xây dựng ngôi chùa Trạch Lâm thuộc làng Trạch Lâm – thị xã Bỉm Sơn và chùa Bà Thiều thuộc làng Phú Thọ xã Hà Lai.

Kiến trúc

Về kiến trúc của ngôi chùa Bà Thiều, đến nay sử sách, tài liệu không thấy ghi chép gì. Ngày nay chùa Hoa Sơn chỉ còn lại trong trí nhớ của lớp người cao tuổi ở làng Kênh và nhân dân quanh vùng. Đây là ngôi chùa có kiến trúc kiểu chữ Đinh (J) “tiền Phật, hậu Thần” cũng gọi là “tiền Phật hậu Thánh”. Ngoài chùa chính, chùa Hoa Sơn còn có nhà khách, nhà Tổ, Tam quan và hoa viên phía trước.

Dấu tích hiện còn

Về đất đai: Hiện tại khu vực đất đai của di tích còn nguyên vẹn, chưa bị sử dụng vào các mục đích khác. Diện tích tổng thể của chùa có chiều dài 30m, rộng 20m, bao gồm nền móng chùa chính, sân chùa và các công trình phụ khác như nhà Tổ, nhà Khách, cổng Tam quan.

Về di vật, hiện vật còn lại:

– Bia đá có kích thước chiều rộng: 0,52m, chiều cao: 1,05m, chiều dày 0,15m. Hiện tại bia đá đã mờ hết chữ, chỉ còn hai chữ trên trán bia và các hoa văn hình hoa lá ở diềm bia, trán bia được chạm hình lưỡng long chầu nguyệt.

– Đá liếp: có chiều dài 2,8m; rộng 2,12m; dày 0,19m. Tương truyền hòn đá liếp này là nơi bà Nguyễn Thị Ngọc Tú về lễ Phật tại chùa thường dùng để đứng rửa chân trước khi vào chùa.

Như vậy, trên thực tế ít nhiều chúng ta cũng biết được về vị trí của ngôi chùa trong đời sống văn hóa quá khứ của một cộng đồng dân cư làng Kênh qua 3 thế kỷ. Từ những năm 1950 của thế kỷ trước, chùa Bà Thiều bị hoang phế và được sử dụng vào những mục đích khác của làng xã. Đến nay, ngôi chùa chỉ còn lại nền móng và một ít hiện vật, vật liệu cũ.

Tượng thờ trong chùa

Nếu ở Phật điện người ta có thể đến cũng lễ bất kỳ lúc nào, thì khám thờ thần được đóng kín suốt năm, không ai được vào và chỉ được mở trong một số ngày lễ hội nhất định. Ở chùa Bà Thiều trong bài trí thờ cúng được sắp đặt theo thứ tự “tiền Phật hậu Thánh”.         

Bàn thờNguyễn Thị Ngọc Tú: được đặt ở phía trái hậu điện. Về lịch sử bà Nguyễn Thị Ngọc Tú theo các tài liệu như: Đại Việt sử ký toàn thư (bản Chính Hòa thứ 18 (1697), NXB KHXH – Hà Nội 1981) và Từ điển di tích Văn hóa Việt Nam – NXB KHXH và NXB Mũi Cà Mau – 1983 cho biết: Nguyễn Thị Ngọc Tú (? – 1631) là chính phi của Thanh Đô vương Trịnh Tráng. Bà là con gái của Đoan quốc công Nguyễn Hoàng (nhà Nguyễn tôn xưng là Thái tổ Gia Dụ Hoàng đế, nên các tài liệu đời Nguyễn thường gọi là công chúa), người hương Gia Miêu, huyện Tống Sơn. Bà Nguyễn Thị Ngọc Tú với cương vị là chính phi của chúa Trịnh Tráng đã làm được nhiều việc có ích cho dân, cho nước. Đối với việc phát triển văn hóa, trong đó có xây dựng chùa chiền, bà đã phát tâm công đức xây dựng một số ngôi chùa có giá trị như: chùa Hoàng Ân ở phường Quảng Bá, huyện Quảng Đức, phủ Trung Đô (tức Thăng Long, nay thuộc Hà Nội) xây dựng năm Mậu Thìn Vĩnh Tộ thứ 10 (1628); Chùa Trạch Lâm ở xã Trạch Lâm, huyện Tống Sơn (nay là thị xã Bỉm Sơn) và chùa Hoa Sơn ở làng Kênh (nay là xã Hà Lai, huyện Hà Trung). Trong các ngôi chùa này đều có tượng thờ chính phi đặt ở trong khám.

Bàn thờ Phật điện: Chùa Bà Thiều được xây dựng từ thế kỷ XVII vì thế mà Phật điện của ngôi chùa này đã có đủ các tượng Phật và Bồ tát. Theo mô tả của những già làng việc bài trí tượng thờ ở Phật điện được sắp xếp như sau:

Ở tầng cao nhất của bàn thờ ở giữa là chính điện, sát vách, có ba pho tượng được gọi là Tam Thế, tức tượng các vị Phật của ba thời gian Quá khứ, Hiện tại và Vị lai.

Phía dưới là ba pho tượng Di Đà tam tôn, gồm tượng Phật A Di Đà ở giữa, tượng Bồ tát Quan Thế Âm ở bên trái và tượng Bồ tát Đại Thế Chí ở bên phải.

Ban thứ ba, là tượng Phật Thích Ca Mâu Ni, với tượng Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ở bên trái và tượng Bồ Tát Phổ Hiền ở bên phải. Tượng Phật Thích Ca ngồi trên tòa sen, còn tượng Văn Thù và Phổ Hiền đứng trên tòa sen.

Ban thứ tư, là tượng Phật Thích Ca sơ sinh và tòa Cửu Long. Hai bên tượng Thích Ca sơ sinh là tượng Đế Thích và tượng Phạm Vương (còn gọi là Phạm Thiên). Đế Thích và Phạm Thiên được coi là các chúa tể của thế giới người và thần, nên khi đức Thích Ca chưa thành đạo, họ phải ở luôn bên cạnh để hộ trì.

Ngoài Tiền đường có hai tượng Hộ Pháp, những vị thần bảo vệ Phật pháp, mặc giáp trụ, cầm vũ khí, đứng uy nghiêm. Hai pho tượng này được đắp nổi lên tường, phủ sơn, và có kích thước rất lớn.

Ở chùa Bà Thiều cũng có bàn thờ Mẫu, tức công chúa Liễu Hạnh, được coi là một trong “tứ bất tử” (bốn vị thánh bất tử). Bàn thờ Liễu Hạnh được đặt ngay ở Tiền đường. Qua cách bài trí và tượng thờ ở chùa Bà Thiều chúng ta biết được trước đây chùa thờ cả Thần và Phật.

Lễ hội tín ngưỡng

Xưa kia, người dân làng Kênh đã tham gia và tổ chức những ngày lễ quan trọng liên quan đến ngôi chùa, đó là ngày Rằm tháng Bảy, đó là ngày hội Vu Lan. Lễ Vu lan ở chùa thì chư tăng làm lễ phóng sinh (như thả tự do cho chim cá), nhưng đặc biệt là làm lễ Chẩn tế cô hồn. Cô hồn là những hồn người chết bơ vơ, không nơi nương tựa, trở về xin “miếng cháo lá đa”. Lễ Chẩn tế còn gọi là lễ Thí thực (cho ăn) là vì vậy.

Trong lễ hội chùa Bà Thiều có những nghi thức Phật giáo như tụng kinh như lễ Phật, chạy đàn, phóng sinh,… Nhưng vì chùa Bà Thiều không chỉ có thờ Phật mà còn thờ cả Thần, cả Mẫu nên qua hội chùa ở đây ta thấy rõ sự dung hợp tín ngưỡng tôn giáo rộng rãi và cởi mở. Ngày hội chùa Bà Thiều là ngày hội lớn, nổi tiếng trong vùng được tổ chức vào dịp đầu xuân, trong hội chùa có nhiều hình thức tổ chức sinh hoạt vui chơi như thi ném pháo, trò thi nấu cơm gắn liền với lễ cầu mùa, hội thi làm bánh lá, bánh dày.

Chùa cũ nay đã không còn, nhưng qua hồi tưởng của các cụ cao niên trong làng Kênh, phần nào đã cho chúng ta thấy được giá trị của ngôi chùa Bà Thiều trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng làng, xã. Trong tâm thức cộng đồng dân cư làng Kênh, ngôi chùa Bà Thiều vẫn là địa điểm sinh hoạt văn hóa tâm linh tín ngưỡng của nhân dân địa phương và du khách thập phương xa gần.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), Nguyễn Thị Khuyến
Chấm điểm
Chia sẻ
eaf8a521bd23787d2132

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Hình ảnh
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926