Chùa Hưng Long (Tân Uyên, Bình Dương)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Tọa lạc ở vị trí khá thơ mộng bên dòng sông Đồng Nai hiền hòa, xanh biếc, chùa Hưng Long hiện nay thuộc phường Thạnh Phước, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

Từ đại lộ Bình Dương (trung tâm thị xã Thủ Dầu Một), theo đường Phú Lợi đi về hướng Biên Hòa (Đồng Nai) khoảng 10km đến ngã ba Tân Ba, rẽ trái đường đi về huyện Tân Uyên một đoạn hơn 1km gặp ngõ rẽ phải (ra bến đò Thạnh Hội cũ) đi khoảng 50m là đến di tích. Ngày nay, đến với di tích rất thuận lợi bằng nhiều phương tiện ôtô, ghe, thuyền…

Lịch sử và nhân vật

Báo Giác Ngộ TP. Hồ Chí Minh, số 344 ngày 15/8/1990 cho biết, chùa có từ khoảng thế kỷ XVIII. Bấy giờ bà điền chủ Phan Thị Khai, tục gọi là Bà Thao, ngụ tại xã Dư Khánh, huyện Phước Lộc, phủ Gia Định lấy đất của mình để lập chùa, đặt tên là Hưng Long.

Theo đó, vào thế kỷ XVII, năm 1695 (Ất Hợi), ở vùng đất Tân Uyên có một bà điền chủ giàu có tên Phan Thị Khai (tục gọi là Bà Thao) là một người mộ đạo. Vì có niềm tin với Phật giáo nên gia đình bà đã tự bỏ tiền ra xây chùa để tiện việc chiêm bái, cầu phúc cho gia đình, vừa để cho dân làng có nơi lui tới dâng hương lễ Phật, cầu gia đạo bình an. Vì chùa do gia đình bà Thao bỏ tiền ra xây dựng nên người ta gọi đó là chùa Bà Thao.

Lúc đầu, vì là chùa gia đình lập nên không có chư tăng trụ trì. Mãi đến năm 1806 (Bính Dần), có 2 vị tăng sĩ trên bước đường hoằng dương chánh pháp đã đến vùng đất Tân Uyên. Một vị là ngài Quảng Cơ Minh Lý (tự là Gia Trường), còn một vị là ngài Bảo Châu Minh Tịnh. Cả 2 vị đại sư này đều rất uyên thâm kinh luật. Trông tướng mạo nghiêm trang, đĩnh đạc của 2 vị, dân làng Dư Khánh đã thỉnh về làm trụ trì chùa Hưng Long. 

Sau thời gian hoằng hóa Phật pháp ở chùa Hưng Long, đại sư Minh Lý viên tịch, thiền sư Minh Tịnh kế vị trụ trì và có công lớn trong việc hoằng dương phật pháp ở vùng đất Tân Uyên này. Đến năm 1889, thiền sư Minh Tịnh viên tịch và được môn đồ lập tháp thờ bên cạnh tháp ngài đại sư Quảng Cơ.

Kiến trúc

Chùa Hưng Long có mặt tiền hướng ra sông Đồng Nai êm ả. Khi đến đây thăm chùa, ngắm dòng sông bình lặng, cảm giác trong mỗi người cũng trở nên bình yên, nhẹ nhàng hơn. Điều đặc biệt ở ngôi chùa này là lối kiến trúc cổ. Toàn bộ các mái đao trên nóc chùa đều được gắn hình tượng rồng tráng men với những đường nét hoa văn tinh xảo. Các tượng rồng này đều được đúc tại các lò gốm ở Bình Dương.

Hơn 300 năm tồn tại, chùa Hưng Long cũng được trùng tu, sửa chữa nhiều lần. Quần thể kiến trúc của chùa hiện nay gồm có: Chánh điện, hai bên chánh điện là hai tháp chuông, trống bát nhã, hậu tổ và giảng đường. Đông lang được thiết kế xây dựng lầu song song với ngôi chánh điện. Khuôn viên phía bên phải là khu tháp của các đời trụ trì với lối xây theo kiến trúc tháp cổ vẫn còn nguyên vẹn. Ngoài ra, trong khuôn viên chùa còn các cây cổ thụ quý như sao, dầu… ngày ngày tỏa bóng xuống che mát ngôi chùa.

Hiện vật

Bên trong chùa hiện còn lưu giữ hệ thống liễn đối phong phú, giàu ý nghĩa. Trên chánh điện còn treo câu đối mang ý tưởng nhân quả, nhập thế, tạm dịch như sau: 

Lịch kiếp vi minh quân, vi lương tướng, vi hiếu tử, vi đạo sư, vận dụng chơn như, kết vô lượng thiện duyên trang nghiêm phước hải. Hiện thế khí trân bảo, khí thê nô, khí quốc thành, khí vương vị, viên thành đại giác thuyết hằng sa diệu pháp bạt tế mê luân.

Tạm dịch:

Nhiều kiếp làm sáng, làm tướng hiền, làm con hiếu, làm thầy trí tuệ, sử dụng chân như kết nhiều duyên lành làm trang nghiêm biển phước. Hiện đời bỏ châu ngọc, bỏ vợ con, bỏ thành trì, bỏ ngôi vua, giác ngộ trò đầy nói vô biên diệu pháp dứt trầm luân khổ ải.

Hệ thống liễn đối phong phú, giàu ý nghĩa. Trước bàn thờ tổ có câu:

Hưng tại tăng hoằng vạn cổ kim phong thừa tổ đức
Long minh đạo thể nhất sanh lập chí báo sư ân.

Tạm dịch:

Hưng thịnh do chư tăng hoằng hóa muôn đời để lại nối truyền đức tổ
Xương minh bởi đạo pháp sáng ngời một đời quyết chí đền đáp ơn thầy.

Đặc biệt, chùa còn lưu giữ một pho tượng Phật đúc bằng đồng cao 1m với đường nét mỹ thuật tinh xảo và cân đối do gia đình bà Phan Thị Khai (tức Bà Thao – người sáng lập chùa) phụng cúng vào năm 1802. Tương truyền, sự ra đời của pho tượng cổ này là do lời khấn nguyện của bà Khai khi người con trai trưởng của bà tham gia nghĩa quân Tây Sơn. Bà cầu nguyện nếu con bà bình an trở về, bà sẽ đúc tượng Phật đồng để tạ ơn. Cuộc chiến chấm dứt vào năm 1802, con bà được bình yên trở về. Thực hiện lời cầu nguyện, bà đã tổ chức đúc tượng Phật đồng để tôn thờ trong chùa. Đây được xem là pho tượng cổ xưa có giá trị quý của Việt Nam nói chung, tỉnh Bình Dương nói riêng.

Xếp hạng

Chùa được UBND tỉnh xếp hạng là di tích lịch sử theo quyết định số 3875/QĐ-UBND ngày 02/6/2004.

Tham khảo

  1. Chùa Hưng Long (Di tích lịch sử – Văn hoá), Cổng thông tin điện tử thành phố Tân Uyên. 
  2. Ngôi chùa cổ bên sông Đồng Nai, Báo Bình Dương. 

_____________________________________

Các ngôn ngữ khác

1. Tiếng Anh (English)

Name and Geographical Location

Peacefully set along the emerald Dong Nai River, Hung Long Pagoda stands in Thanh Phuoc ward, Tan Uyen town, Binh Duong province.

From Binh Duong Boulevard (center of Thu Dau Mot), take Phu Loi Road toward Bien Hoa (Dong Nai) for about 10 km to Tan Ba T-junction; turn left toward Tan Uyen for a little over 1 km, then turn right at the lane to the old Thanh Hoi ferry. After ~50 m you reach the site. Today the pagoda is easily accessible by car, boat, or other means.

History and Figures

According to Giac Ngo (Ho Chi Minh City) No. 344, August 15, 1990, the pagoda dates to the 18th century. The landowner Phan Thi Khai (popularly called Ba Thao) of Du Khanh commune, Phuoc Loc district, Gia Dinh prefecture, donated her land and founded the temple, naming it Hung Long.

Local tradition further records that in 1695 (Year of the Pig), the devout landowner Phan Thi Khai built the family temple—hence “Ba Thao Pagoda”—both for family worship and for villagers to pay homage and pray for peace.

At first the private temple had no resident clergy. In 1806 (Year of the Tiger), two learned monks arrived in Tan Uyen: Venerable Quang Co Minh Ly (alias Gia Truong) and Venerable Bao Chau Minh Tinh. The villagers of Du Khanh invited them to serve as abbots of Hung Long Pagoda. After Venerable Minh Ly passed away, Venerable Minh Tinh succeeded him, greatly promoting Buddhism in the area. He entered nirvana in 1889; his stupa stands beside that of Venerable Quang Co.

Architecture

The pagoda faces the tranquil Dong Nai River. Its defining feature is an antique style: ridge ends adorned with finely glazed ceramic dragons, crafted in Binh Duong kilns.

Over more than 300 years, Hung Long has been restored several times. The present ensemble comprises the Main Hall, flanking bell and bat nha drum towers, the Patriarchs’ Hall, and a Dharma hall. The east corridor is a two-storey wing parallel to the Main Hall. To the right lies the stupa garden for successive abbots, built in a traditional tower style and well preserved. Ancient trees—such as sao and dau—shade the grounds.

Artifacts

The temple preserves a rich corpus of parallel couplets and inscriptions. A pair displayed in the Main Hall conveys a humanistic, engaged-Buddhist message (approximate rendering):

  • “Across lifetimes be an enlightened ruler, a virtuous general, a filial child, a wise teacher; abiding in suchness, weave boundless wholesome ties to adorn the ocean of merit. In this life, renounce jewels, spouse and children, cities and throne; accomplish great awakening and proclaim myriad wondrous dharmas to liberate from the cycle of suffering.”

Another notable couplet before the Patriarchs’ altar reads (approximate rendering):

  • “Flourishing through monks’ propagation, the ancestral virtue endures for ages;

    Illuminating the Dharma’s essence, with one life’s resolve we repay the teacher’s grace.”

Especially precious is a 1-meter bronze Buddha statue of refined, balanced artistry, donated in 1802 by Phan Thi Khai (Ba Thao). Tradition holds she vowed to cast the image if her eldest son—then serving with the Tay Son forces—returned safely at war’s end in 1802; upon his safe return, she fulfilled the vow. This statue is considered an early and valuable work for Vietnam in general and Binh Duong in particular.

Heritage Status

Hung Long Pagoda was designated a provincial historical site by Decision No. 3875/QD-UBND dated June 2, 2004.


2. Tiếng Pháp (Français)

Nom et Localisation Géographique

Paisiblement posé au bord de la rivière Dong Nai, la pagode Hung Long se situe dans le quartier Thanh Phuoc, ville de Tan Uyen, province de Binh Duong.

Depuis le boulevard Binh Duong (centre de Thu Dau Mot), prendre la route Phu Loi vers Bien Hoa sur ~10 km jusqu’au carrefour Tan Ba, tourner à gauche vers Tan Uyen sur un peu plus d’1 km, puis à droite vers l’ancien bac Thanh Hoi ; après ~50 m, on atteint le site. Accès aisé en voiture ou par voie fluviale.

Histoire et Personnages

D’après Giac Ngo (n°344, 15/08/1990), la pagode remonte au XVIIIe siècle. La propriétaire terrienne Phan Thi Khai (dite Ba Thao), domiciliée à la commune Du Khanh, district Phuoc Loc, préfecture Gia Dinh, fit don de ses terres pour fonder le temple, nommé Hung Long.

La tradition locale indique qu’en 1695, la pieuse Ba Thao érigea d’abord un temple familial—d’où l’appellation « pagode Ba Thao »—afin d’y vénérer le Bouddha et d’offrir aux villageois un lieu de prière.

Initialement sans clergé résident, le temple accueillit en 1806 deux moines érudits : le Vénérable Quang Co Minh Ly (alias Gia Truong) et le Vénérable Bao Chau Minh Tinh, que les habitants de Du Khanh invitèrent à prendre la direction de la pagode. Après la disparition de Minh Ly, Minh Tinh lui succéda et contribua fortement à l’essor du bouddhisme régional. Il s’éteignit en 1889 ; sa stupa se dresse près de celle du Vénérable Quang Co.

Architecture

La pagode fait face au cours paisible de la Dong Nai. Son trait distinctif est un style ancien : faîtages ornés de dragons vernissés aux détails minutieux, issus des fours de Binh Duong.

Au fil de trois siècles, elle a connu plusieurs restaurations. L’ensemble actuel comprend la salle principale, deux tours latérales (cloche et tambour bat nha), la salle des Patriarches et une salle d’enseignement. L’aile est, à deux niveaux, court parallèlement à la salle principale. À droite s’étend le jardin des stupas des abbés, conservé dans un style traditionnel. De grands arbres séculaires ombragent les lieux.

Objets Conservés

La pagode conserve de nombreuses sentences parallèles et inscriptions. Un distique de la salle principale exprime une éthique bouddhique engagée (traduction approximative) :

  • « Au fil des vies, être souverain lucide, général vertueux, enfant filial, maître sage ; demeurant dans la tathatā, tisser d’innombrables liens méritoires pour orner l’océan des mérites. En cette vie, renoncer aux joyaux, à l’épouse, aux enfants, aux remparts et au trône ; parfaire l’Éveil et enseigner les dharmas merveilleux pour délivrer de la souffrance. »

Un autre distique devant l’autel des Patriarches dit (traduction approximative) :

  • « La floraison vient de la propagation par les moines : la vertu ancestrale se transmet à jamais ;

    L’éclat de la Voie illumine l’essence : d’une vie résolue nous payons la dette envers le maître. »

Pièce maîtresse : une statue de Bouddha en bronze d’1 m de haut, aux lignes fines et harmonieuses, offerte en 1802 par Phan Thi Khai (Ba Thao). Selon la tradition, elle avait voué d’ériger l’image si son fils aîné, engagé auprès des Tay Son, rentrait sain et sauf à la fin de la guerre (1802) ; vœu exaucé, elle fit couler la statue.

Classement Patrimonial

La pagode Hung Long a été classée site historique provincial par la décision n° 3875/QD-UBND du 2 juin 2004.


3. Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

兴隆寺坐落于安宁碧绿的同奈河畔,今属平阳省新渊市镇清福坊。

自首油一市中心之平阳大道出发,沿富利路向边和方向行约10公里至新坝三岔路,左转往新渊县行一公里余,见右侧小巷(通往旧清会渡口)入内约50米即至。今日前往遗址,可乘汽车、木船等多种方式,交通便捷。

历史与人物

《觉悟报》胡志明市第344期(1990年8月15日)载:寺约建于18世纪。时有女地主范氏开(俗称婆梭)居嘉定府福禄县渔庆社,捐地建寺,名“兴隆”。

地方传说并称:1695年(乙亥)婆梭笃信佛法,先建家庙,供家人与乡民礼佛祈福,因而俗称“婆梭寺”。

初为家庙,未有常住僧众。至1806年(丙寅),两位高僧至新渊:广珂明理(号嘉长)与宝珠明净。渔庆村民礼请二师住持兴隆寺。其后明理圆寂,由明净继席,大弘佛法;至1889年圆寂,门人于寺右建塔,与广珂大师之塔相邻。

建筑

寺面向静谧的同奈河,最具特色者为古式建筑:屋脊与翘角皆饰以釉彩龙纹,纹饰精巧,出自平阳窑作。

三百余年来屡经修葺。现存建筑群包括:大雄宝殿,两侧钟楼、般若鼓楼,祖师殿与讲堂。东廊为双层建筑,与大殿平行。右侧为历代住持之塔林,依古塔式样建造,保存良好。院内古树(如“梢”“油”树)成荫。

文物

寺内留存丰富的楹联与题刻。大殿悬联意旨在于因果与入世(意译):

  • 「历劫为明君良将、孝子导师,运用真如,结无量善缘,庄严福海;现世能舍珍宝、妻子、城池与王位,圆成大觉,宣说恒沙妙法,拔济沉沦。」

祖师殿前联(意译):

  • 「兴在僧弘,万古金风承祖德;

    隆明道体,一生立志报师恩。」

尤为珍贵者:一尊高约1米之青铜佛像,线条匀称精美。此像由范氏开(婆梭,创寺者)于1802年供奉。相传其长子从西山军出征,婆梭祈愿若得平安归来,必铸铜佛以酬恩;同年战事既毕,长子平安返里,遂铸像供奉。此像为越南(及平阳)早期珍贵佛像之一。

遗产地位

兴隆寺于2004年6月2日依据第3875/QD-UBND号决定被列为省级历史遗迹。

5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)