Chùa Hương (Mỹ Đức – Hà Nội)

Chùa Hương (Mỹ Đức – Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Hương hay Hương Sơn là tên gọi của quần thể 18 đền chùa hang động, nằm rải rác ở 4 thôn Yến Vĩ, Đục Khê, Hội Xá và Phú Yên, xã Hương Sơn, Thành phố Hà Nội, trung tâm là chùa Thiên Trù và chùa Hương trong động Hương Tích.

Lịch sử và nhân vật

Theo các thư tịch cổ, chùa được xây dựng vào thế kỷ XV, thời vua Lê Thánh Tông (1442 – 1497) . Khi ấy, vua đi tuần thú lần 2 qua vùng núi rừng Hương Sơn vào tháng Giêng năm Đinh Hợi, niên hiệu Quang Thuận thứ 8 (1467), người đã cho quân lính nghỉ lại và thổi cơm ở tại thung lũng này. Vua xem thiên văn thấy vùng này là nơi sao Thiên Trù chiếu vào (sao chủ về ăn uống và biến động), nên nhân đấy đặt tên . 

Chùa Thiên Trù thuộc quần thể danh thắng Hương Sơn được xem là trung tâm Phật giáo lớn của vùng núi Hương Tích, gắn với quá trình hình thành và phát triển lâu dài của Phật giáo Việt Nam. Theo truyền ngôn dân gian, từ khoảng thế kỷ XV đã có các bậc tăng sĩ đầu tiên tìm ra động Hương Tích, dựng thảo am tại Thiên Trù, đặt nền móng cho Phật cảnh nơi đây. Sang cuối thế kỷ XVII, chùa được mở mang quy mô lớn, hình thành bố cục kiến trúc tương đối hoàn chỉnh, trở thành nơi hội tụ sinh hoạt tín ngưỡng và tu hành của tăng ni, Phật tử khắp vùng. Trải qua các thế kỷ XVIII – XIX, chùa tiếp tục được trùng tu, tôn tạo nhiều lần, gắn liền với sự bảo trợ của triều đình và công đức của giới quý tộc, tăng sĩ và nhân dân, góp phần tạo dựng diện mạo “bếp trời” (Thiên Trù) uy nghi giữa non thiêng Hương Sơn.

Trong thời kỳ chiến tranh thế kỷ XX, chùa Thiên Trù bị tàn phá nặng nề, gần như chỉ còn nền móng và phế tích. Sau đó, nhờ nỗ lực bền bỉ của chư tăng và Phật tử, chùa từng bước được dựng lại, trước hết bằng những công trình đơn sơ để duy trì sinh hoạt tôn giáo, rồi dần trùng tu quy mô lớn vào cuối thế kỷ XX, hình thành diện mạo khang trang như ngày nay. Song song với quá trình vật chất ấy, chùa còn giữ vai trò là trung tâm truyền thừa Phật pháp của vùng Hương Tích, với nhiều thế hệ trụ trì kế tiếp nhau, tạo nên mạch liên tục của đời sống tu hành suốt nhiều thế kỷ. Không chỉ là nơi thờ tự, chùa Thiên Trù còn là điểm tụ hội văn hóa – tâm linh quan trọng, gắn với lễ hội chùa Hương, trở thành biểu tượng tiêu biểu cho sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên, kiến trúc Phật giáo và truyền thống tín ngưỡng của người Việt.

Kiến trúc và cảnh quan

Một vùng non nước bao la 
Rằng đây lạc quốc hay là Đào Nguyên 
Hương Sơn là chốn non tiên
Bồng lai mà thấy ở miền nhân gian

Quần thể thắng cảnh chùa Hương là một không gian văn hóa – tín ngưỡng đặc biệt, được cấu trúc như một “vũ trụ linh thiêng” gồm nhiều lớp không gian nối tiếp từ chùa ngoài vào chùa trong, từ núi cao xuống thung lũng, từ nhân gian đến cõi Phật. Mười tám đền, chùa, hang, động phân bố trong bốn khu Hương – Thiên, Thanh Hương, Long Vân và Tuyết Sơn không tồn tại rời rạc mà liên kết với nhau theo một trục hành hương vừa mang ý nghĩa địa hình, vừa mang ý nghĩa tâm linh. Trong đó, chùa Thiên Trù giữ vai trò trung tâm nghi lễ và tổ chức sinh hoạt Phật giáo, còn động Hương Tích được xem là “bảo động” linh thiêng nhất – nơi kết tinh cao nhất tín ngưỡng Quan Âm Nam Hải, đồng thời là biểu tượng cho điểm đến tối hậu của cuộc hành hương.

Giá trị nổi bật của chùa Hương không chỉ nằm ở số lượng di tích, mà ở sự hòa quyện giữa cảnh quan tự nhiên, truyền thuyết Phật giáo và lịch sử dân gian. Các động, hang, núi, suối được “thiêng hóa” thông qua tên gọi, truyền tích và hệ thống thờ tự, tạo nên một lớp biểu tượng tâm linh phong phú: từ động Hương Tích gắn với tích Diệu Thiện tu hành thành Phật, chùa Giải Oan gắn với quan niệm tẩy trần – giải nghiệp, cho tới các đền thờ Mẫu, thờ Chúa Thượng Ngàn, phản ánh sự dung hợp giữa Phật giáo và tín ngưỡng bản địa. Những lần phát hiện, trùng tu và phục dựng qua nhiều thế kỷ cho thấy chùa Hương không phải là một di tích “đóng kín”, mà là một không gian sống động, luôn được cộng đồng bồi đắp, tái tạo theo nhu cầu tâm linh của từng thời đại.

Nhìn tổng thể, chùa Hương vừa là danh thắng tự nhiên, vừa là trung tâm tôn giáo – tín ngưỡng lớn của miền Bắc, nơi hội tụ các yếu tố Phật giáo, Đạo Mẫu và văn hóa dân gian Việt Nam. Cấu trúc không gian nhiều tầng bậc, hệ thống truyền thuyết phong phú và đời sống hành hương kéo dài hàng thế kỷ đã làm nên bản sắc riêng của Hương Sơn, khiến nơi đây không chỉ là điểm tham quan, mà còn là “cảnh giới tâm linh” đặc thù trong đời sống tinh thần người Việt.

Hiện vật

Quần thể di tích và thắng cảnh chùa Hương là một chỉnh thể văn hóa – tín ngưỡng đặc sắc, kết tinh giữa thiên nhiên, kiến trúc Phật giáo và đời sống tâm linh dân gian của người Việt. Trong đó, động Hương Tích giữ vị trí trung tâm linh thiêng, với pho tượng Quan Âm bằng đá xanh cuối thế kỷ XVIII như biểu tượng cốt lõi của tín ngưỡng Quan Âm Nam Hải, cùng hệ thống tượng thờ phong phú tạo nên một “ngôi chùa trong lòng núi”. Không gian động được hoàn thiện bởi các hiện vật nghệ thuật tiêu biểu như bệ đá hoa sen thời Hậu Lê, chuông đồng thời Tây Sơn, tượng La Hán và bút tích “Nam Thiên Đệ Nhất Động”, phản ánh sự giao thoa giữa mỹ thuật cung đình, nghệ thuật dân gian và tinh thần Phật giáo. Bên cạnh giá trị nhân tạo, hệ thống nhũ đá tự nhiên với những hình khối giàu liên tưởng đã góp phần hình thành lớp biểu tượng tâm linh độc đáo, nơi thiên nhiên được “thiêng hóa” trong cảm thức dân gian.

Chùa Thiên Trù giữ vai trò trung tâm hành lễ và tổ chức không gian sinh hoạt tôn giáo của toàn khu vực, vừa là đầu mối tín ngưỡng, vừa là điểm trung chuyển văn hóa giữa thế giới trần tục và cõi Phật Hương Tích. Những hiện vật như chuông đồng lớn, gác chuông nhiều tầng mái, cùng các công trình phục dựng trong thời hiện đại cho thấy quá trình kế tục không đứt đoạn của đời sống Phật giáo nơi đây, bất chấp biến động lịch sử. Nhìn tổng thể, chùa Hương không chỉ là một quần thể danh thắng nổi tiếng, mà còn là “bảo tàng sống” của văn hóa Phật giáo Việt Nam, nơi kết hợp hài hòa giữa cảnh quan tự nhiên, nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc truyền thống và niềm tin tâm linh, tạo nên sức sống bền bỉ cho di sản suốt nhiều thế kỷ.

Sự kiện và lễ hội

Người Việt Nam, mấy ai lại không biết tới hội chùa Hương – lễ hội được Phan Huy Chú, học giả lỗi lạc đầu thế kỷ XIX, đánh giá là “hội vui bậc nhất ở cõi trời Nam”. Lễ hội diễn ra tại quần thể Hương Sơn (xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, tỉnh Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội), nơi có dãy núi đá vôi Hương Tích, suối Yến thơ mộng, đồng ruộng trù phú – cảnh quan được ca dao xưa ví như “Đào Nguyên” nơi trần thế.

Hàng năm, lễ hội thu hút hàng chục vạn khách thập phương, trong đó có nhiều đoàn khách quốc tế. Những ngày cao điểm có tới hàng vạn người trẩy hội, minh chứng cho sức hấp dẫn đặc biệt của lễ hội chùa Hương. Hội trải dài trên ba tuyến hành hương: tuyến Hương Tích (tuyến chính), tuyến Tuyết Sơn và tuyến Long Vân, bao trùm toàn bộ cảnh quan non nước Hương Sơn.

Điểm nổi bật của hội chùa Hương là thời gian kéo dài nhất nước. Theo truyền thống, hội thường bắt đầu sau rằm tháng Giêng và vãn dần vào rằm tháng Ba. Ngày nay, lễ khai hội được ấn định vào mồng 6 tháng Giêng âm lịch – gắn với nghi lễ khai sơn (mở cửa rừng) của làng Yến Vĩ và Phú Yên. Đây vốn là nghi lễ nông nghiệp cổ xưa, tạ ơn sơn thần và cầu mong một năm thuận hòa, mùa màng tốt tươi. Nghi thức khai sơn độc đáo: làng Yến Vĩ dâng một mâm lợn sống, làng Phú Yên dâng chó thui (hoặc cổ lợn thay thế), sau đó chọn những gia đình mẫu mực vào rừng chặt cành cây làm lễ mở cửa. Qua thời gian, lễ khai sơn hòa nhập với tín ngưỡng Phật giáo, trở thành lễ khai hội chùa Hương tại đền Trình – nơi dân làng Yến Vĩ tổ chức múa rồng, bơi thuyền rồng trên dòng suối Yến.

Từ sau lễ khai hội, dòng người hành hương ngày một đông. Ngày 18 tháng Hai âm lịch là cao điểm – tương truyền là ngày khánh đản Đức Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng là ngày sinh của bà Chúa Ba trong tín ngưỡng chùa Hương. Từ mồng 6 tháng Giêng đến hết tháng Ba, lễ hội kéo dài suốt ba tháng xuân, trọn một quý đầu trong vòng tuần hoàn Xuân – Hạ – Thu – Đông của đất trời.

Hội chùa Hương vừa là hành trình tâm linh – lễ bái cầu an, tưởng niệm công đức Phật – vừa là lễ hội văn hóa – du lịch lớn, hòa quyện cảnh sắc thiên nhiên, tín ngưỡng dân gian và đời sống tinh thần của người Việt. Sau khi hội chính khép lại, du khách vẫn tiếp tục đến Hương Sơn vào những ngày rằm, mồng một hay chủ nhật hàng tháng, cho thấy sức sống bền lâu của một lễ hội đã trở thành biểu tượng văn hóa – tín ngưỡng của dân tộc.

Xếp hạng

Quần thể danh thắng Hương Sơn (Chùa Hương) được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng là Di tích Quốc gia đặc biệt vào ngày 25/12/2017. 

Tham khảo 

  1. Sa môn Thích Minh Hiền (2020), Trùng tu Thiên Trù Hương Tích quảng ký, trên trang: chuahuong.org.vn. 
  2. Phạm Đức Hiếu (2008), Chùa Hương Tích – Cảnh quan và tín ngưỡng, Nhà in Báo Thể thao Việt Nam. 
  3. Hệ thống văn bia chùa Hương
  4. Vũ Ngọc Khánh (Chủ biên) (2006), Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh niên.
  5. Lịch sử truyền thừa – Đạo Phật ở Hương Sơn, trên trang: chuahuong.org.vn. 
  6. Lược sử chùa Hương, trên trang: chuahuong.org.vn. 
  7. Nguyễn Tá Nhí – Đặng Văn Tu – Nguyễn Thị Trang – Lưu Đinh Tăng (1993), Văn bia Hà Tây, Bảo tàng Tổng hợp Sở Văn hóa Thông tin Thể Thao Hà Tây. 
  8. Lưu Minh Trị (Chủ biên) (2011), Hà Nội danh thắng và di tích, tập 2, Nxb Hà Nội. 
  9. Phượng Vũ – Hồ Sĩ Vịnh (Chủ biên) (2000), Lễ hội cổ truyền Hà Tây, Sở Văn hóa thông tin Hà Tây. 

 

3.5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)