Chùa Hương Quang (Chùa Chanh – Thanh Hoá)

Chùa Hương Quang (Chùa Chanh – Thanh Hoá)

Chùa Hương Quang nằm trên một khu đất rộng, thoáng đãng, hữu tình bên dòng Cốc giang hiền hòa và thơ mộng, về phía đông – bắc của thành phố Thanh Hóa ngày nay. Ngôi chùa này không phải bây giờ mà từ lâu đã mang trên mình địa vị vàng son để trở thành một trung tâm sinh hoạt Phật giáo của xã Bố Vệ, tổng Bố Đức, huyện Đông Sơn xưa. Khách hành hương đến đây tưởng như được đắm chìm vào mảnh trời cực lạc, để ngẫm về lẽ vô thường của cuộc đời, về nguồn cội, về lòng yêu thương con người và yêu quê hương xứ sở của mình. Đất thiêng tích thiện– lời minh ngắn ngủi ấy của người xưa còn ghi lại trên bia đá của chùa chắc chắn không phải là sự tình cờ.

Lịch sử

Ngược dòng lịch sử, xét về mặt địa lý thì chùa Hương Quang xưa thuộc thôn Cẩm Bào Nội, xã Bố Vệ, tổng Bố Đức, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Sau Cách mạng tháng Tám 1945 thuộc xã Đông Hương, huyện Đông Sơn và ngày nay là phố Nguyễn Chích, phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hóa. Vùng đất này được biết đến và ngày càng được biết đến nhiều hơn không chỉ vì bề dày thời gian mà quan trọng hơn là nó không còn giữ được vẻ đẹp cổ kính trước sự cám dỗ và xu thế đô thị hóa hiện đại hóa đang diễn ra, đặc biệt là trong mấy thập kỷ gần đây. Dòng sông Đào và sông Cốc uốn lượn như những dải lụa len lỏi giữa các làng Cẩm Bào Nội, Cẩm Bào Ngoại, Cốc Thượng và Cốc Hạ (mà ngày nay dấu tích vẫn còn là dòng chảy và chiếc cầu treo bắc qua sông Bến Ngự thuộc khu vực ngã ba sông có tên là cầu Tranh) đang mất dần những vẻ đẹp tự nhiên vốn có trước biến đổi của đô thị hóa. Theo các nguồn sử cũ thì trước thế kỷ XIX, dòng Cốc giang còn đầy ắp nước, phía tả ngạn của dòng sông này là các làng. Cốc Thượng và Cốc Hạ còn lầy lội và rậm rạp; khu vực trung tâm của đất Cẩm Bào Nội (tức là khu vực chùa Chanh hiện nay) nằm ở vùng ngã ba sông, một vị trí quan trọng, trên bến dưới thuyền tấp nập. Bài minh trên chuông chùa Hương Quang đề năm Tự Đức thứ 10 (1857) đã cho rằng: Chùa Hương Quang là di tích cổ ở trời Nam, cảnh đẹp ở nơi đất Việt. Chốn thờ phụng linh thiêng nổi tiếng một vùng. Thật là nơi hợp với lòng trăm họ. Nơi rồng tranh biển lớn, cá kình chầu chực bốn phương.

Quả thực, trước thế kỷ XIX và xa hơn chút nữa từ thời Lý – Trần, thôn Cẩm Bào Nội nằm ở vùng ngã ba sông – nơi hợp lưu của sông Cầu Sâng và sông Cốc, hai dòng sông có vai trò quan trọng về mặt quân sự và kinh tế. Sông Cầu Sâng trấn giữ cửa ngõ phía bắc đi qua đất làng Hạc, ngã ba Đình Hương, đi vào vùng đất Kẻ Giàng cổ nối với sông Mã. Sông Cốc chắn giữ ở phía đông – nam, một nhánh chảy về phía đông nối vào sông Mã ở xã Đông Hương, một nhánh chảy về phía nam gặp sông Nhà Lê ở đất Bào Ngoại (Lai Thành) rồi tiếp nối với sông Nhà Lê chảy từ làng Bố Vệ, cảnh sắc đó đã tạo nên thế trên bến dưới thuyền. Từ thời Lý – Trần, vùng đất này gắn liền với sự tích các vua nhà Lý trong những lần tuần du trên sông đã ngự thuyền rồng trên đất Cẩm Bào xưa, nên được dân gian gọi là dòng Ngự Giang. Địa danh Bến Ngự hẳn cũng bắt nguồn từ sự tích của dòng sông và lịch sử đó.

Cái tên Cẩm Bào Nội với tư cách là một xã xuất hiện trong các dòng sử cũ từ đầu thế kỷ XIX. Đến đầu thế kỷ XX, khi tỉnh lỵ Thanh Hóa dời từ đất làng Giàng về làng Hạc (còn gọi là Hạc Oa – nơi chim làm tổ), tên Cẩm Bào Nội vẫn còn được nhắc đến gồm các làng Thọ Hạc, Đông Phố, Nam Phố (thuộc tổng Thọ Hạc); Đức Thọ Vạn, Cốc Hạ, Cẩm Bào Nội, Phú Cốc (thuộc tổng Bố Đức, huyện Đông Sơn). Về mặt hành chính, từ năm 1802, Cẩm Bào Nội đã là một đơn vị hành chính độc lập.

Đến năm 1918, thị xã Thanh Hóa lập 10 phường: Tả Môn (cửa Tả), Bắc Môn (cửa Hậu), Nam Môn (cửa Tiền), Đông Lạc, Thành Thị, Nam Lý, Phú Cốc, Vân Trường, Bào Giang và Đức Thọ; Cẩm Bào Nội nằm trong phường Bào Giang. Năm 1929 Đốc lý thành phố điều chỉnh lại địa giới thành phố, phía bắc giáp làng Thọ Hạc (cột mốc ngã ba cầu Hạc), phía nam giáp làng Mật Sơn (cột mốc ngã ba Tịch Điền), phía đông giáp sông Bến Ngự (cột mốc cầu Sâng, cầu Bốn Voi, cầu Cốc), phía tây giáp phủ Đông Sơn, lấy đường sắt làm ranh giới. Năm 1940 Đốc lý đã đề nghị mở rộng thêm thành phố về phía bắc bao gồm toàn bộ làng Thọ Hạc và Quán Giò, phía đông là làng Bào Nội, phía tây qua đường sắt là phố Dốc Ga. Đây là nói về đô thị với tư cách là thành phố theo đúng nghĩa từ sau năm 1930, còn trên thực tế, từ năm 1929 đến năm 1945, khu vực đất Cẩm Bào Nội được xác định về địa giới là bắc cầu Sâng – đông cầu Bốn Voi (còn gọi là phố Lò Chum, hay phố cầu Tranh) với nhiều tên gọi khác nhau.

Từ tháng 9/1945 đến năm 1947 vùng đất có ngôi chùa Hương Quang nổi tiếng – Cẩm Bào Nội, lại đổi tên là Nguyễn Du, trong các năm 1955 – 1987 có tên gọi là Tân Hưng và ngày nay là phố Nguyễn Chích – tên của một danh tướng thời Hậu Lê. Với vị trí địa lý như vậy, có thể thấy vùng đất Cẩm Bào Nội là một trung tâm kinh tế của đất cổ thành xưa. Trong tâm thức dân gian, Cẩm Bào Nội còn được gọi là Hương Bào Nội – đấy cũng là một đơn vị hành chính đã từng tồn tại trong sử sách. Có lẽ tên gọi Hương Bào là một đơn vị hành chính xuất hiện ít nhất là từ thời Trần. Vì trong sử sách chỉ thấy chép đơn vị hành chính là Hươngđược bắt đầu từ thời Trần (thế kỷ XIII). Như vậy vùng đất Hương Bào sau này tồn tại với hai địa danh để chỉ hai khu vực khác nhau: Hương Bào Nội và Hương Bào Ngoại, đấy chính là cả một vùng đất đai của xã Đông Hương ngày nay. Nhưng tên gọi dù là Hương Bào Nội hay Cẩm Bào Nội, lúc tách ra, lúc nhập vào theo những đơn vị hành chính đương thời, thì về mặt đường biên hành chính của vùng đất Cẩm Bào Nội trong quá khứ nghìn xưa vẫn được xác định là ở phía bắc cầu Sâng và đông cầu Cốc (gồm cả Hương Bào Ngoại) cho dù 700 năm đã trôi qua.

Quả thực ở vùng đông – bắc cầu Sâng và đông cầu Cốc ngày nay trong ký ức của nhân dân vẫn còn lưu giữ hình ảnh về Vực Tranh – nơi ngã ba của dòng sông Cốc và sông Đào, về các vua nhà Lý khi tuần du sông nước đã ngự thuyền rồng để lại địa danh Bến Ngự cạnh một làng thủ công nghiệp sành sứ đã từng đóng vai trò quan trọng là trung tâm kinh tế, văn hóa của tổng Bố Đức.

Như vậy, từ thời Lý – Trần – Lê và cả thời Nguyễn sau này, vùng đất Cẩm Bào Nội với ngôi chùa Hương Quang – một trung tâm văn hóa Phật giáo tiêu biểu của trấn thành xưa, vẫn còn in bóng dòng sông Bến Ngự đẹp đẽ và thơ mộng.

Cũng cần phải nói thêm rằng: Ở vị trí tiếp giáp của dòng sông Cốc chảy ra sông Mã ở phía bắc và nối với sông đào Nhà Lê ở phía nam, đất Cẩm Bào Nội xưa nằm ngay trên đường thủy quan trọng xuôi ngược Bắc – Nam. Và trên đường bộ, đây cũng là vùng tiếp giáp giữa các miền trọng yếu trong tỉnh.

Dọc sông Cầu Sâng đi về phía bắc là sông Mã. Nơi đây là một vùng thắng tích Hàm Rồng – núi Ngọc, với những hang động huyền tích và đồi C4 anh hùng. Tiếp giáp với nó là làng Đông Sơn với di tích thuộc thời đại kim khí – ở đó có đền thờ Trần Khát Chân và chùa Hạc Oa cổ kính. Về phía nam là núi Kỳ Lân (núi Mật), ở đấy, ngay dưới chân núi có chùa Đại Bi do Lê Huyền Tông (1663-1671) dựng để thờ vua cha là Lê Thần Tông, các Hoàng Thái hậu và đức Phật. Đó là Thái Miếu, nơi thờ các vua và hoàng hậu triều Hậu Lê được dựng từ đầu thời Nguyễn; về phía đông là nghè Cốc Hạ thờ Đương Cảnh Thành hoàng Nguyễn Thiện, phủ Vặng thờ bà chúa Thủy Tinh… Cẩm Bào Nội nằm ở ngã tư đường, đã trở thành một mối giao lưu văn hóa Đông, Tây, Nam, Bắc từ thuở ấy.

Trên bản đồ địa lý hôm nay, con đường thủy (sông Cốc) cùng với làng xóm của đất Cẩm Bào xưa (nay là phố Nguyễn Chích) là một đơn vị hành chính thuộc phường Nam Ngạn của đông bắc thành phố.

Kiến trúc cổ

Nằm trong dòng chảy của nền kiến trúc cổ Việt Nam, cũng như bất cứ một ngôi chùa nào trên đất nước ta, chùa Hương Quang là một công trình kiến trúc cổ kính và xinh đẹp. Chùa ở phía tây – nam Thành Hạc là bình phong đầu tiên của chùa… có gió ở bờ tây dài, bình phong sừng sững, thuyền biển Nam về, chim tụ họp sum vầy, khí tượng muôn ngàn dải núi sông. Bên trái, bên phải gió mây tích chứa, đất trải hoàng kim như vẽ, người thăm thán phục thay! Cảnh đẹp thiên nhiên đến nức lòng, càng lớn lao, càng kỳ lạ vậy!… Vào thời vua Tự Đức năm thứ 10 (1857) đúc chuông đồng và dựng bia ghi lại việc đúc chuông cùng việc: Quan kinh lược Bắc Kỳ tên là Giai và Đốc bộ tỉnh tên là Hợp, cầu mưa ở chùa Hương Quang được ứng nghiệm nên đã bỏ tiền ra sửa lại chùa. Đến thời vua Thành Thái năm thứ 3 (1891), ngày 25 tháng 3 dựng bia ghi lại việc tu sửa chùa. Chùa được bắt đầu xây dựng lại bằng những tòa nhà đồ sộ, bằng những dải vũ, trang sức tượng Phật, sắc trướng huy hoàng. Đây không chỉ là nơi đào tạo các nhà sư tu hành, nơi các tín đồ Phật giáo hành lễ, mà còn là trung tâm sinh hoạt văn hóa Phật giáo của làng xã qua nhiều đời.

Ngày nay, trải bao thăng trầm của lịch sử, Hương Quang là một trong những ngôi chùa hiếm hoi còn diện mạo tương đối hoàn chỉnh. Cổng Tam quan 2 tầng mái là một công trình kiến trúc mới được xây dựng vào năm 1994 đồ sộ và bề thế. Trong sân chùa là 4 tòa tháp gồm: Hương Quang bảo tháp, Diệu Nghiêm bảo tháp, Thanh Lương bảo tháp và Thanh Quang bảo tháp. Các công trình trong chùa đều rất quy mô, bề thế gồm: Chính điện, Thượng điện, nhà Tổ, nhà Mẫu, hành lang san sát lối kề, trong ngoài bao bọc, ngang dọc xen nhau. Toàn bộ kiến trúc của chùa được làm bằng nhiều cột gỗ to và cao, đặc trưng của kiến trúc thế kỷ XIX. Các vì kèo bằng gỗ tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc gỗ thời Nguyễn, có nhiều bức chạm khắc công phu, hình tứ linh, hoa lá. Bức chạm nào cũng rất tinh tế, sinh động và gợi cảm. Dưới thời vua Bảo Đại, vào các năm thứ 2 (1927) và thứ 10 (1935), chùa Hương Quang đều được tu sửa. Đến năm 1940, dân làng Cẩm Bào Nội lại sửa sang chùa thêm đẹp hơn.

Chùa Hương Quang còn nổi tiếng bởi hệ thống tượng Phật. Không chỉ đặc sắc về dáng hình, thể loại mà còn phong phú về số lượng. Trong chùa hiện còn 69 pho tượng Phật lớn nhỏ, chủ yếu là tượng gỗ. Các pho tượng này đều thể hiện tính nghệ thuật cao, mang đậm dấu ấn tâm hồn người nghệ nhân đương thời. Đáng lưu ý, có một số pho tượng có nghệ thuật cao như tượng Di Lặc, Bồ Tát, Nam Hải Quan Thế Âm, Tứ Bồ Tát và tượng Đức tổ Tây, v.v… Ở chùa Hương Quang còn có nhà thờ Mẫu – một điện thờ thần linh luôn được nhiều bộ phận nhân dân quan tâm. Hệ thống thờ Mẫu ở chùa Hương Quang bảo gồm: Hệ sáng tạo là Tứ phủ (miền Thiên phủ: miền trời; Nhạc phủ: miền rừng núi; Thoải phủ: miền sông nước; Địa phủ: miền đất). Ngoài ra còn có Công đồng (hội chư linh, đại diện tất cả thiên thánh) gồm: Ngũ vị Tiên ông, Ba tòa Quan giám, Tứ phủ Quan hoàng, Tứ vị Thánh cô, Thập nhị Sơn trang, Cô bản điện, Cậu bản điện...

Tại chùa Hương Quang còn có 7 bia đá cổ gồm: Bia chuông dựng năm Tự Đức thứ 10 (1857); (kích thước cao 1m, rộng 0,32m); Bia Hương Quang tự bi dựng năm Thành Thái thứ 3 (1891) (cao 0,85m, rộng 0,48m); Bia Hương Quang kim cổ bi dựng năm Bảo Đại thứ 2 (1927) (cao 1,63m, rộng 0,90m); Bia ghi trùng tu chùa Cẩm Bào (chiều cao 1,5m, khổ rộng 0,90m); Bia Tín thiện tử thần (chiều cao 1,50m, khổ rộng 0,9m); Bia Trùng tu Hương Quang tự bi dựng năm Bảo Đại thứ 10 (1935); Bia Bào Nội tự bi dựng năm Bảo Đại thứ 15 (chiều cao 0,95m, khổ rộng 0,34m); Bia Gửi giỗ chùa Chanh dựng Hoàng Triều năm Ất Sửu Chùa còn giữ được một quả chuông đồng (cao 0,90m, đường kính miệng 0,55m) có niên đại Tự Đức (1857). Đấy là những dòng ký sự trên đá có nhiều giá trị trong việc nghiên cứu Phật giáo Việt Nam.

Sau nhiều thế kỷ tồn tại, khắp nơi đều biết tiếng, cùng với hệ thống tượng Phật, các bức phù điêu tinh xảo, chùa Hương Quang được xem là một trong những ngôi chùa lớn và đẹp thành phố Thanh Hóa hiện nay. Đó là một tài sản văn hóa vật chất và tâm linh vô giá giữa một vùng danh lam thắng cảnh trong lòng thành phố. Với vị trí trong thế tương quan lịch sử – văn hóa cảnh quan du lịch của thành phố Thanh Hóa, chùa Hương Quang với những giá trị vốn có của nó là một tài sản quý góp phần làm giàu thêm kho tàng văn hóa xứ Thanh, tôn vinh thêm nền văn hóa Việt Nam.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập I), CN. Nguyễn Thị Vân

     

Chấm điểm
Chia sẻ
Chua-Huong-Quang-Thanh-Hoa

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *