Giới thiệu
Chùa Huyền Lâm, còn có tên chùa Thạch Động, thường gọi chùa Đá, dựng trên mái Đông rú Thông – Tùng Lĩnh, địa phận làng Tùng Ảnh, xã Việt Yên Hạ, tổng Việt Yên, nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ. Phật tự dị canh kim Thạch Động – Tăng kham do tại cổ Huyền Lâm – (Chùa Phật nay thay tên Thạch Động – Tháp sư trước vẫn gọi Huyền Lâm (Thơ Bùi Dương Lịch).
Cảnh quan
Một bài viết của nhà báo Bùi Hoàng Đào mô tả lại cảnh chùa Thạch Động trước năm 1945 theo lời kể của đồng bào địa phương:
Chùa dựng trong một khu vườn rộng mé đồi, mặt hướng về phía Đông – Bắc, có ba tòa Thượng, Trung, Hạ đường. Mỗi tòa nhà rộng 6m, dài 8m, có 12 cột gỗ mít, lợp ngói vảy, xây tường bao, trên nóc đắp hình rồng, phượng… Nhà thượng đường phủ trùm lên tòa đá tự nhiên làm bàn thờ, (do đó chùa gọi là Thạch Động). Ba tòa nhà nối liền với nhau bởi một hệ thống máng nước bằng gạch nên rất đồ sộ. Trong chùa có nhiều bức chạm, vẽ cảnh núi non sông nước, cảnh sinh hoạt dân gian và hàng trăm pho tượng Phật, nhiều pho có giá trị nghệ thuật cao: Phật Như Lai, A Di Đà, Di Lặc, Quan Âm 12 tay… Phía dưới có các tượng Kim Cương, La Hán, và bên phải tòa đá còn có tượng Thánh mẫu Liễu Hạnh…
Tháp chuông mé Đông – Bắc trước chùa cao 10m(?) đặt trên bốn cây cột mít cao, to, mỗi cột đường kính khoảng 0,40m, trên treo quả chuông đồng đường kính 1m, nặng trên nửa tấn, đánh lên tiếng vang vọng khắp vùng. Ở tầng dưới tháp, treo tấm khánh đá dài trên 1,20m.
Nhà trù ở mé Đông Nam vườn chùa, rộng 4m dài 8m cũng lợp ngói, xây tường. Cũng ở mé này có hai ngọn tháp, tháp nhỏ là nơi đặt xá lỵ các nhà sư. Tháp lớn là một công trình kiến trúc có giá trị cao.
Qua khảo sát thì trên thân tháp còn nhiều họa tiết trang trí rất tinh xảo, nhiều mảng gạch nung hình “Phượng ngậm cành hoa”, “Lân ngậm cành hoa”…
Rất tiếc là ngôi tháp hiếm có này đã bị làm hỏng khi sửa chữa lại.
Lịch sử
Cho đến trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mặc dầu từ lâu chùa không có sư trụ trì, nhưng vẫn có những người tự nguyện lên coi sóc, hương khói. Cụ Phan Quý Mỹ (1873 – 1925) mồ côi lúc 10 tuổi vào chùa học với sư, trở thành nhà nho khá thông hiểu. Khi không còn sư, cụ vẫn ở lại coi chùa ba năm rồi mới lên xã Yên Duệ dạy học và lập gia đình. Tiếp đó lại có cụ Phan Đức Hinh (1890 -?) – (thường gọi là cố Cu Giáp), rồi ông Dương Duy Dụ… lại có những người như cố bà Phúc, cũng người họ Phan ở xóm Đình, thường đóng góp để sơn lại tượng Phật, sắm thêm tự khí… (Theo tài liệu của cụ Phan Trọng Tài).
Vào những ngày sóc, ngày vọng, dân trong vùng vẫn kéo nhau đi lễ chùa. Các lễ Phật đản (Mồng tám tháng tư ÂL), Trung nguyên (Rằm tháng bảy ÂL) vẫn được tổ chức trọng thể hàng năm. Nhà thơ trào phúng Phan Điện (1874 – 1945) có câu đối Đề Thạch Động tự: Không thị sắc, sắc thị không, tự cổ tằng văn “Tây hữu…”)
Phật tức tâm, tâm tức Phật, như kim diệc viết “Nam vô”(1) (Không ấy sắc, sắc ấy không, từ trước từng nghe “Tây hữu”; Phật là tâm, tâm là Phật, đến nay vẫn nói “Nam vô”)
Sau cách mạng, việc cúng lễ chấm dứt, ngôi chùa Huyền Lâm – Thạch Động bị bỏ phế trệ lâu ngày hư nát. Sau đó, ngôi nhà chính, nhà trù, tháp chuông… bị bom Mỹ phá sập. Chùa bị dỡ phá hoàn toàn, 12 pho tượng đưa sang đặt trong đền Linh Cảm đại vương gần đó. Vườn chùa, một phần bị trưng dụng xây kho thóc, trường học…, một phần do dân chiếm làm nhà ở. Di tích chùa xưa chỉ còn lại ngôi tháp, giếng chùa và cây thị trên vài ba trăm tuổi. Dân địa phương đã tô lại các ngôi tháp, đặt lư hương trước tháp và bên gốc thị, để đốt hương lễ bái.
Trùng tu và xây dựng mới
Hiện nay ngôi chùa cổ nổi tiếng đã được các nhà hảo tâm xây dựng lại với quy mô lớn và khang trang hơn.
Tham khảo
- Trích sách “Chùa cổ Hà Tĩnh”, tác giả Thái Kim Đỉnh