Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Kiêu Kỵ là tên gọi theo địa danh thôn Kiêu Kỵ, Gia Lâm, Hà Nội, tên chữ là “Sùng Phúc tự”. Chùa nằm ở phía Bắc sông Hồng, cách Hồ Hoàn Kiếm khoảng 15km.
Lược sử
Kiêu Kỵ là một làng Việt cổ có lịch sử tạo dựng và phát triển từ rất lâu đời. Dấu ấn văn hoá của thời dựng nước còn lưu lại trên mảnh đất này qua hệ thống các di tích lịch sử văn hóa đình, đền, chùa. Thời vua Trần dẹp giặc Nguyên-Mông ở thế kỷ XIII. Nguyễn Chế Nghĩa – một danh tướng vì có công dẹp tan giặc ngoại xâm, ông được nhà vua ban cho đất Kiêu Kỵ làm thái ấp. Sau khi ông mất dân làng suy tôn ông làm Thành hoàng làng và lập đền thờ phụng tưởng nhớ ông mãi mãi. Vị thần thứ hai được thờ phụng tại đền là ông Nguyễn Quý Trị, người làng Kiêu Kỵ, được dân làng tôn thờ là ông tổ nghề dát vàng của Kiêu Kỵ, giúp cho người dân có cuộc sống thịnh vượng.
Căn cứ vào các di vật có niên đại tạo tác từ thời Lê hiện còn trong chùa như tượng A Di Đà, Thế Tôn, tấm bia hậu niên hiệu Tự Đức Bính Tý (1876) ghi việc trùng tu sửa chữa chùa; những di vật văn hoá hiện còn trong chùa cùng bộ tượng tròn và các công trình kiến trúc là những minh chứng về việc chùa có thể được khởi dựng từ thời Hậu Lê và trải qua nhiều lần trùng tu sửa chữa. Chùa Sùng Phúc cũng như các chùa làng khác trong vùng thờ Phật theo phái đại thừa, thờ tổ, thờ mẫu theo tín ngưỡng dân gian.
Kiến trúc
Chùa Sùng Phúc được xây dựng trên khu đất rộng phía sau đình, đền Kiêu Kỵ, chùa có quy mô bề thế khang trang so với một số ngôi chùa khác trong khu vực. Các công trình kiến trúc của chùa được quy hoạch tập trung trong khoảng không gian rộng. Chùa quay về hướng Nam gồm các công trình kiến trúc: Tam quan, Tiền đường, Thượng điện, nhà Tổ, điện thờ Mẫu, hai nhà dải vũ.
Tam quan xây bằng gạch vữa kiểu nhà có mái chồng diêm, hai tầng tám mái, mái lợp giả ngói ống, giữa bờ nóc mái thượng đáp hình rồng chầu mặt trời. Hai bên cổng chính xây hai cột trụ biểu, kiểu trụ lồng đèn, đỉnh trụ đặt tượng nghê, nối tiếp hai bên cổng xây hai mộ tháp. Đây là một kiểu bố cục kiến trúc khá đặc biệt có lẽ chỉ có ở chùa Sùng Phúc, bởi tháp mộ thường được xây ở phía sau chùa và được quy hoạch trong vườn tháp, nhưng ở đây, người xưa lại xây tháp phía trước tam bảo, việc quy hoạch này cần được tìm hiểu và nghiên cứu thêm để hiểu rõ ý nghĩa thâm sâu qua cách bố cục sắp xếp thứ tự các công trình kiến trúc của chùa.
Nhà Tiền đường năm gian hai dĩ xây chạy ngang, phía trước xây hai bậc lên nền nhà, hiện hè được bó vỉa bằng những phiến đá xanh hạt mịn dài 40cm. Nhà xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, mái lợp ngói mũi hài, bờ nóc đắp kiểu bờ đỉnh, giữa bờ nóc đắp bức cuốn thư bằng vữa mặt cuốn thư đắp ba chữ Hán “Sùng Phúc tự” (chùa Sùng Phúc), phía trước hai hổi xây nhỏ ra một mảng tường dài 1,5m, phía ngoài tường xây cột trụ biểu có kích thước lớn, trụ có mặt cắt hình vuông, đỉnh trụ đắp hình phượng kiểu lá lật, phần mui luyện đắp hình rồng, các ô lồng đèn đắp nổi hình tứ linh (long, ly, quy, phượng), trên mặt bức tường nối hồi nhà và trụ biểu đắp hình bạch hổ và thanh long theo phương vị “Đông Thanh Long, Tây Bạch Hổ”, hiện hè rộng 2,1m, hai đốc mái đắp hình rồng miệng ngậm bờ nóc, phần tay ngai trang trí hoa văn cách điệu. Mặt bằng nội thất sáu hàng chân cột gỗ đỡ mái, các cột tròn tạo kiểu hình đòng đòng, đặt trên các chân tảng đá kích thước 40cm x 40cm. Phía trước mở bảy bộ cửa kiểu bức bàn. Các vì kèo đỡ mái làm kiểu “thượng chồng rường, hạ kẻ bẩy hiên”, hoành mái phân “thượng tam, hạ tứ”. Trang trí trên kiến trúc tập trung vào hai bức cốn hiện chạm nổi hình “trúc lão hoá rồng” và “mai lão hoá rồng”.
Toà Thượng điện xây nối với gian giữa Tiền đường, vì kèo gian giữa ăn mộng với hai cột cái gian giữa Thượng diện. Nhà xây kiểu tường hồi bít đốc mái lợp ngói mũi hài, nội thất bốn gian. Kiểu dáng, kích thước các cột và kết cấu vì kèo tương tự như nhà tiền đường.
Nhà thờ Tổ, thờ mẫu xây ở phía sau Thượng điện ngăn cách bởi một khoảng sân rộng. Nhà thờ Tổ năm gian xây kiểu tường hồi bít đốc, trên nền cao hơn mặt sân 30cm. Mặt bằng nội thất bốn hàng chân, hiện còn hai hàng cột gỗ đỡ mái, trốn hai hàng cột phía sau. Hai vì kèo gian giữa làm kiểu “giá chiêng trụ đấu hạ kẻ bẩy hiên”, bốn bộ vì gian bên làm kiểu “kèo cầu – quá giang – cột trốn”. Hậu cung một gian hai dĩ xây nối tiếp với gian giữa tiền tế, vì kèo đỡ mái làm kiểu “thượng giá chiêng hạ kẻ”.
Hai nhà dải vũ mỗi dãy 10 gian, xây nối với tường hậu tiền đường, chạy dọc song song với thượng điện, một đầu nối với nhà thờ tổ tạo thành một tổng thể kiến trúc khép kín, nếp nhà này lợp ngói ta, kết cấu vì kèo đơn giản kiểu “kèo cầu quá giang cột trốn”.
Vào năm 2017-2018, trước sự xuống cấp nghiêm trọng của ngôi chùa, Trụ trì chùa cùng chính quyền địa phương, nhân dân xã Kiêu Kỵ và khách thập phương đã quyên góp xây dựng, tu tạo phần thờ Đại hùng bảo điện tương đối khang trang với kinh phí gần 10 tỷ đồng.
Tượng thờ
Bài trí tượng thờ của chùa Sùng Phúc về cơ bản tuân thủ chặt chẽ theo nguyên tắc nghiêm ngặt của giáo lý đạo Phật. Từ ngoài vào sát tường hậu Tiền đường phía ngoài là tượng hộ pháp Trừng ác có kích thước lớn, phía trong là ban thờ Đức Thánh Hiền, hai bên là tượng Diệu Nhiên và Đại Sĩ, đối diện bên trái phía trong là ban thờ Đức Ông và hai vị Tả Hữu, ngoài là tượng hộ pháp Khuyến Thiện.
Tại toà Phật điện ở vị trí cao nhất trên cùng là ba pho tượng Tam thế thường trụ diệu pháp thân, tượng biểu hiện cho đức Phật ở ba thì hiện tại, quá khứ và vị lai. Lớp thứ hai là bộ tượng Di Đà Tam tôn, tượng A Di Đà ở giữa hai bên là Quan Thế Âm bồ tát và Đại Thế Chí bồ tát. Lớp thứ ba là tượng Quan Âm chuẩn để và hai vị Bồ Tát. Lớp thứ tư là tượng Thích Ca Thế Tôn và hai vị Thị giả. Lớp thứ năm là tượng vua cha Ngọc Hoàng và tượng Phạm Thiên, Đế Thích. Lớp thứ sáu ở giữa là Toà Cửu Long và Phật Thích Ca sơ sinh, hai bên là tượng Kim Đồng, Ngọc Nữ.
Dọc hai bên sát tường hồi Thượng điện là bộ tượng Thập diện Diêm Vương, sát tường hậu Thượng điện bên trái là ban thờ Quan Âm chuẩn để, bên phải là ban thờ Quan Âm tống tử. Hệ thống tượng thờ tại chùa Sùng Phúc được tạo tác công phu, tinh xảo, đáng chú ý hơn cả là các pho tượng A Di Đà, Thích Ca Thế Tôn là những tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII. Tượng A Di Đà 135cm, ngang đùi 90cm, bé sen 35cm, ngồi thiền định trên toà sen ba lớp cánh, cánh sen to, mập. Đầu kết tóc bụt ốc xếp liền nhau theo hàng ngang, chạy quanh đầu, mặt bầu phúc hậu, gò mi cao, hai mắt khép hờ, mũi dọc dừa, gò môi mím tự nhiên, tai to chảy dài ngang cằm, cổ cao nổi rõ ba ngấn, hai tay đặt trên lòng dùi đan vào nhau. Tượng mặc áo cà sa hai lớp thanh y và cát y, ngực để hở chữ “vạn”. Tượng Thích Ca Thế Tôn ở tư thế đứng trên toà sen, cao 1,56m, bệ sen 25cm, các cánh sen có trang trí hoa văn, có dung mạo tương tự tượng A Di Đà. Các pho tượng khác của chùa mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX.
Di vật
Trải qua những bước thăng trầm biến động đổi thay của lịch sử dân tộc tồn tại đến ngày nay chùa Sùng Phúc còn bảo lưu được khối kiến trúc vật chất và bộ sưu tập di vật mang giá trị nghệ thuật cao như: bộ tượng tròn 47 pho trong đó chia ba loại: tượng Phật 40 pho, tượng Tổ hai pho, tượng Mẫu năm pho, một quả chuông đồng niên hiệu thời Nguyễn, năm đôi câu đối, bảy bức hoành phi, một tấm bia hậu niên hiệu Bảo Đại (1936); cửa võng, cuốn thư… Giá trị của di tích được ẩn tàng trong nội dung lịch sử, khối kiến trúc vật chất hiện còn.
Là một di tích tôn giáo thờ Phật, lại nằm trong một quần thể các di tích tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng là đình và đền Kiêu Kỵ, chùa Sùng Phúc là trung tâm sinh hoạt văn hoá tinh thần của một cộng đồng dân cư. Nội dung lịch sử và những nét đẹp độc đáo của các công trình kiến trúc cũng như các di vật cổ quý hiếm còn bảo lưu tại di tích đã đưa di tích vượt ra khỏi không gian hạn hẹp của một làng quê để hoà nhập vào kho tàng di sản văn hoá của dân tộc.
Xếp hạng
Chùa Sùng Phúc cùng với đình – đền Kiêu Kỵ đã được Bộ Văn hoá – Thông tin ra Quyết định xếp hạng di tích Lịch sử và Kiến trúc nghệ thuật năm 1996.
Tham khảo
- Ủy ban nhân dân huyện Gia Lâm (2010), Di tích lịch sử văn hóa cách mạng kháng chiến huyện Gia Lâm, tài liệu lưu hành nội bộ.
- https://nguoihanoi.vn/dinh-den-chua-kieu-ky-huyen-gia-lam-70191.html