Chùa Là (Chùa La – Thiệu Hoá, Thanh Hoá)

Chùa Là (Chùa La – Thiệu Hoá, Thanh Hoá)

Chùa Là còn có tên gọi khác là chùa La. Chùa Là là cách gọi theo tên địa danh nơi ngôi chùa tọa lạc, cũng do chùa tọa lạc dưới chân núi La nên còn có tên gọi khác là chùa La. Làng Là, xã Thiệu Tiến, nơi có chùa Là tọa lạc nằm về phía đông nam xã Thiệu Tiến, phía đông giáp hai xã Thiệu Phúc và Thiệu Công; phía nam giáp xã Thiệu Phúc; phía tây giáp đê sông Chu và xa xa là xã Thiệu Minh; phía bắc giáp xã Thiệu Thành. Chùa tựa lưng vào núi La, nhìn về hướng đông nam, cách trung tâm thành phố Thanh Hóa khoảng 45km về phía đông nam.

Lịch sử xây dựng chùa

Về việc xây dựng chùa, đến nay chưa tìm thấy nguồn tài liệu nào ghi chép cụ thể, chính xác về thời gian xây dựng chùa. Tuy nhiên, theo lời kể của các bậc cao niên trong làng, đặc biệt là cụ Hoàng Khắc Tôn (năm nay 80 tuổi) cho biết: Chùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ XVII, đầu thế kỷ XVIII và do bà Trịnh Thị Liễu, người làng Láng thuộc huyện Thọ Xuân cùng với một người ở huyện Vĩnh Lộc và một người ở thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa vận động và bỏ tiền của để xây dựng chùa. Chùa xưa có quy mô khá to lớn, bộ khung gỗ được làm hoàn toàn bằng gỗ lim với 07 gian Tiền đường và ba gian Hậu cung, có đầy đủ hệ thống tượng pháp. Vào khoảng những 1945 đến 1950, do điều kiện kinh tế của làng, đồng thời vào đúng thời điểm nhân dân ta đang thực hiện công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Lúc này, núi Là là một trong những điểm hoạt động bí mật của các chiến sĩ cách mạng, trong đó có đồng chí Nguyễn Lương Bằng (bí danh Sao Đỏ) – Nhà cách mạng xuất sắc, một trong những chiến sỹ cộng sản thuộc lớp đầu tiên của đất nước. Đồng chí Nguyễn Lương Bằng, quê ở làng Đông Thôn, xã Thanh Tùng, huyện Thanh Miện. Trong những năm hoạt động bí mật, đồng chí lấy bí danh là Sao Đỏ, được Bác Hồ coi như học trò, bạn chiến đấu gần gũi và các đồng chí cộng sản kính trọng như người anh cả. Sau này ông giữ chức vụ Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tại đây, ban ngày các chiến sĩ cách mạng của ta ẩn nấp trong hang núi Là, ban đêm họp và ngủ tại chùa Là. Sau này, do cơ sở cách mạng tại chùa Là và núi Là bị lộ nên nhân dân và chính quyền địa phương quyết định phá chùa để không cho bọn Việt gian lấy chùa làm cơ sở hoạt động. Cũng theo ông Hoàng Khắc Tôn, ở làng Là có ông Hoàng Văn Môn là một trong những người nuôi giấu các chiến sĩ cách mạng đã được Nhà nước cấp bằng công nhận là Người có công với cách mạng. Một trong những người được ông Môn nuôi giấu trong thời kỳ này là đồng chí Nguyễn Lương Bằng. Ông Môn cho biết, chùa xưa có cả ao chùa, giếng chùa, ruộng chùa. Sau này, khi chùa bị phá hủy, tất cả hệ thống tượng pháp, đồ thờ, bia đá, bệ thờ, chân tảng, đá lan giai… trong chùa bị thất lạc. Ông Môn cũng như nhân dân nơi đây cũng cho biết, dưới giếng và ao chùa hiện nay vẫn còn các bia đá, chân tảng cùng các tượng, đồ thờ của chùa xưa.

Nhìn chung, mặc dù không tìm thấy nguồn tài liệu nào ghi chép về lịch sử xây dựng chùa. Nhưng với những hiện vật còn sót lại ở chùa như: chân tảng, chân lọng, đá lan giai, đế bia… và đặc biệt là bệ sen bằng đá cỡ lớn mà theo nhân dân cho biết đây là bệ tượng Phật A Di Đà của chùa xưa đã minh chứng cho sự tồn tại của ngôi chùa nơi đây. Từ tháng 2 năm 1999 đến tháng 9 năm 2009, chùa được tôn tạo lại như ngày nay.

Không gian và kết cấu của chùa

Hiện chùa tọa lạc trên một khu đất cao ráo, rộng rãi và thoáng mát về phía tây bắc của làng Là và dưới chân núi Là, có tổng diện tích là 967m2. Các phía tây bắc giáp núi Là, đông bắc giáp dân cư, đông nam và tây nam giáp cánh đồng và đường liên xã.

Từ ngoài vào có các công trình sau:

Sân chùa: được láng bằng xi măng và vôi vữa với chiều dài là 10m, rộng 5,20m.

Chùa chính.

Về quy mô cấu trúc: chùa được cấu trúc theo kiểu chữ Đinh (丁) gồm có 3 gian Tiền đường và 03 gian Thượng điện. Trong đó, thượng điện: là một ngôi nhà 3 gian hai chái, 2 bộ vì kèo bằng gỗ có chiều dài là 10m, chiều rộng là 5,5m (cả hiên), với tổng diện tích là 55m2.

Diện mạo bên ngoài: phần mái được cấu trúc gồm 2 tầng 8 mái cong theo kiểu chồng diêm, mái lợp ngói mũi lót liệt. Bờ nóc và bờ dải của ngôi nhà được đắp bằng gạch và vôi vữa, chính giữa trang trí đôi rồng chầu mặt nhật. Tám góc mái được đắp theo kiểu mái cong, phần cong của các góc mái được đắp bằng vôi vữa, phía trên gắn ngói máy dạng ống. Bốn góc của mái trên được trang trí bốn con rồng cách điệu được đắp bằng xi măng cốt thép.

Kết cấu kiến trúc bên trong: Vì kèo của ngôi nhà được kết cấu theo kiểu biến thể vì kèo truyền thống, kèo suốt gác trếnh, gồm các cặp vì đối xứng với nhau. Tất cả các bộ vì kèo khung gỗ của ngôi nhà được tạo bởi một bố cục liên kết chặt chẽ, chắc chắn và có tính chất đăng đối giữa các bộ vì kèo với nhau. Hệ thống đòn tay, rui, mè đều được làm bằng luồng.

Bài trí đồ thờ

Bài trí thờ Thượng điện: Ban thờ chính giữa gồm 2 cấp, cấp trên cùng có kích thước chiều rộng là 0,52m, cao 0,40m, dài 1,28m. Đây là nơi đặt tượng phật A Di Đà được sơn thếp màu vàng ngồi trên bệ, hai bên có hai chân nến điện và hai cây hoa điện; Lớp thứ hai có kích thước chiều rộng là 0,44m, cao 0,80m, dài 1,28m, hai bên đặt hai lọ hoa bằng sứ. Bên tả của gian chính giữa còn có độc bình gỗ.

Ban thờ hai gian tả và hữu của Thượng điện là nơi đặt tượng Quan Âm Bồ Tát cũng được sơn thếp màu vàng. Mỗi bên đặt một đài nước và một chén sứ. Tất cả các tượng này đều được đắp bằng gạch và vôi vữa. Ngoài ra, phía trước Thượng điện (gần Tiền đường) hai bên còn có hai bát hướng sứ, đây là hai bát hương thờ thần Hộ pháp.

Đặc biệt, ở phía trước ban thờ giữa của Thượng điện còn có một bệ sen bằng đá có kích thước chiều cao là 0,51m, đường kính là 1,24m.

Bài trí thờ Tiền đường:

Gian giữa là nơi đặt ban thờ Hội đồng Tam bảo Phật và Tam bảo Thánh gồm có một bát hương sứ, hai lọ hao sứ, hai lục bình gỗ nhỏ, hai hạc gỗ và hai bên ban thờ còn có hai lọng màu vàng.

Gian thờ bên tả là nơi thờ Đức Ông, có kích thước chiều rộng là 0,93m, cao 0,53m và dài 1,8m. Ban thờ này gồm có hai cấp, cấp trên cùng là nơi đặt tượng Đức Ông ngồi trên bệ gỗ. Hai bên có hai đài nước gỗ, một lọ hoa và một bát gốm. Lớp dưới là nơi đặt bát hương gồm một bát hương sứ, một mâm bồng, một lọ hoa và một ống hương gỗ.

Ngoài ra, bên trong gian thờ này còn có ban thờ những người có công trong việc vận động, công đức tiền của để xây chùa. Ban thờ này gồm có ba cấp, cấp trên cùng và cấp thứ hai là nơi đặt bát hương thờ và một số chén sứ.

Gian thờ bên hữu là nơi thờ Đức Thánh Hiền.

Ở hai phía cuối của hiên trước, hai bên Tả, Hữu mỗi bên còn đặt một bát hương, đây là nơi thờ thần hộ pháp.

Gian Chái của gian bên tả còn có ban thờ Mẫu gồm ba cấp, cấp trên cùng là nơi đặt ba pho tượng Tam tòa thánh Mẫu bằng gỗ ngồi trên bệ. Trong đó, ngồi chính giữa là Mẫu Thượng Thiên (còn gọi là Mẫu Đệ Nhất tức Mẫu Liễu Hạnh) cai quản miền trời. Bên hữu là Mẫu Thượng Ngàn (còn gọi là Mẫu đệ nhị) cai quản miền rừng núi. Mẫu Thượng Ngàn gắn bó với con người cùng cỏ, cây, chim, thú; Bên tả là Mẫu Thủy (gọi chệch là Mẫu Thoải – còn gọi là Mẫu đệ tam) cai quản miền sông nước. Mẫu Thoải gắn với đời sống thủy sinh của người Việt.

Lớp thứ hai là nơi đặt bát hương và lọ hoa; lớp thứ ba là nơi đặt lễ; Phía dưới ban thờ này còn có một bát hương thờ Bạch xà và Ngũ hổ.

Ngoài ra, ngay cạnh bên hữu phía trước chùa chính còn có hai ngôi nhà được xây gần nhau là nhà sắp lễ (hay cũng gọi là nhà khách) và nhà bếp. Trong đó, nhà sắp lễ gồm 3 gian được kết cấu theo kiểu vì kèo suốt, rui, mè, đòn tay được làm bằng luồng, mái lợp ngói máy, có kích thước chiều dài là 7,6m, rộng 5,66m; Nhà bếp gồm 1 gian cũng kết cấu theo kiểu vì kèo suốt có kích thước chiều dài là 3,4m, rộng 4m. Hệ thống rui, mè, đòn tay của hai ngôi nhà này đều được làm bằng luồng, mái lợp bờ lô xi măng.

Ngoài ra, phía trước chùa và bên tả sân chùa còn có một ban thờ lộ thiên. Đây là nơi thờ mẫu Cửu Trùng Thiên.

Tóm lại, chùa Là mặc dù đã bị hủy hoại nhiều bởi những biến cố thăng trầm của lịch sử, cùng với sự biến đổi của thời gian nhưng với những hiện vật còn lưu giữ được cho đến ngày nay như: đế bia, đá lan giai, chân tảng, chân lọng đá…, đặc biệt là bệ sen đá là minh chứng quan trọng về sự tồn tại của ngôi chùa xa xưa. Qua đó, đã cho chúng ta biết về sự tồn tại và phát triển của Phật giáo trên mảnh đất này.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), Lê Văn Viện
Chấm điểm
Chia sẻ
eaf8a521bd23787d2132

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Hình ảnh
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926