Chùa Long Cảm (Hà Trung, Thanh Hoá)

Chùa Long Cảm (Hà Trung, Thanh Hoá)

Chùa Long Cảm nằm ở sườn núi Ốc (Ốc Sơn) thuộc thôn Trang Các, xã Hà Phong, huyện Hà Trung. Ngôi chùa vốn được xây dựng từ thời Lý, nhưng trải qua bao biến cố lịch sử, cùng với sự hủy hoại của mưa nắng, mối mọt, chùa đã bị hư hại nặng nề. Những lần tu sửa và cải tạo trước đây đã làm biến dạng hình dạng kiến trúc ban đầu. Ngày nay, trên toàn bộ hệ thống kiến trúc của chùa, chúng ta chỉ còn tìm thấy dấu vết vật chất của thời Lý ở một số hiện tượng. Trong đó, có 4 cột đá ở hiên chùa chính. Còn lại từ kiến trúc tới tượng pháp đều mang phong cách thời Nguyễn (thế kỷ XIX). Tuy không được nói đến nhiều trong sử sách, nhưng sự tồn tại của nó cho đến hôm nay cùng với cảnh quan của sông núi, ruộng đồng, làng mạc sầm uất nơi đây, chùa Long Cảm vẫn được xem là một ngôi chùa đẹp ở phía bắc tỉnh Thanh.

Một vài sử liệu

Đến chùa Long Cảm hôm nay, thật không ai nghĩ rằng, trước kia đây chính là một nơi tu hành của các nữ tu sĩ qua nhiều thế kỷ, một khu vực hoạt động Phật giáo thời Lý với một hệ thống chùa quy mô. Đương nhiên, thời Lý cũng như thời Trần, tại Thăng Long cũng như các địa phương khác, trong đó có Châu Ái đều có nhiều chùa nổi tiếng. Nhưng qua thời gian, một số ngôi chùa đã bị phá hủy một cách nghiêm trọng, thậm chí chúng chỉ còn tồn tại ở một vài tư liệu, để chúng ta ngày nay vừa kinh ngạc chiêm ngưỡng những vết tích sống của chúng, vừa băn khoăn đặt câu hỏi là vết tích sống của chúng còn lại ở đâu. Có một sự thật, nếu giờ đây chúng ta chỉ ngồi đọc lại từng trang sách cũ, thì sẽ không khỏi phân vân, nghi ngờ về sự tồn tại của ngôi chùa Long Cảm đầu thời Lý. Trong các bộ chính sử dưới thời phong kiến như Đại Việt ský toàn t(thế kỷ XVIII), Lịch triều hiến chương loại c của Phan Huy Chú (thế kỷ XIX) và một số bộ sử khác đều không thấy ghi chép một dòng nào về ngôi chùa nổi tiếng này. Thế nhưng, vào những năm đầu thế kỷ XX, chùa Long Cảm lại được một học giả người Pháp là H. Le Breton ghi chép khá kỹ về lịch sử. Vương Duy Trinh một vị quan tổng đốc Thanh Hóa trong tác phẩm Thanh Hoa kthắng (đầu thế kỷ XX) cũng ghi chép về ngôi chùa Long Cảm với vị trí là một thắng tích. Dù sao thì những nguồn tư liệu này cũng giúp chúng ta nhận thức được hình ảnh và bóng dáng trong quá khứ của một ngôi chùa thời Lý gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử của đất nước.

H. Le Breton cho biết: Vào năm Thuận Thiên thứ 11 (1020) vua Lý Thái Tổ đi đánh Chiêm Thành ở vùng đất Quảng Bình đã đóng quân trên núi Ốc Sơn. Đêm đến nhà vua nằm mộng thấy vị thần linh ở núi hiện đến và hứa sẽ trợ lực cho nhà vua trong cuộc tiến quân này. Công cuộc chinh phục phương Nam thắng lợi, về tới kinh đô, truy nhớ lại sự tích ở núi Ốc, để trả ơn vị thần linh giúp sức, nhà vua đã cho dựng trên núi Ốc Sơn một ngôi chùa lấy tên là Long Cảm (Long: rồng, cảm: tạ ơn, trả ơn). Đến thời Trần, Trần Thái tôn (1226-1258), vị vua đầu của nhà Trần, đi đánh Chiêm Thành, khi nghỉ lại ở chùa Long Cảm trên núi Ốc Sơn cũng mộng thấy những điều mà hơn hai thế kỷ trước vua Lý Thái Tổ đã từng mộng thấy. Và thế là cuộc chinh phục phương Nam cũng giành được thắng lợi. Vua Trần đã thắng được quân Chiêm, bắt được Hoàng hậu Bô – Đa La đưa về kinh đô. Đến thời Nguyễn, trong một dịp đi kinh lý ra xứ Bắc, vua Thiệu Trị đã dừng chân ở chùa Long Cảm, thấy phong cảnh đẹp, chùa đổ nát, nhà vua đã cho trùng tu lại chùa, ban tặng một quả chuông đồng và khắc một tấm bia công đức. H. Le Breton ngoài dẫn những truyền thuyết trên, còn cho biết một vài chi tiết cụ thể hơn: Tương truyền Triệu Đà (208-137 TCN) khi vào Cửu Chân đuổi theo An Dương Vương đã cho đắp thành quách ở núi Ốc Sơn. Dưới triều vua Tự Đức – năm Mậu Dần (1878), Ni sư Minh Nguyệt cùng dân trong huyện Tống Sơn đã xây dựng thêm điện Long Chương trên núi Ốc Sơn. Tương truyền đây là nơi Công chúa Thủy Tinh thường xuống hạ giới.

Chỉ chừng ấy sử liệu đã nêu, chúng ta cũng đủ biết đầu thời Lý cho đến thời Nguyễn, quanh núi Ốc Sơn bao gồm các xã Hà Ngọc, Hà Phong, Hà Đông ngày nay đã là một khu vực hoạt động tôn giáo khá nhộn nhịp. Điều đáng nói, 30 năm sau sự kiện vua Lý Thái Tổ cho dựng chùa Long Cảm, vào thời vua Lý Thánh Tông, Lý Thường Kiệt đã cho xây dựng ngôi chùa Linh Xứng nổi tiếng cùng với bài văn bia do Pháp Bảo soạn.

Ở trên đất Hà Ngọc ngày nay, cách núi Ốc Sơn không đầy 100m đường chim bay, vùng đất này (thời Lý gọi là ấp Đại Lý, thời Trần là hương Đại Lại) vinh dự trở thành một khu vực tôn giáo với những hoạt động sôi nổi của con người được sử sách chép lại. Và một câu hỏi đặt ra, tại sao một ngôi chùa gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử như vậy (chùa Long Cảm – TG) sử sách lại ghi chép một cách mờ nhạt? một mặt khác, những dòng ghi chép của H. Le Breton cũng không có một dòng nào nói về quy mô cũng như không gian kiến trúc của chùa. Đây cũng là điều thất thiệt để ngày nay chúng ta hiểu ngôi chùa thời Lý có tuổi 1000 năm một cách mơ hồ. Nhưng, nếu chúng ta leo lên đỉnh núi Ốc, tìm hiểu kỹ càng dấu vết bàn tay con người ở đây, thả cho trí tưởng tượng vượt lên sức chứa của tài liệu, ta mới gạt bỏ được hoài nghi và kết luận: truyền thuyết có cái lõi sự thật lịch sử. Và như vậy, những ghi chép của H. Le Breton về sự ra đời và tồn tại của ngôi chùa Long Cảm thời Lý, ít nhiều cho biết vùng đất quanh núi Ốc từ thời Lý về trước không phải hoang vắng như ta tưởng. Sự du nhập mạnh mẽ của Phật giáo gắn liền với sự ra đời của các ngôi chùa (chùa Long Cảm, chùa Linh Xứng thời Lý) ở vùng đất địa đầu Châu Ái, cho thấy các vua nhà Lý đã tự xây dựng những khu vực tôn giáo riêng biệt đối với các vùng để làm nòng cốt. Đó cũng là điều bổ ích để hiểu chùa Long Cảm ngày nay.

Chùa Long Cảm ngày nay

Ngay nay, trên toàn bộ hệ thống kiến trúc, cũng như tượng pháp, chúng ta chỉ còn tìm thấy dấu vết vật chất đầu thời Nguyễn. Có lẽ đó là dấu tích trùng tu dưới triều vua Thiệu Trị mà H. Le Breton đã ghi chép trong Revue in dochinoise (Số 3-4 tháng 3/1922).

Về không gian kiến trúc: Đứng từ xa nhìn lại, giữa một lòng chảo có núi viền quanh là một ngọn đồi xinh xinh nổi lên giữa cánh đồng ngập nước. Vào khoảng tháng 6, hoa sen, hoa súng trắng hồng nở tưng bừng khắp đồng. Ngọn đồi ấy, theo trí tưởng tượng của người xưa mà đặt tên gọi là núi Ốc Sơn (núi giống như hình con ốc đang nằm). Trên đỉnh núi là ngôi chùa Long Cảm. Chùa được dựng quay mặt về hướng nam trong một cấu trúc liên hoàn gồm cổng Tam quan – sân chùa – chùa chính – nhà thờ Mẫu – nhà thờ Tổ. Tiếp đến là nhà khách và nơi ở của sư trụ trì. Về phía Đông, dưới nền đất thấp là khu xá lỵ, cách khuôn viên chùa chính chừng 15m. Toàn bộ khuôn viên chùa trở thành một vọng đài nhô lên nền trời và nhìn ra bốn phía là các vùng đất của Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Vĩnh Lộc, Nga Sơn với những ruộng đồng, làng mạc, nhà ngói mái đỏ tươi và gió lộng ào ào.

Chùa Long Cảm ngày nay chỉ còn lại một số công trình chính. Riêng cổng Tam quan được xây dựng bề thế để treo chuông nay đã bị phá hủy chỉ còn lại nền móng vẫn còn nhìn thấy được. Sân chùa được bài trí một bộ bàn ghế bằng đá xẻ loại mới để khách hành hương nghỉ chân trước khi vào lễ Phật. Ở bên trái sân là một khánh đá lớn. Bên cạnh khánh đá là một tấm bia công đức đã mờ hết chữ.

Kiến trúc của chùa chính gồm 3 gian có diện tích 123,90 m2. Vì kèo được kết cấu theo kiểu “chồng rường, giá chiêng” với 4 hàng chân cột, hai cột lớn và hai cột quân. Liên kết hai cột lớn là một câu đầu. Trên câu đầu là hai cột trốn được ăn mộng vào câu đầu đứng trên một đấu vuông. Ở phía trên cột trốn này là một con rường dài nằm ăn mộng trên hai đầu cột trốn. Tiếp về phía trên nữa là một con rường nằm trên hai đấu bát. Trên cùng là một đấu vuông đỡ thượng lương. Ở hàng cột quân phía sau là hệ thống các kẻ bẩy ăn mộng vào đầu cột quân và gác đuôi trên tường đốc. Ở phía trước, có thêm một kiến trúc phụ được tạo ra bằng một xà ngang chạy từ hàng chân cột thứ 4 (từ trong ra phía trước ăn mộng vào cột thứ 5). Trên xà ngang này là một vì kèo nhỏ tạo thành góc mái. Kiến trúc ở chùa Long Cảm có hai vì kèo nằm trên một tuyến ngang (hai lớp vì kèo). Lớp vì kèo phía ngoài được làm dưới triều vua Bảo Đại. Đây là dụng ý mở rộng thêm công trình của người đời sau. Ngoài cùng là hiên chùa được ngăn cách bởi lớp cửa bức bàn.

Trang trí trên các vì kèo là các mảng chạm khắc hình rồng, ngựa, hươu tạo tác từ bên ngoài được gắn vào những bức cốn mê.

Liền kề với chùa chính, có một cửa hậu đi ở gian nách (bên phải) là nhà thờ Mẫu (3 gian). Vì kèo của nhà thờ Mẫu được kiến trúc bằng loại đá xanh, xoi cạnh trên tất cả các chi tiết của kết cấu.

Liền tiếp với nhà thờ Mẫu là nhà Tổ (4 gian) được kiến trúc theo kiểu “chồng rường kẻ bẩy”. Trang trí kiến trúc của nhà Tổ là hình lá cúc cách điệu được chạm khắc dày đặc trên tất cả các con rường và kẻ bẩy của nội thất tòa nhà.

Vì là nơi tu hành của các ni cô, chắc chắn chùa Long Cảm ngoài những kiến trúc nêu trên còn có những kiến trúc khác như nhà nghỉ của Ni cô, nhà đường tăng, nhà nghỉ khách mà dấu vết là nền nhà ở bên phải chùa bằng đá hộc.

Về tượng pháp: Ở chùa chính được bài trí 31 pho tượng cổ. Hai pho tượng Hộ pháp được đặt ở hai gian bên. Dáng tượng được tạo tác hình người võ sĩ mặc áo giáp, tay cầm khí giới, đầu đội mũ trụ, ngồi trên lưng sấu. Kích thước tượng lớn: cao 1,35m, đường kính 0,52m. Ở gian giữa trung tâm Phật điện có 29 pho tượng Phật được bài trí trên 5 lớp bàn thờ. Từ trên xuống, lớp bàn thờ trên cùng giáp vách Thượng điện đặt 3 pho tượng Tam Thế ngồi trên tòa sen. Lớp bàn thờ thứ ba gồm 3 tượng cùng dãy, ở giữa là Phật Thích Ca sơ sinh đứng trong tòa Cửu Long như đang thuyết pháp. Bên trái là tượng Văn Thù Bồ Tát ngồi trên lưng sư tử xanh, bên phải là tượng Phổ Hiền Bồ Tát ngồi bên bạch tượng (voi trắng). Ở lớp bàn thờ thứ gồm 3 pho tượng: Thánh Tăng, Thổ Địa, Đức Ông. Lớp bàn thờ thứ năm là một hương án được đặt bát hương lớn ở giữa bệ thờ. Trên hương án còn có một số đồ thờ phục vụ cho việc lễ Phật.

Điều đáng nói là các pho tượng Phật ở đây tạc theo truyền thống Trung Quốc: thân tượng hình ống, mặc áo cà sa kín cả hai vai và hai ống tay thụng. Còn đặc điểm áo khoác qua vai để hở vai trái, thân thắt lại ngang hông, áo như một tấm vải choàng, dáng dấp chiếc sa li quen thuộc của người Ấn Độ, loại tượng này thường thấy trong các ngôi chùa của người Khơ me. Đặc điểm tạc tượng truyền thống Trung Quốc đậm nét trên các pho tượng Phật ở chùa Long Cảm, mặc dù các pho tượng này đều được tạc dưới thời Nguyễn.

Nhà thờ Mẫu: Có ba pho Tam tòa Thánh Mẫu (ở cung Đệ nhất), Mai Hoa và Nguyệt Hoa Công chúa là các pho tượng chầu (ở cung Đệ nhị), Ngũ vị Tôn ông (5 vị quan lớn dưới quyền Mẫu phụ trách năm phương).

Nhà Tổ: Có 8 pho tổ sư cổ và 2 pho mới được bài trí từ trên cao xuống thấp, từ sớm đến muộn. Đây là những vị tổ sư đã từng tu hành tại chùa. Ngoài ra, còn có một pho tượng Đức Tổ Tây có dung mạo giống người Tây Phương (Ấn Độ) mũi cao, tóc quăn, râu quai nón.

Ngoài các pho tượng kể trên, ở chùa chính, nhà Mẫu, nhà Tổ cũng là nơi hội tụ những tác phẩm điêu khắc mang ý nghĩa trang trí, làm tăng thêm sự trang nghiêm và lộng lẫy ở điện thờ, đó là các bức cửa võng, đại tự, câu đối... được chạm khắc tinh xảotiêu biểu cho nghệ thuật chạm khắc đầu thời Nguyễn ở Thanh Hóa.

Như vậy, qua bao đổi thay của lịch sử, ngôi chùa Long Cảm vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Nó đã để lại ảnh hưởng Phật giáo sâu đậm trong lòng dân. Dưới thời Lê, chùa Long Cảm không được nhắc đến trong các nguồn sử liệu, phải chăng ở thời kỳ này ý thức hệ Nho giáo trở thành địa vị thống trị, Phật giáo đã suy vi. Đến cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, khi Nho giáo trở thành bế tắc, Phật giáo lại có chiều hướng phục hưng, chùa Long Cảm lại được vua Thiệu Trị cho trùng tu và trở lại nhộn nhịp sau 400 năm im ắng. Im ắng nhưng không tuyệt diệt. Chùa Long Cảm cùng với sự tồn tại của nó đến hôm nay là điểm đến của du khách vàsự hấp dẫn của các nhà nghiên cứu.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập I), TS. Phạm Văn Tuấn
Chấm điểm
Chia sẻ
Chua-Long-Cam-Ha-Trung-Thanh-Hoa (2)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926