Chùa Long Hồ (Thọ Xuân, Thanh Hoá)

Chùa Long Hồ (Thọ Xuân, Thanh Hoá)

Chùa Long Hồ xưa thuộc giáp Yên (sau này gọi là làng Yên), xã Bàn Thạch nay là thôn 5, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Theo Văn bia trùng tu chùa Long Hồ cho biết, vì đây là nơi có vũng nước sâu như hồ và có doi đất uốn như hình rồng nên gọi là chùa Long Hồ.

Bàn Thạch – Xuân Quang xưa là vùng đất cổ bán sơn địa xen đầm lầy thoải dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam với bề dày truyền thống lịch sử và văn hóa. Các làng xưa và nay của xã Xuân Quang nằm trên doi đất hình con dơi khổng lồ đang vỗ cánh bay về hướng Nam. Qua hàng nghìn năm dân cư sinh sống cải tạo đến nay đã trở thành đồng bằng, nhưng tính chất bán sơn địa xen đầm lầy nơi đây vẫn còn khá đậm nét.

Vùng đất lịch sử

Ngược dòng lịch sử, địa danh hành chính của vùng đất này đã trải qua không ít biến động. Thời các vua Hùng, Giáp Yên thuộc trang La Đá của bộ Cửu Chân. Thời thuộc Hán (111T.CN – 210) thuộc Tư Phố, quận Cửu Chân. Năm 502, quận Cửu Chân đổi thành Ái Châu (Nhà Lương). Thời Tuỳ – Đường, trang La Đá thuộc Di Phong, Trường Lâm, Ái châu. Thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Giáp Yên thuộc trang La Đá, huyện Cổ Lôi, Phủ Thiệu Thiên. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428), Lê Thái Tổ chia cả nước thành 5 đạo, bãi bỏ các đơn vị hành chính thuộc Minh, giáp Yên thuộc xã Bàn Thạch, huyện Lôi Dương, đạo Hải Tây.

Năm Quang Thuận thứ 7 (1466), Giáp Yên thuộc xã Bàn Thạch, huyện Lôi Dương, phủ Thiệu Thiên (Sau đổi là phủ Thiệu Hóa vào năm Gia Long thứ 13-1815). Năm 1826, hai huyện Lôi Dương và Thụy Nguyên tách khỏi phủ Thiệu Hóa nhập vào phủ Thọ Xuân. Thời Pháp thuộc giáp Yên thuộc xã Bàn Thạch, tổng Kim Thạch (sau đổi là Kiên Thạch), phủ Thọ Xuân.

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, xã Bàn Thạch được đổi thành xã Cộng Lực, thuộc tổng Kiên Thạch, phủ Thọ Xuân (Thọ Xuân có 10 tổng), lúc này làng Yên thuộc xã Cộng Lực. Năm 1946, xã Cộng Lực thuộc huyện Thọ Xuân được chia làm 4 khu A, B, C, D:

– Khu A (thôn A) gồm Giáp Đông và họ Ca Công (Làng Đông).

– Khu B (thôn B) gồm Giáp Đăng (Làng Đăng).

– Khu C (thôn C) Giáp Trung và giáp Yên (Làng Giữa, làng Yên).

– Khu D (thôn D) gồm có 3 giáp là Giáp Thượng, Giáp Kênh và Giáp Yên Hòa.

Giữa năm 1946, xã Cộng Lực đổi thành xã Xuân Sinh (có thêm các làng Hoàng Kim, Yên Cư, Đồng Đình). Năm 1948, xã Xuân Sinh nhập với xã Xuân Đài thành xã Xuân Quang có 15 làng gồm: 1. Bàn Thạch; 2. Bái Trạch; 3. Lệ Trạch; 4. Yên Kênh; 5. Quần Kênh; 6. Đại Đồng; 7. Lục Nộn; 8. Hải Mao; 9. Bột Thượng; 10. Đồng Đình; 11. Vũng Voi; 12. Bích Phương 13. Ngọc Lạp; 14. Yên Cư; 15. Hoàng Kim. Trong đó, làng Yên là một làng nhỏ của làng Bàn Thạch.

Tháng 6 năm 1954, xã Xuân Quang được chia tách thành 3 xã, trong 15 làng thì 14 làng chia tách thành 2 xã là: Xuân Giang và Xuân Sơn. Làng Bàn Thạch và làng Yên thuộc xã Xuân Quang. Năm 1977, hai xã Xuân Quang và Xuân Sơn sáp nhập thành xã Thọ Quang, năm 1978 lại tách ra như cũ.

Đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, xã Xuân Quang được chia thành 10 thôn (từ thôn 1 đến thôn 10) thì làng Yên xưa – nơi có chùa Long Hồ thuộc thôn 5 như ngày nay.

Thời gian dựng chùa

Đến nay vẫn chưa tìm thấy nguồn tài liệu nào ghi chép chính xác thời gian xây dựng chùa. Tuy nhiên, theo các bậc cao niên trong làng cho biết, chùa Long Hồ được xây dựng từ thời Lý, đến năm 1631, chùa bị xuống cấp nghiêm trọng nên phải trùng tu lại. Khi người Pháp đào sông nông giang, khoảng năm 1920 chùa bị hạ giải, dịch chuyển tiến về phía Long Hồ. Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chùa trở nên hoang phế và bị hư hại hoàn toàn vào cuối những năm 50 của thế kỷ XX.

Chùa xưa được xây dựng trên một cồn đất bên ngoài ông Cổng (trước đây gọi là Cồn Chùa) và là một trong những nơi sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng của nhân dân. Bên cạnh chùa còn có chợ Chùa. Sau khi thực dân Pháp cho đào sông nông giang, chợ Chùa được chuyển lên làng Quần Kênh. Chợ họp lúc rạng sáng nên còn được gọi là chợ Rạng. Chuông chùa Long Hồ mỗi khi gióng lên, không gian của cả một vùng rộng lớn trở nên linh thiêng trầm mặc. Phía Tây vọng đến Bích Phương, Ngọc Lạp, Quần Đội, Tuy Lai; phía đông ngân dài tận Quả Thịnh, Quả Hạ, Bất Căng, Phong Lạc; phía bắc vang xa tới làng Hương, làng Hón, Thượng Vôi, Xuân Phả; Phía nam dội vào Mãi Hạt, Hoàng Kim, Yên Cư, Đồng Đình.

Đến nay, mặc dù chùa Long Hồ đã bị phá hủy hoàn toàn nhưng với những hiện vật còn lại đến ngày nay như: chân tảng, đá lan giai…, đặc biệt là thác bản văn bia ghi lại việc trùng tu lại chùa vào thời Lê Trung Hưng là minh chứng xác thực về việc ngôi chùa đã hiện diện nơi đây từ rất xa xưa.

Sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam chép về văn bia Long Hồ tự bi như sau: Bia chùa Long Hồ, xã Bàn Thạch, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Lê Hữu Độ, hiệu Nhã Lượng, tri huyện Đông Sơn soạn. Tạo năm Đức Long 3 (1634) nhà Lê. Bia hai mặt, khổ đều 68 x 125cm. Chạm mặt trời, rồng, phượng, cánh sen, hai rồng chầu bông hoa. Nét khắc hoa văn và chữ còn rõ đẹp. Toàn văn chữ Hán gồm 50 dòng, khoảng 1.500 chữ.

Chùa Long Hồ xã Bàn Thạch, huyện Lôi Dương vì có vũng nước sâu như hồ và có doi đất uốn như hình rồng nên gọi là Long Hồ. Đây là nơi có địa thế tốt và cảnh đẹp. Vì lâu ngày, chùa bị đồi phế, phải nhờ các quan viên trong xã là những người có phương sách và lực lượng lớn mới sửa lại được. Nay các vị đã đứng ra quyên góp và sửa chữa cho to lớn, tráng lệ hơn. Có nhiều người xa gần đóng góp. Đây là một việc làm tốt đẹp và để phúc lộc vô cùng cho con cháu. Vậy ghi tên mọi người vào bia để kỷ niệm. Hội chủ là các vị Tả hiệu điểm Cẩm Xuyên hầu Lê Quang Bật, Hoa Sơn hầu Lê Bá Lai, Phúc Dũng hầu Lê Sỹ Khỏe đều là các võ tướng. Bia cũng ghi rõ vị trí, diện tích các thửa ruộng của chùa. Có một bài minh 24 câu”.

Theo chú thích thì văn bia trước đây đặt ở hành lang bên trái chùa Long Hồ, xã Bàn Thạch, tổng Kiên Thạch, phủ Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa (nay là Bàn Thạch, xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Ngày nay, bia đã bị mất, chỉ còn lại thác bản được in trong cuốn sách “Corpusdes inscriptions – Corpus op ancient Viet Namese in scruptions – Tổng tập văn bản khắc Hán Nômdo Viện Cao học thực hành – Viện Viễn Đông bác cổ Pháp – Viện nghiên cứu Hán Nôm ấn hành. Thác bản văn bia mang ký hiệu 01904 – 01905, bia hai mặt, cao 128 cm x 68cm, trán bia mặt trước trang trí đôi rồng chầu mặt trời, diềm chạy hoa văn dây leo, chân chạm bệ cánh sen. Mặt sau trang trí đôi phượng chầu mặt nguyệt, diềm chạy hoa văn dây leo, chân chạm ba con kỳ lân vườn nhau.

Toàn văn nội dung văn bia gồm bài ký kèm bài minh về việc trùng tu Chùa Long Hồ như sau:

Phía Tây Bắc xã Bàn Thạch, huyện Lôi Dương (Nay là xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân) có chùa Long Hồ, phía trước chùa có vụng nước sâu như một hồ nước lượn cuốn như rồng, nhân đó mới đặt tên là Long Hồ vậy. Mặt chùa ngoảnh hướng Nam, vị trí thế mạch cao ráo. Hướng Đông Bắc phía sau có nhiều khoảnh ruộng tốt bốn mùa trồng cắm; Hướng Tây Nam phía trước là chợ Triền một khu quanh năm kẻ bán người mua; thật là danh lam từ xưa là chốn này vậy. Dấu tích từ lâu đã rõ, nắng mưa trải thấm dần dần, thật trông thấy không ai là không xúc cảm trước cảnh tiêu điều của cảnh chùa đổ nát. Lẽ đời bĩ rồi lại thái, suy rồi lại thịnh, ấy là điều dĩ nhiên.

Những bậc cự phách có thế lực, cùng các quan viên, hương lão, lớn bé trong xã nhân nền móng cũ mới dốc lòng không ngại, muốn vun trồng quả phúc cho mai sau, cho nên gom thu tiền của mà dựng lại chùa, khiến cho người đời nghe tiếng mà trong lòng hứng khởi, trông thấy theo nhau bắt chước. Người lớn thì đem cúng rường cột, bé thì cúng xà rui, gỗ lạt chi dùng đầy đủ. Xem thầy chọn ngày tốt, kén giờ lành, tập trung tu sửa, chẳng mấy mà nếp chùa xưa được dựng lại: kê gách rường rồng, trên lớp ngói lân, lồng lộng chùa mới hiện ra. Lại còn trồng ba khóm cây đại, tháng ngày chăm bẳm để cho bóng râm mát tỏa, cành lá lượn xòe. Xen trồng thêm mấy giò hoa, để cho ánh hồng tỏa ngát, vàng lục đua hương. Tuy trúc biếc Chân như, hoa vàng Bát nhã cũng chẳng hơn được cõi Kim tiên (cõi Phật) này!

Tết đến, gặp buổi sáng trong, tụng kinh Di Đà, một lòng hướng về cõi Tây: đốt hương nguyện cầu chúc thọ Thánh nhân, chẳng những buồng sen nở núi Đông mà ngắm nhìn Tây phương linh ứng. Miếu vũ nguy nga, càng thêm rạng rỡ, vậy những tụng ca.

Trước chùa có hồ, tương truyền có bậc danh thần triều trước, muốn trồng quả phúc cho con cháu mai sau, đào hồ rồi hậu cho chùa. Xem xét khuôn viên chùa, đầu đuôi đều gần lối. Bên trên ấp dân nhân hậu muôn nhà đông đúc, thọ mãi trường tồn. Đáy hồ nước lặng trong xanh, nuôi cá hóa rồng. Người tắm lội, kẻ má đào trang điểm, cao búi tóc mây; khách buông câu, lưới thả dăng chài, rượu cá thơm ngon say chuốc. Huống chi người già tóc bạc, trẻ trái đào quần tụ nơi đây. Ngựa xe qua lại, kiệu gấm lọng ra vào trong xóm. Thật là từ khi khai đất mở làng tới giờ đó là của đời này dân này, tác dụng trong ngàn vạn năm thực sự to lớn vô cùng. Xong, mới đến xin ta bài văn để chép lại chuyện. Ta vốn nghiệp Nho gia, há sao có thể hờ hửng với đạo của người quân tử, chẳng dám lấy điều thô thiển chối từ, liền soạn bài văn, khắc vào đá để lưu truyền mãi mãi.     

Minh rằng:

Ấp huyện Lôi Dương                Xã tên Bàn Thạch

   Chùa gọi Long Hồ                   Danh lam thắng tích

Lâu năm nên hỏng                   Cũ mới đổi thay

Công việc sửa xây                   Đợi người thí chủ

Quan viên trong xã                  Vốn dòng tuấn kiệt

   Công lớn đương triều               Dốc lòng làm thiện

   Bỏ công sửa chữa                    Mời thợ trùng tu

   Rạng rỡ cơ đồ                         Quy mô hơn trước

Chùa trên non biếc                  Dưới nước trong hồ

   Vững trải Tây kinh                   Hưng thịnh vận nước

Nay công này đức                    Đáng được chép ghi

    Khắc thẳng vào bia                  Lưu truyền mãi mãi

– Hội chủ là Lê Quang Bật, chức: Dương vũ Uy dũng Tán trị Công thần, Điện tiền Đô hiệu Điểm ty, Tả hiệu điểm, tước Cẩm Xuyên hầu.

– Hưng công là Lê Bái Sai, chức: Dương vũ Uy dũng Tán trị Công thần, Đặc tiến làm Phụ quốc Thượng tướng quân. Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ, Điện tiền Đô hiệu Điểm ty, Tả hiệu Điểm tước Hoa Sơn hầu.

Hội chủ là Lê Sỹ Khuể, chức: Dương vũ Uy dũng Tán trị Công thần, Cẩm y vệ Đô chỉ huy sứ ty, Đô chỉ huy sứ, tước Phú Dũng hầu.

Ngày lành tháng 11 niên hiệu Đức Long năm thứ 3 (1631) triều Lê.

Người soạn là Lê Hữu Độ hiệu Nhã Lượng, chức Cẩn sự lang bậc dưới Tri huyện huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên”.

Như vậy, qua văn bia và bài minh về việc trùng tu lại chùa Long Hồ cho chúng ta nhận định, chùa phải được xây dựng từ trước năm 1631 rất lâu nên đến thời điểm đó mới bị xuống cấp nghiêm trọng và phải trùng tu lại. Khuôn viên nơi chùa tọa lạc xưa là một nơi có cảnh quan, địa thế đẹp được ví như một danh lam thắng tích.

Ngày nay, mặc dù chùa đã bị phá hủy hoàn toàn nhưng với nhu cầu tôn giáo tín ngưỡng của nhân dân thôn 5 nói riêng và nhân dân xã Xuân Quang nói chung, chính quyền địa phương đã có kế hoạch đền bù giải phóng mặt bằng và lập quy hoạch phục vụ việc tôn tạo lại ngôi chùa trên cơ sở những hiện vật còn lại đến ngày nay, đặc biệt là bài văn bia về việc trùng tu lại ngôi chùa đã được chính quyền địa phương sưu tầm về là cơ sở khoa học quan trọng trong dự án phục dựng lại ngôi chùa sau này.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), Lê Văn Viện
Chấm điểm
Chia sẻ
chua-chon-thieng-thanh-hoa

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Hình ảnh
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *