Chùa Long Quang (Long Quang Cổ Tự – Bình Thủy, Cần Thơ)

Chùa Long Quang (Long Quang Cổ Tự – Bình Thủy, Cần Thơ)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý 

Chùa Long Quang (tên chính thức là Long Quang Cổ Tự (隆光古寺) là một ngôi cổ tự bên bờ sông Bình Thủy, tọa lạc tại số 155/6, khu vực Bình Chánh, phường Long Hoà, quận Bình Thuỷ, thành phố Cần Thơ. Cách trung tâm thành phố Cần Thơ khoảng 5km, di chuyển theo đường Nguyễn Văn Linh/QL91B. 

Năm 1992 ban trị sự Giáo hội Phật giáo tỉnh Cần Thơ bổ nhiệm Thượng tọa Thích Bình Tâm làm trụ trì của chùa cho đến hiện tại. Ban đầu chùa theo phái Thiền Tông Lâm Tế Trung Hoa nhưng hiện nay nhà chùa đã gia nhập Giáo hội Phật giáo Việt Nam và chuyển thành hệ phái Bắc Tông. Trong 2 thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Chùa Long Quang còn là cơ sở nuôi chứa nhiều cán bộ, chiến sĩ cách mạng.

Lịch sử

Chùa Long Quang do Hoà thượng Liễu Huệ – Thiện Quyền khai sơn vào năm Minh Mạng (1824). Thuở xưa ở xã Long Hoà có thôn tên Bình Thuỷ, được thành lập ở thế kỷ XVIII, có một cậu bé 10 tuổi tên Võ Văn Quyền, dốc lòng cầu đạo, đi theo Hoà thượng Thiên Ấn đến chùa Linh Quang ở Gia Định quy y, được nhận pháp danh là Liễu Huệ. 

Sau nhiều năm học đạo, Liễu Huệ phát nguyện thế độ, thọ đại giới. Năm ông 20 tuổi, ông đầu Chánh pháp Nhãn tạng và nhận pháp hiệu Thiện Quyền.

Vào năm Minh Mạng thứ năm (tức 7 năm sau), ông trở về quê quán lập thảo am để vừa tu hành vừa truyền bá Phật pháp, cầu mong mọi sự tốt lành đến với dân làng. 

Năm 1829 do am tranh quá nhỏ không đủ cho các phật tử, tín đồ từ các nơi đến tham gia quy y thọ giới, Thiền sư Thiện Quyền cho cải tạo lại thành một ngôi chùa bằng gỗ, ngói và đặt tên là Long Trường tự Có thể, trong khoảng thời gian này chùa được đặt tên là “Long Trường tự với ý nguyện cầu mong ngôi chùa bền như trời đất, vững như núi sông (theo câu chữ Hán “Dữ thiên địa long hưng; Hoà sơn hà trường cửu”)”.

Cuối năm Minh Mạng thứ 16 (1835), chùa được liệt vào danh sách các tự viện và được miễn sưu thuế cho hai sư tăng, đáng đạo cao đức trọng.

Sau khi Thiền sư Thiện Quyền tịch, đệ tử là Nguyễn Khánh Ân kế thế, thời điểm đó trong làng, có người phát nguyện đem dâng cúng ruộng đất để làm tài sản Tam bảo. Nhưng sau đó thực dân Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, ngôi chùa trở nên lạnh lẽo, hương tàn khói lạnh, dân cư ly tán. 

Trước tình thế đó, sư đệ của Thiền sư khai sơn là Thiền sư Trần Quảng Văn phải về gìn giữ ngôi Tam bảo và đổi hiệu từ Long Trường thành Long Quang (Chữ “Long” là muốn giữ truyền thông chùa Long Trường. Chữ “Quang” là muốn giữ truyền thống Tổ đình Linh Quang). Đến cuối năm Kỷ Hợi (1875) Thầy Quảng Văn rời chùa vân du biệt tích. 

Sau đó Hội tề và bổn đạo thôn Bình Thuỷ tìm thỉnh Yết-ma Trần Quảng Hiền (học cùng thầy với Quảng Văn) về thay thế làm sư trụ trì chùa Long Quang và bắt đầu cho trùng tu chùa. 

Năm Đinh Hợi (1887), giáo thọ Phổ Minh ở chùa Hội Phưởc (Nha Mân) cúng một quả đại hồng chung cổ nặng gần 200 cân. Thầy Quảng Hiền lập ban Bảo tự gồm các Phật tử, thân hào nhân sĩ ở địa phương. Thầy phát nguyện trùng tu chùa Long Quang, nhưng 10 ngày sau bỗng nhiên ông đột ngột qua đời tại chùa Long Quang. 

Do không có đệ tử truyền thừa nên bổn đạo rước ông Đạo ứng, rồi ông Yết-ma Như Trị về lo việc đèn nhang chùa Long Quang, nhưng các sư này theo pháp môn ứng phú nên trụ trì không được lâu dài.

Tương truyền chùa sau đó không có ai hương khói, chuông mõ tượng thờ biến thành ma quỷ đe doạ dân làng. Đến năm Quý Tỵ (1893), Thiền sư Từ Quang về trụ trì và đã trùng tu lại chùa.

Năm Nhâm Tuất (1922) Thiền sư Từ Quang rước một nhóm nghệ nhân tài hoa ở Cần Thơ về chùa làm lại 50 tượng thờ bằng chất liệu gỗ Giáng Hương. 

Đến năm (1924) Thiền sư Từ Quang tịch ngày 11 tháng 5 năm Giáp tí,  trụ thế 49 năm, đệ tử là sư Từ Thới kế thế.

Cuối năm 1930, sư Từ Thới và bổn đạo thân hào nhân sĩ tái thiết chùa Long Quang. Chùa được xây quy mô, kiên cố, trang trí đẹp, khang trang. Sư Từ Thới mất năm 1963, thọ 85 tuổi. 

Một năm sau dân làng mới tìm thỉnh thầy Chơn Khánh (tục gọi ống Bảy Phúc) về lo việc đèn nhang kinh kệ. Thầy Chơn Khánh mất năm 1983.

Mười năm sau đồng bào Phật tử mới thỉnh Đại đức Thích Bình Tâm ở Thiền vận Thường Chiếu về trụ trì, thầy Bình Tâm là một vị sư trẻ tuổi, đạo cao đức trọng lại hăng hái hoạt động Phật sự. Năm 1994 bắt đầu được trùng tu ngôi chùa trở thành ngôi chùa cổ tự khang trang, năm 2003 ngôi chùa được mở rộng và thêm nhiều công trình khác. 

Các đời sư trụ trì của chùa Linh Quang 

  • Hoà thượng Liễu Huệ – Thiện Quyền
  • Thiền sư Trần Quảng Văn
  • Yết-ma Trần Quảng Hiền
  • Yết-ma Như Trị
  • Thiền sư Từ Quang
  • Sư Từ Thới huý Chơn Khương
  • Thầy Chơn Khánh (tục gọi ống Bảy Phúc)
  • Đại đức Thích Bình Tâm

Kiến trúc

Chùa có diện tích 11.000m2, các kiến trúc được sơn màu vàng, đây là điểm khiến ngôi chùa trở lên nổi bật. 

Tam quan 

Cổng tam quan xây bằng gạch với hai tầng mái ngói, 3 cửa ra vào, cửa chính ở giữa có diện tích lớn nhất hai bên cửa phụ có diện tích nhỏ hơn, các cửa ra vào đều làm cánh cổng sắt. Trên cổng lớn chính giữa có dòng chữ Long Quang cổ tự, cổng nhỏ bên tay trái (nhìn từ ngoài vào) có 2 chữ Từ Bi; cổng nhỏ bên tay phải có 2 chữ Trí Tuệ.

Hai bên cột cửa chính có khắc câu đối bằng chữ Hán chạy dọc thân cột:

Phiên âm:

“Long đức phổ thập phương, Phật đạo hoằng thâm chánh giáo

Quang minh chiếu tam giới, thiền lâm quãng nhuận chân truyền”

Dịch nghĩa:

“Đức thịnh chiếu mười phương, đạo Phật tỏa sâu chính pháp

Ánh hồng soi ba cõi, rừng thiền nhã lỗi chân truyền”

 

Hai tầng mái ngói lợp ngói mũi hài, đầu đao uốn công có gắn hoa văn. Bên trên nóc mái tầng hai có gắn đôi rồng trắng ngẩng cao đầu quay ngược vào bánh xe pháp luân ở giữa. 

Khoảng sân trước Tam bảo

Khoảng sân phía trước ngôi Tam bảo có dựng 1 tiểu cảnh Phật Đà niết bàn (cao khoảng 0,5 m) dưới gốc cây bồ đề. Đây là cây bồ đề được lấy giống từ bên Myanmar mang về và trồng vào 30/11/2012. 

Nằm ở bên phải trước cổng Tam quan là một bức tượng Quan Âm Bồ Tát cao khoảng 2m đặc trên một bục cao khoảng nửa mét. Tượng Quan Âm đặt dưới một bụi tre với tán cây che phủ nắng mưa. 

Tam bảo

Ngay góc bên phải Tam bảo có đặt 1 bia di tích lịch sử văn hóa, nội dung ghi sơ lược về lịch sử hình thành và quyết định công nhận chùa là di tích cấp quốc gia.

Như nhiều kiến trúc xưa, chùa được xây trên một tầng gạch cao hơn nửa mét, toà nhà Tam bảo được xây theo lối thượng lầu hạ hiên (thượng lầu hạ hiên là kiến trúc phần mái có 1 lầu đặt chồng lên hiên nhà 1 chóp nhọn như cái lầu trên mái nhà) dãy nhà chia làm 1 gian rộng, phía bên trong là gian hậu cung, phần mái được làm cao lên 1 tầng, mỗi gian được làm 8 mái, lợp ngói đỏ. 

Gian điện thờ chính là gian thờ Phật Tổ, được đóng bằng gỗ có ba bậc, bậc thứ nhất để các đồ thờ tự như chuông, mõ, nhang đèn…, bậc thứ hai đặt tượng tôn trí tượng Bồ Tát Di Lặc miệng cười tươi đang đùa giỡn với hai đứa trẻ, bậc trên cùng, bậc trên thờ ba pho tượng Tam thế Phật: giữa là tượng Bồ Tát A Di Đà, bên trái là tượng Bồ Tát Đại Thế Chí, bên phải là Bồ Tát Quán Thế Âm.  Bên trên ban thờ có bức hoành phi bằng gỗ, được làm theo kiểu cuốn thư, chạm trổ tinh xảo, ở giữa có hàng chữ Hán: Đại hùng bảo điện. 

Sát vách bên trái, bên phải là trên kệ dài bày trí 18 tượng La Hán, đây là 18 tượng nổi bật và có giá trị, nguồn gốc và xuất sứ từ đời Hoà thượng Từ Quang, thỉnh gỗ từ Huế, chất liệu gỗ giáng hương, mỗi tượng cao 80cm, mặc áo tràng, tay cầm bảo bối khác nhau,  dáng ngồi hình dáng khác nhau. 

Ngoài ra còn có rất nhiều tượng: Tượng Ngọc Hoàng Đại Đế và 2 bên là Nam Tào, Bắc Đẩu, tượng Tổ sự Đạt Ma và Quan Công, Tượng Giám Trai, Tượng diêm vương, Tượng Vương Mẫu Nương Nương,…

Phía sau chánh điện là bàn thờ Hậu Tổ, trên bàn thờ là tượng Phật Chuẩn Đề, Tượng ngồi trên một con chim, con chim đặt chân trên một bệ hoa sen. Xung quanh là nhiều bài vị và di ảnh của các vị cố trụ trì của chùa Long Quang.

Bên phải hông Tam bảo có treo một Đại Hồng chung

Vườn tháp

Nằm ở phía sau các toà nhà là Vườn tháp, đây là nơi chứa di cốt của các cố Trụ trì chùa trước đây có trồng nhiều hoa kiểng, cây bonsai, cây ăn trái,…. Các tháp có hình dáng lục giác 1 tầng và 2 tầng. 

Đặc biệt trong Vườn tháp có một toà tháp có diện tích lớn nhất và cao nhất, tháp gồm 6 tầng, với các hoạ tiết trang trí trên tháp chi tiết và cầu kỳ hơn. 

Lầu Bồ Tát

Khu vực này được trồng nhiều cây xanh và có rất nhiều tiểu cảnh Phật giáo khác nhau.  Ở giữa là một ao sen rộng với một khu vực đặt pho tượng Quan Âm Bồ Tát bằng gỗ ở giữa ao sen.

Lầu hình vuông, với 4 cột trụ, mái 8 mái, lợp ngói mũi hài, có đường cầu lối từ sân vào lầu, Tượng Quan Âm bằng gỗ đặt trên đài sen cao khoảng 3m.

Bên phải đài sen Bồ Tát là một mô phỏng hình tượng 5 vị Trần Kiều Như nghe lời giảng của Phật, bên trái là mô phỏng vườn Lâm Tì Ni, khi Phật đản sanh ra đời.

Một số kiến trúc khác trong chùa 

Trong khuôn viên chùa Long Quang còn có các dãy nhà bếp, nhà ăn, nhà Địa Tạng Đường là khu vực để tro cốt của các Phật tử gửi vào, phía trước đặt một tượng Địa Tạng Vương cao khoảng 2m.

Nhà Hội trường là khu vực hội họp, tham gia các khóa học Phật giáo,… Bãi xe là khu đất trống với mái che đầy đủ và có thể đỗ cả xe lớn. Khu nhà ở của các Tăng Ni. 

Lễ hội 

Hàng năm, Chùa tổ chức 3 kỳ lễ hội lớn: cúng Thượng Ngươn (tháng giêng), cúng Trung Ngươn (tháng 7), cúng Hạ Ngươn (tháng 10); cúng Phật Đản sanh vào tháng 4. 

Xếp hạng

Ngày 21 tháng 6 năm 1993, ngôi chùa đã được công nhận là di tích Kiến trúc Nghệ thuật cấp quốc gia, theo Quyết định số 774/1993/QĐ-BT của Bộ Văn hoá Thông tin 

Ngoài ra chùa Long Quang còn được trao bằng công nhận là Bảo tồn Di sản Văn hoá tâm linh của người Việt

Bản dịch Tiếng Anh

Name and Geographic Location

Long Quang Pagoda (official name: Long Quang Co Tu, 隆光古寺) is an ancient temple located on the bank of the Binh Thuy River, at No. 155/6, Binh Chanh area, Long Hoa ward, Binh Thuy district, Can Tho city. It is about 5 km from downtown Can Tho, accessible via Nguyen Van Linh/QL91B road.

In 1992, the Executive Committee of the Buddhist Sangha of Can Tho province appointed Venerable Thich Binh Tam as the abbot of the pagoda, a position he has held until now. Initially, the pagoda followed the Linji Zen School of Chinese Buddhism, but it later joined the Vietnam Buddhist Sangha and converted to the Mahayana tradition. During the resistance wars against French colonialists and American imperialists, Long Quang Pagoda also served as a shelter for many revolutionary cadres and soldiers.

History

Long Quang Pagoda was founded in 1824 (Minh Mang era) by Venerable Lieu Hue – Thien Quyen. In the 18th century, in Long Hoa village, there was a hamlet named Binh Thuy. A boy named Vo Van Quyen, at the age of 10, was devoted to the Dharma. He followed Venerable Thien An to Linh Quang Pagoda in Gia Dinh to take refuge and was ordained with the Dharma name Lieu Hue.

After years of study, Lieu Hue took full ordination and received the Dharma title Thien Quyen at the age of 20. In the 5th year of Minh Mang (seven years later), he returned to his hometown, built a small hermitage for both practice and teaching Buddhism, and prayed for the well-being of the villagers.

In 1829, since the hermitage was too small for the increasing number of laypeople, Master Thien Quyen rebuilt it into a wooden pagoda with tiled roof and named it Long Truong Tu, meaning “enduring as heaven and earth, everlasting as mountains and rivers.”

By 1835, the pagoda was officially registered among temples and granted tax exemption for two resident monks. After Thien Quyen’s passing, his disciple Nguyen Khanh An inherited the abbacy. Later, due to the French invasion of Cochinchina, the temple became desolate. To preserve it, Master Tran Quang Van, a disciple of the founder, renamed it Long Quang (keeping “Long” from Long Truong, and “Quang” from Linh Quang Patriarchal Temple).

In 1875, Master Quang Van departed on pilgrimage and disappeared. The villagers then invited Yet-ma Tran Quang Hien to take charge and initiated renovations. In 1887, a great bronze bell weighing nearly 200 kilograms was donated by teacher Pho Minh from Hoi Phuoc Pagoda (Nha Man). Unfortunately, 10 days after starting the renovation, Master Quang Hien suddenly passed away.

The pagoda went through many difficulties, including periods without an abbot, until Master Tu Quang came in 1893 to restore it. In 1922, he commissioned artisans from Can Tho to sculpt 50 wooden statues from Dalbergia tonkinensis wood. He passed away in 1924 and was succeeded by monk Tu Thoi.

In 1930, Tu Thoi and the community rebuilt the pagoda into a more spacious and beautiful structure. He passed away in 1963 at the age of 85. In 1983, after the death of monk Chon Khanh, the pagoda was without an abbot for 10 years, until Venerable Thich Binh Tam from Thuong Chieu Monastery took over in 1993. Since then, the pagoda has undergone multiple restorations and expansions (notably in 1994 and 2003).

Abbots of Long Quang Pagoda

  • Venerable Lieu Hue – Thien Quyen

  • Master Tran Quang Van

  • Yet-ma Tran Quang Hien

  • Yet-ma Nhu Tri

  • Master Tu Quang

  • Monk Tu Thoi (secular name Chon Khuong)

  • Monk Chon Khanh (also known as Bay Phuc)

  • Venerable Thich Binh Tam

Architecture

The pagoda covers an area of 11,000 m², with yellow-painted structures making it stand out.

Tam Quan Gate: Built of bricks, with two-tier tiled roofs and three entrances. The central gate bears the inscription “Long Quang Co Tu,” while the side gates read “Tu Bi” (Compassion) and “Tri Tue” (Wisdom).

Tam Bao Hall: Constructed on an elevated base, with an upper pavilion roof style. The main altar enshrines the Buddha Triad: Amitabha in the center, flanked by Bodhisattva Mahasthamaprapta and Avalokitesvara. There are also 18 Arhat statues, meticulously carved from Dalbergia wood, originating from Hue. Numerous other statues include Jade Emperor, Dharma Patriarch Bodhidharma, and others.

Other Features: A Bodhi tree from Myanmar (planted in 2012), a statue of Avalokitesvara under bamboo shade, a bell tower, ancestral stupa garden, Bodhisattva pavilion with lotus pond, and halls for rituals, Dharma assemblies, and community use.

Festivals

Annually, the pagoda holds three major festivals: Thuong Nguon (first lunar month), Trung Nguon (seventh lunar month), and Ha Nguon (tenth lunar month), along with the Vesak Festival in the fourth lunar month.

Recognition

On June 21, 1993, Long Quang Pagoda was recognized as a National Architectural and Artistic Monument (Decision No. 774/1993/QD-BT, Ministry of Culture and Information). It has also been awarded as a recognized site of Vietnamese Spiritual Cultural Heritage.


Bản dịch Tiếng Trung

名称与地理位置

隆光古寺(俗称隆光寺,越文名:Chùa Long Quang),是一座位于槟椥河畔的古老寺庙,地址为芹苴市平水郡龙和坊平政片区155/6号。距离芹苴市中心约5公里,可沿阮文灵路/91B国道前往。

1992年,芹苴省佛教会任命释平心上座为住持,至今仍在任。最初,寺庙属于中国临济禅宗,后改宗加入越南佛教会,归属于大乘北宗。在抗法和抗美战争期间,隆光寺还是革命干部和战士的秘密庇护所。

历史

隆光古寺由了慧–善权法师于明命四年(1824年)开山创立。18世纪,龙和社有一村名为槟椥,当地有一名10岁少年武文权,虔心学佛,随天印和尚至嘉定灵光寺出家,法名了慧。

二十岁时受大戒,赐号善权。七年后返回家乡建茅庵修行与弘法。1829年,由于信众增多,茅庵过小,善权改建木瓦寺庙,名为“隆长寺”,寓意“与天地同久,与山河共存”。

1835年,寺庙列入官方寺院名册,获免税二僧。善权圆寂后,弟子阮庆恩继任。法国入侵南圻后,寺庙衰败荒凉。开山弟子陈广文法师回守寺庙,并将寺名改为“隆光”,取“隆”自隆长寺,“光”自灵光祖庭。

1875年底,广文离寺云游,村民礼请业摩陈广贤继任,并展开修复。1887年,来自芽闽会福寺的普明法师捐赠一口近200斤的大洪钟。广贤立“保寺会”,但十日后突然圆寂。

其后住持更迭频繁,寺庙一度荒废,甚至传说钟磬佛像化为妖魅惊扰村民。1893年,慈光法师入住修复。1922年,他请芹苴艺匠雕刻50尊降香木佛像。1924年圆寂,由弟子慈泰继任。

1930年,慈泰与乡绅信众重建寺庙,规模宏伟。1963年圆寂,享年85岁。1983年,真庆和尚圆寂,寺庙再度无人主持,直至1993年,释平心大德自常照禅院来住持。1994年、2003年两度重修扩建,使寺庙焕然一新。

历代住持

  • 了慧–善权法师

  • 陈广文法师

  • 业摩陈广贤

  • 业摩如治

  • 慈光法师

  • 慈泰和尚(讳真姜)

  • 真庆和尚(俗称七福公)

  • 释平心大德

建筑

寺院占地11,000平方米,主体建筑皆漆成黄色,格外醒目。

三门殿:砖砌,双层瓦顶,三道门,中门题“隆光古寺”,左门题“慈悲”,右门题“智慧”。

大雄宝殿:高台而建,上层楼阁式屋顶,供奉三世佛:中为阿弥陀佛,左为大势至菩萨,右为观世音菩萨。两侧陈列18尊罗汉像,降香木雕刻,自顺化运来。殿内还供奉玉皇大帝、达摩祖师、关公等。

其他建筑:菩提树(源自缅甸,2012年种植)、观音像、钟楼、塔林(安奉历代住持遗骨)、菩萨楼(中央莲池置木雕观音像)等。

节庆

每年举办三大节:上元(正月)、中元(七月)、下元(十月),以及四月佛诞法会。

认定

1993年6月21日,隆光寺被越南文化信息部认定为国家级建筑艺术遗迹(决议号774/1993/QĐ-BT)。另获颁“越南精神文化遗产保护”证书。


Bản dịch Tiếng Pháp

Nom et localisation géographique

La pagode Long Quang (nom officiel : Long Quang Co Tu, 隆光古寺) est une ancienne pagode située sur la rive de la rivière Binh Thuy, au n°155/6, secteur Binh Chanh, quartier Long Hoa, district Binh Thuy, ville de Can Tho. Elle se trouve à environ 5 km du centre-ville de Can Tho, accessible par la route Nguyen Van Linh/QL91B.

En 1992, le Comité exécutif de l’Église bouddhique du Vietnam, province de Can Tho, a nommé le Vénérable Thich Binh Tam comme abbé de la pagode, fonction qu’il occupe toujours. À l’origine, la pagode appartenait à l’école du Zen Linji de Chine, mais elle a rejoint plus tard l’Église bouddhique du Vietnam et s’est convertie à la tradition du Mahayana (branche du Nord). Pendant les guerres de résistance contre les colonialistes français et les impérialistes américains, la pagode Long Quang servait également de refuge à de nombreux cadres et combattants révolutionnaires.

Histoire

La pagode Long Quang fut fondée en 1824 (ère Minh Mang) par le Vénérable Lieu Hue – Thien Quyen. Au XVIIIe siècle, dans le village de Long Hoa, se trouvait un hameau appelé Binh Thuy. Un garçon de 10 ans, Vo Van Quyen, passionné par la quête spirituelle, suivit le moine Thien An à la pagode Linh Quang à Gia Dinh, où il reçut l’ordination et le nom religieux Lieu Hue.

À l’âge de 20 ans, il reçut la pleine ordination et le titre de Dharma Thien Quyen. En 1829, il reconstruisit un petit ermitage en pagode de bois et de tuiles, appelée Long Truong Tu, signifiant « durable comme le ciel et la terre, éternel comme les montagnes et les fleuves ».

En 1835, la pagode fut officiellement enregistrée et exemptée de taxes pour deux moines résidents. Après la mort de Thien Quyen, son disciple Nguyen Khanh An assuma la charge. Lorsque les Français envahirent la Cochinchine, la pagode déclina. Le maître Tran Quang Van, disciple du fondateur, la renomma Long Quang (en gardant “Long” de Long Truong et “Quang” de Linh Quang).

Après de nombreuses vicissitudes, en 1893, le maître Tu Quang reprit la pagode et la restaura. En 1922, il fit sculpter 50 statues en bois de Dalbergia par des artisans de Can Tho. Après sa mort en 1924, le moine Tu Thoi lui succéda. En 1930, ce dernier reconstruisit la pagode en un édifice spacieux et raffiné. Il mourut en 1963, âgé de 85 ans.

En 1993, le Vénérable Thich Binh Tam prit la succession et entreprit d’importantes restaurations (1994, 2003), transformant la pagode en un lieu majestueux.

Abbés successifs de la pagode Long Quang

  • Vénérable Lieu Hue – Thien Quyen

  • Maître Tran Quang Van

  • Yet-ma Tran Quang Hien

  • Yet-ma Nhu Tri

  • Maître Tu Quang

  • Moine Tu Thoi (nom séculier Chon Khuong)

  • Moine Chon Khanh (appelé Bay Phuc)

  • Vénérable Thich Binh Tam

Architecture

La pagode couvre une superficie de 11 000 m², avec des bâtiments peints en jaune, couleur distinctive.

Portail Tam Quan : construit en briques, avec toiture à deux niveaux, trois portes. L’inscription centrale indique « Long Quang Co Tu », tandis que les deux portes latérales portent « Tu Bi » (Compassion) et « Tri Tue » (Sagesse).

Salle du Grand Bouddha (Tam Bao) : édifiée sur un soubassement surélevé, de style « étage supérieur et auvent inférieur », elle abrite la triade bouddhique : Amitabha au centre, flanqué de Mahasthamaprapta et Avalokitesvara. Dix-huit statues d’Arhats en bois précieux (provenant de Hue) y sont également conservées.

Autres structures : arbre de Bodhi importé du Myanmar (planté en 2012), statue de Guanyin, cloche en bronze, jardin des stupas (abritant les reliques des anciens abbés), pavillon du Bodhisattva au milieu d’un étang de lotus, salles pour les cérémonies et l’étude du Dharma.

Fêtes

Chaque année, la pagode organise trois grandes fêtes : Thuong Nguon (1er mois lunaire), Trung Nguon (7e mois), Ha Nguon (10e mois), ainsi que la fête du Vesak (4e mois lunaire).

Classement

Le 21 juin 1993, la pagode fut reconnue comme Monument national d’architecture et d’art (décision n°774/1993/QĐ-BT du Ministère de la Culture et de l’Information). Elle a également reçu un certificat de Conservation du Patrimoine spirituel vietnamien.

Tham khảo

  1. Võ Văn Tường, 500 danh lam việt nam, Nxb Thông tấn.
  2. Vũ Ngọc Khánh (chủ biên), Chùa cổ việt nam, Nxb Thanh Niên. 
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)