Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Nả, còn gọi là chùa Phúc Lâm hay chùa Vĩnh Phệ, tọa lạc tại phố Nả, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Nằm ngay mặt đường Quốc lộ 32, chùa có vị trí thuận lợi cho việc chiêm bái và tham quan, đồng thời là một điểm nhấn văn hóa tâm linh tiêu biểu của địa phương.
Với lịch sử lâu đời và kiến trúc độc đáo, chùa Nả được xem là một trong những ngôi chùa cổ kính và đặc sắc bậc nhất tại Ba Vì. Không chỉ là nơi thờ Phật, chùa còn thờ hai vị thánh là Nguyên Đạo Thông và Nguyên Đạo Hạnh, thể hiện rõ nét sự giao thoa hài hòa giữa Phật giáo và tín ngưỡng dân gian truyền thống.
Hiện nay, chùa Nả thuộc sự quản lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tiếp tục là nơi sinh hoạt tín ngưỡng, gìn giữ và phát huy các giá trị văn hóa tâm linh của cộng đồng.
Lịch sử và nhân vật
Chùa Nả được khởi dựng từ thời nhà Lý, theo các văn bia còn lưu giữ tại chùa, vào năm 1578, dưới triều nhà Mạc, chùa đã được trùng tu lần thứ nhất. Đến năm 1794, niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 2 thời Tây Sơn (Giáp Dần), chùa tiếp tục được tu sửa lần thứ hai, cho thấy sự quan tâm và gìn giữ của các triều đại đối với di tích này.
Trải qua hàng trăm năm với nhiều biến động của lịch sử và sự khắc nghiệt của thời gian, đến khoảng năm 2014, chùa Nả (hay còn gọi là chùa Phúc Lâm), xã Chu Minh, huyện Ba Vì, rơi vào tình trạng xuống cấp nghiêm trọng. Nhiều hạng mục chính như mái ngói bị xô lệch, tường nứt toác, hàng chục cột gỗ phải chống đỡ tạm bợ để tránh sụp đổ.
Trước thực trạng đó, năm 2014, Phòng Văn hóa huyện Ba Vì đã phối hợp với UBND xã Chu Minh và nhân dân địa phương thực hiện việc lợp mái tôn nhằm che chắn, bảo vệ ngôi chùa khỏi mưa nắng, bước đầu ngăn chặn sự hư hại thêm.
Ngày nay, các hạng mục kiến trúc trong chùa đã được xây dựng mới, gian Tam Bảo thuộc thế kỷ XVI đã bị xuống cấp trầm trọng, bên trong hệ thống mái, cột gần như sụp đổ, phải dùng gỗ chống đỡ, nay cũng đã được trùng tu, xây dựng lại.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Nả nằm ngay trên trục đường lớn Quốc lộ 32, thuận tiện cho việc chiêm bái và kết nối với các khu vực lân cận. Chùa được xây dựng trong khu dân cư sinh sống, tạo nên không gian tâm linh gần gũi và gắn bó mật thiết với đời sống cộng đồng.
Kiến trúc chùa gồm các hạng mục chính như Tam Quan và Tam Bảo, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, Tả/Hữu Vu và một số công trình phụ trợ khác, thể hiện nét truyền thống đặc trưng của kiến trúc Phật giáo Việt Nam.
Tam quan
Cổng chùa có kiến trúc Tam Quan truyền thống của chùa làng Bắc Bộ, gồm ba lối đi, một lối chính ở giữa và hai lối phụ hai bên. Lối chính cao hơn, đồ sộ hơn, với mái chồng diêm ba tầng. Tầng dưới uốn vòm cung có chiều ngang rộng khoảng 2m, tầng hai là nơi treo chuông đồng lớn, tầng 3 được xây thành hình trụ chữ nhật, bền mặt tường trang trí hoạ tiết vân mây, dây lá cách điệu. Trên mái ở giữa gắn cuồng lửa, các đầu đao uốn cong hình dây lá. Tại tầng hai có treo biển lớn gắn chữ “Tổ Đình chùa Phúc Lâm”, thân cột trụ đắp nổi hai câu đối bằng chữ Hán ở hai bên.
Hai bên cổng phụ thấp hơn, mỗi bên gồm hai tầng mái, trên thân cổng và phần tường phía trên được đắp vẽ các hình rồng, mây, hạc… Mái lợp ngói mũi hài. Bên cạnh cổng phụ là một lối cầu thang dẫn lên gác chuông treo bên trên.
Cổng được bao bọc bởi dãy tường chạy bao quanh khuôn viên di tích, tách biệt không gian linh thiêng với đời sống bên ngoài.
Tam Bảo
Bước qua cổng chùa là một khoảng sân rộng, được lát gạch đỏ. Trong sân trồng nhiều cây xanh, những cây cổ thụ lớn, tỏa bóng mát bao phủ gần như toàn bộ khu vực phía trước Tam bảo.
Khu Tam bảo gồm một dãy nhà hai tầng, xây theo kiểu ba gian hai chái, với hệ thống sáu hàng cột chống đỡ. Tầng trên là một phần nhô lên từ mái, có chiều cao khoảng 50cm, mặt tường xây kín, chính giữa khắc ba chữ Hán 福林寺, nghĩa là Phúc Lâm Tự. Ba gian giữa mở là lối vào khu thờ chính, còn hai gian đầu hồi xây kín tường, phần giữa tường trổ cửa chữ Thọ, các cánh cửa gỗ với lối thiết kế bưng kín.
Bên trong, mỗi gian được sắp xếp với án thờ và tượng thờ đặt trang trọng ở vị trí trung tâm. Phía trước các gian thờ là những bộ cửa võng chạm khắc tinh tế, mang các họa tiết quen thuộc như rồng, mây, dây lá cách điệu. các bộ hoành phi và câu đối cổ được trang trí ở cột và phía trên mỗi gian, góp phần tạo nên không gian thờ tự trang nghiêm.
Mái chùa được lợp bằng ngói mũi hài truyền thống, kết cấu mái gồm hai tầng, các đầu đao được uốn cong. Trên đỉnh nóc có trang trí hình hoa chanh, ở chính giữa gắn bánh xe Pháp luân, một biểu tượng quen thuộc trong kiến trúc Phật giáo, thể hiện sự luân chuyển của giáo pháp.
Nhà Bia
Nằm bên phải khu Tam Bảo là một dãy nhà gồm 7 gian, thiết kế để thoáng, không có cửa che chắn. Tòa nhà có chiều rộng khoảng 1,5 mét, tạo thành một hành lang nhỏ. Bên trong đặt 5 tấm bia đá với kích thước và hình dáng khác nhau, được sắp xếp theo hàng, tạo thành một không gian riêng biệt để bảo tồn và giới thiệu những tư liệu lịch sử quý giá của chùa.
Di vật
Chùa Nả hiện còn lưu giữ 17 đạo sắc phong cùng 5 tấm bia đá khắc chữ cả hai mặt, được đặt trang trọng ngay trước cửa chùa. Đáng chú ý, trong chính điện vẫn bảo tồn quả chuông có niên đại năm Đinh Tỵ (1797), khám thờ sơn son thếp vàng từ thời thiền sư Nguyễn Đạo Hạnh dưới triều Hậu Lê, cùng một bộ võng thờ có niên đại từ thế kỷ XVI. Bên cạnh đó, chùa còn lưu giữ nhiều pho tượng cổ và cổ vật quý giá khác, phản ánh bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa tâm linh của di tích.
Xếp hạng
Chùa Nả được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp Quốc gia năm 2004. Di tích không chỉ là nơi lưu giữ những giá trị lịch sử, văn hóa và kiến trúc đặc sắc của địa phương, mà còn là không gian sinh hoạt tín ngưỡng gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của người dân qua nhiều thế hệ. Việc được xếp hạng di tích cấp Quốc gia là sự ghi nhận ý nghĩa to lớn của chùa trong dòng chảy văn hóa dân tộc, đồng thời đặt ra trách nhiệm gìn giữ, phát huy giá trị cho hôm nay và mai sau.
Tài liệu tham khảo
- Chu Thị Khánh Linh, Luận văn thạc sĩ quản lý văn hóa, Quản lý lễ hội đình – chùa Nả, xã Chu Minh, huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
- Theo KTS Trần Trung Hiếu, VOV Đài tiếng nói Việt Nam.
- Báo điện tử Công an nhân dân.