Chùa Nhuệ Giang (Thiên Ân Tự, Thường Tín – Hà Nội)

Chùa Nhuệ Giang (Thiên Ân Tự, Thường Tín – Hà Nội)

Vị trí


 
Chùa Nhuệ Giang, tên chữ là Thiên Ân Tự có vị trí nằm về phía Bắc huyện Thường Tín, thuộc huyện ngoại thành Hà Nội. Đây là một công trình tôn giáo mới được đầu tư xây dựng bằng nhiều nguồn kinh phí. 

Kiến trúc


Mở đầu của khu di tích là nghi môn xây hai trụ liền tường bao, tiếp theo là tường nối cánh phong. Trụ xây vuông, đỉnh trụ đắp hình 4 chim phượng đầu quay bốn hướng, đuôi chụm vào nhau tạo thành hình chái giành thân trụ tạo khung ghi cầu đối. Qua cổng là một khoảng sân rộng lát gạch, trước sân đắp cuốn thư liền với tường bao thấp của đình, hai bên cuốn thư xây trụ, đắp nghê chầu.

Qua nghị môn là đến Đại bái, đại bái gồm 5 gian, xây kiểu tường hồi bít đốc tay ngai, phía trước có 2 trụ biểu vuông, đỉnh trụ đắp nghê chầu, tiếp theo là phần lồng đèn có các ô trang trí hình tứ linh (long, ly, quy, phượng), phần thân trụ tạo vuông. Mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, hai đầu kìm đắp đấu nắm cơm tạo cảm giác thanh thoát nhẹ nhàng cho công trình kiến trúc. Nhà xây trên nền cao hơn mặt sân 25cm, xung quanh bó vỉa gạch, phía trước xây hai bậc lên nến nhà.

Kết cấu kiến trúc bốn hàng chân cột gỗ đỡ mái theo kiểu “thượng thu – hạ thách”, các cột gỗ đặt trên chân đá tảng hình vuông chôn chìm xuống nền, nền nhà làm kiểu lòng thuyền, gian giữa làm thấp hơn các gian bên 25cm, lát gạch vuông và một phần là gạch chỉ. Kết cấu bộ vì làm theo kiểu “thượng chồng rường giá chiêng, tiền kẻ hậu bẩy”, riêng hai vì gian giữa làm kiểu vì “cồn” cả trước và sau. Các vì bên làm kiểu kẻ trường, tiền kẻ hậu bẩy. Phía trước mở ba cửa gỗ kiểu ghép ván. Nội thất nhà Đại Bái được để trống tạo không gian thoáng rộng cho sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Kết cấu kiến trúc hiện nay của đình theo phong cách nghệ thuật thời Nguyễn, thế kỷ XIX, XX, được nhận biết qua các đề tài trang trí rồng hoa lá thanh thoát, khoáng đặt trên các ván mê, thanh xà và các đầu bẩy hiên. Ở gian giữa bên trên là bức đại tự ghi 4 chữ “Dực bảo Trung hưng” tiếp theo là bức cửa võng, trang trí rồng chầu mặt nguyệt mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX, phía sau là bức đại tự “Thái sơn vọng trọng”, bên dưới trang trí hương án gỗ trên đặt các đồ thờ tự, hai bên tả, hữu bài trí bộ siêu đao, biểu lệnh, cờ lọng…

Tiếp đến là Hậu cung, Hậu cung được làm song song với tòa Đại Bái gồm có 5 gian đầu hồi xây bít đốc, mái lợp ngói ta, bờ nóc đắp kiểu bờ đinh, hai gian hồi làm ban thờ hậu, ba gian giữa được chia làm hai lớp, phía ngoài thờ các quan, phía trong hậu cung làm ban thờ Thành Hoàng. Kết cấu bộ vì theo kiểu “vì kèo quá giang cột trốn” đặt trên 4 cột gỗ và tường xây bổ trụ, Giữa hậu cung xây bệ bố trí ban thờ Thành Hoàng làng. Nền nhà lát gạch vuông. Hậu cung được làm 3 cửa: gian giữa làm cửa kiểu bức bàn và chạm nổi hoa văn trang trí chủ đề tứ quý, văn triện; hai gian bên là cửa nhỏ làm lối đi vào hậu cung.

Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc và điêu khắc được tập trung tại tòa Đại Bái thể hiện trên các bức cốn nách, con giường, đầu bẩy, đấu kê… chạm nổi hình rồng mây, rồng lá, phượng vũ, vân mây, sóng nước, long hoá, cúc lão… với nét chạm nổi, chạm bong kênh, trên đầu thân rồng, các vân mây cuộn, sóng nước thể hiện chau chuốt… Chủ đề trang trí thể hiện phong phú ngoài việc làm tăng giá trị thẩm mỹ cho công trình kiến trúc còn tạo ra cảm giác thanh thoát cho khối kiến trúc gỗ của đình.

Trên các di vật gỗ của đình như: Long ngai, bài vị, hương án, kiêu rước,… đề tài trang trí chủ đạo là “tứ qúy, “tứ linh”, “hổ phù”… mang phong cách nghệ thuật dân gian truyền thống. Bên cạnh đó, ta còn gặp những mảng chạm khắc trang trí trên bức cửa võng, các đồ lễ tự như: ỉ thờ, đài nước,… tất cả đều được sơn thếp làm tăng thêm vẻ uy nghiêm cho ban thờ. Đồng thời, các di vật này đều được ăn sâu vào tâm thức tín ngưỡng truyền thống của mỗi người dân địa phương. Chính giữa hậu cung xây bệ thành 2 cấp trên cùng là nơi đặt ngai thờ bài vị thành hoàng, thể hiện sự trân trọng đối với nơi tọa lạc của Đức thánh, ngai thờ bằng gỗ sơn son thếp vàng trang trí tứ linh, tứ quý, ngoài ra còn các đồ thờ tự khác.

Lễ hội


Hội làng được duy trì vào ngày 12/11 âm lịch hàng năm, để chuẩn bị cho ngày lễ hội, từ sáng ngày 10/11, các cụ cao tuổi đã mở cửa đình, đến tối tổ chức lễ mục dục, bao sái ban thờ Thánh. Ngày 11/11, từ sáng sớm dân làng tề tựu đông đủ tại đình tổ chức rước kiệu từ đình xuống miếu dâng hương tại miếu sau đó rước kiệu từ miếu về đình. Tại đình, dân làng tổ chức tế lễ, dâng hương, vật tế lễ bao gồm oản quả, mũ ngựa và tiền vàng. Ngày 12/11 tổ chức dâng hương và tế dã hội, ngày này thường tổ chức lễ Phù tửu, có năm dân làng tổ chức cơm đoàn kết toàn dân tại đình. Bên cạnh đó trong ngày lễ nhân dân thường tổ chức mang những đồ ngon và đẹp để lễ Thánh nhằm mong muốn sẽ đạt được những gì tốt đẹp cho cuộc sống gia đình. Tại các gia đình tổ chức đón con cháu và khách gần xa vẻ xem hội.

Ngày lễ hội đã hội tụ các yếu tố truyền thống và hiện đại, nơi hội tụ của mọi người dân trong cộng đồng để giao lưu văn hóa, bảo lưu những giá trị văn hóa phi vật thể quý giá của cha ông từ ngàn đời lưu lại cho mai sau. Trong lễ hội trước đây còn tổ chức trò chơi: đánh đu, đập niêu, cột mỡ, cờ người, buổi tối tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ diễn các vở chèo cổ…

Thành tựu


Với những giá trị về lịch sử và văn hóa, năm 2010, đình Nhuệ Giang được công nhận là Di tích lịch sử cấp thành phố.

Tham khảo

  • http://ditichlichsu-vanhoahanoi.com/2020/10/14/dinh-nhue-giang-thuong-tin/
Chấm điểm
Chia sẻ
7. Chùa Nhuệ Giang (Nguồn_FB Hiền Giang an toàn)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926