Tên gọi và vị trí địa lý
Phước Sơn Am tại đội 16, thôn Châu Tử, xã Bình Nguyên 2, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi.
Lịch sử và nhân vật
Phước Sơn Am ngày nay có diện mạo của một ngôi chùa Phật. Dù cho lịch sử quá quen thuộc với ngôi cổ am, vì thuở ban sơ đây chỉ là am tranh, vách đất, nằm dưới chân núi Vạc, do Đức Ông Nguyễn Tấn Kỳ khai lập và do lòng sùng bái, nhiều người đã gọi là chùa Vạc hay chùa Ông.
Ngài Nguyễn Tấn Kỳ, sinh năm 1858, nguyên là một nghĩa sĩ yêu nước trong Nghĩa hội Văn Thân, hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi ngày 5.7.1885, chống thực dân Pháp. Trước đó, Ngài đã cùng Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân… xây dựng Hương bình, lập căn cứ địa Tuyền Tung ở phía Tây làng Châu Tử, quê hương của Ngài. Ngày 13.7.1885, toàn bộ lực lượng cách mạng tiến công đánh chiếm thành Quảng Ngãi. Làm chủ tình hình được 4 ngày thì cuộc khởi nghĩa này thất bại, do phản công của quân Nguyễn Thân. Nguyễn Tự Tân chết tại trận, Lê Trung Đình bị xử chém. Còn Ngài bị bắt, tra tấn, nhưng đã tìm cách trốn thoát.
Vào tháng 6.1885, Ngài lại cùng Nguyễn Bá Loan, hợp quân với Nguyễn Duy Hiệu, Nguyễn Hàm từ Quảng Nam, chặn đánh trả thù quân của Nguyễn Thân tại xã Bình Hiệp, huyện Bình Sơn, chúng phải dùng lửa đốt cầu gỗ, cắt đường mà chạy. Ngày nay địa phương vẫn còn lưu danh tên gọi “Cầu Cháy”.
Tuy nhiên, các hoạt động công khai và bí mật từ phong trào Cần Vương đến Duy Tân, dần dần suy yếu và tan rã. Nguyễn Bá Loan bị bắt và xử chém ngày 24.3.1908. Phong trào “Cự sưu, khất thuế”, chuẩn bị đấu tranh tiếp theo do đó mà bị lắng đọng. Ngài tự biết mình lực bất tòng tâm, vận nước thịnh suy còn tùy thuộc vào lẽ Tạo hóa xoay vần. Duy chỉ còn con đường Phật đạo là cao cả, mới mong hàn gắn nỗi thương đau và cứu vãn nhân sinh thoát khổ.
Ngài xuất gia quy y Hòa thượng Chương Nhẫn Từ Nhơn nơi Tổ đình Viên Quang, Bình Sơn, cho Ngài pháp danh Ấn Hướng, tự Tổ Đồng, hiệu Pháp Nhân. Chẳng bao lâu, Ngài lên núi Hổ, tục gọi núi Mèo Cào, thuộc huyện Núi Thành, Quảng Nam. Tu khổ hạnh, tịch cốc, chỉ ăn rau quả, đội mũ mo nang, mang giày cỏ, mặc áo bằng vỏ cây,làm bạn với thú dữ, cây rừng. Tại trường kỳ An Thiện, xã Kỳ Liêu, Tam Kỳ, Quảng Nam, Ngài được tôn lên hàng giới phẩm Hòa Thượng, với biệt danh “Tiên Long Thạch Động, húy Ấn Hướng, thượng Tổ hạ Đồng, Mộc Y Pháp Nhân Hòa Thượng”.
Tương truyền, có thời gian Ngài lên mạn ngược Trà Bồng, giữa đường gặp bà Chúa Ngung Ma Vương điểm đạo, chỉ về hướng Bắc huyện Bình Sơn, nơi có Thạch Động dành sẵn cho Ngài tu hành. Rồi Ngài tu theo Tiên đạo, học pháp Tiên Thiên, thường dùng “Bộ Phi hành” trong Vạn pháp Qui tôn, vân du khắp nơi, áp dụng “Y phương minh” chữa trị cho nhiều người lành bệnh. Tiếp xúc đủ mọi thành phần, hội ngộ cùng chư Tiên trên Non Tòng, thuộc quận Thượng Đức, Quảng Nam. Cảnh Tiên, cõi Phật đã làm cho Ngài say đắm, thế mà mật thám tay sai cho Pháp theo dõi tung tích, bắt Ngài và có lần giải về nhà giam Phủ Thừa (Huế). Nhưng cuối cùng đức thắng tà, quan quyền ở kinh đô cảm nhận ra Ngài là bậc tu hành đạt đạo, họ trả tự do cho Ngài tiếp tục đạo nghiệp sở cầu.
Nhờ vậy, uy tín của Ngài ngày một nâng cao, xa gần đều tỏ lòng sùng kính. Khi tuổi gìa cần được an tịnh bảo dưỡng, Ngài về nguyên quán lập Am Phước Sơn tại địa điểm hôm nay vào năm Canh Tuất (1910). Đến năm Quí Sửu (1913) Ngài viên tịch, pháp thân Ngài được nhập tháp tại khuôn viên Am, có khắc hai câu:
Tịch cốc thần tiên xuân bát vạn
Mộc Y Hòa thượng giới tam thiên
Ngày 25 tháng 8 âm lịch hàng năm là húy kỵ của Ngài. Di tích của Ngài còn lưu giữ tại gian thờ Tổ cây gậy tre đặc ruột và Bảo trượng Kim Cang. Ngày Ngài viên tịch, có một Ni sư, người phủ Thừa Thiên, thuộc dòng quí tộc nhà Nguyễn (em vua Tự Đức), pháp danh Tâm Bảo, phát nguyện cư trú tại am, tu trì kinh kệ trên 20 năm và qui tịch vào năm Kỷ Mão (1939). Thể cốt của Ni sư được vào Bảo Châu tại khuôn viên Am.
Kể từ 1913, gia tộc của Ngài kế tục sự cai quản, từ ông Nguyễn Dư (1913-1975), ông Nguyễn Châu, tức Ba Dê (1975-1978), bà Nguyễn Thị Cháu, tức Cánh (1978-1986). Từ 1986 đến nay, là đích tôn Nguyễn Tấn Thông.
Phước Sơn Am hướng về Đông, trước mặt là cánh đồng lúa và chi lưu sông Trà Bồng. Có diện tích xây dựng 800m2, trong diện tích chung khoảng 3 sào (chưa cấp sổ đỏ). Sân am đặt tượng đài Quan Thế Âm, thềm Am thờ Hộ Pháp. Nội điện phân thành từng gian theo hàng dọc, gian Chánh điện ở trước thờ Bổn Sư Thích Ca, sau lưng thờ Tổ khai sơn Nguyễn Tấn Kỳ, đối diện thờ Quan Thánh, gian giữa thờ Cửu Huyền, và Hậu tẩm gian cuối thờ vong thập phương.
Năm 2000, Am được trùng tu, nâng cao nền cũ, vách gạch, lợp ngói, giàn cột sườn cũ giữ nguyên. Năm 2009, xây dựng thêm nhà khách, nhà túc, xây cổng ngoài vẫn giữ ba chữ “Phước Sơn Am”, gắn cửa sắt, và trải đá đoạn đường vào Am hơn 100m.
Bổn đạo khoảng 50, giữ lệ rằm, mồng một, các ngày lễ Phật.
Nguồn: Lê Vinh Bổn, Khảo cứu nghiên cứu lịch sử phật giáo Việt Nam, Lược Sử Phật Giáo và những ngôi Chùa Quảng Ngãi.