Chùa Quỳnh Lôi (chùa Khánh Long, chùa Quỳnh – Hai Bà Trưng, Hà Nội)

Chùa Quỳnh Lôi (chùa Khánh Long, chùa Quỳnh – Hai Bà Trưng, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Chùa Quỳnh Lôi, tên chữ Khánh Long Tự, tên gọi dân dã là là Chùa Quỳnh, nằm ở ngõ Quỳnh, phường Quỳnh Mai, quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội, Trước đây, chùa thuộc phường Quỳnh Lôi, theo biến đổi về hành chính, hiện nay Quỳnh Lôi đã được sáp nhập với Mai Động để thành phường Quỳnh Mai thuộc quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.

Ngôi chùa là một điểm sáng văn hóa tâm linh nằm cách trung tâm Thăng Long Hà Nội khoảng 4km về hướng Đông Nam.

Lịch sử và nhân vật

Chùa Quỳnh Lôi có thể được xây dựng từ thời nhà Trần, tuy chưa rõ chính xác niên đại nhưng có thể trong khoảng (thế kỷ XIII hoặc XIV). Đến năm Hoằng Định thứ 5 – Giáp Thìn 1604, triều vua Lê Kính Tông, chùa đã được trùng tu lớn, bia do Tiến sĩ khoa Canh Thìn, niên hiệu Đoan Khánh 4 (1508), Hộ bộ Thượng thư, Quốc Tử Giám Tế tửu, Thượng trụ quốc Phùng Khắc Khoan, hiệu Nghi Trai soạn.

Theo tấm bia Trùng tu Long Khánh tự bị ký, niên đại Hoằng Định thứ 7 (1606) có nội dung: “Năm Giáp Thìn (1604), ngày sinh Đức Phật, gọi thợ dựng 1 ngôi tiền đường, 1 đài đốt hương, 1 cổng Tam quan, đắp 2 tượng Hộ pháp, 3 tượng Cô hồn. Ngày 8 tháng 3 năm Bính Ngọ (1607) lại tu sửa 1 nhà tăng, nhà oản, đắp một tượng Phật Thích Ca. Lâu đài ngọc biếc, cảnh tịnh thời nguy nga, hiện thân hoàng kim, nơi trung tâm văn hiến…”.

Vào năm Mậu Thân (1608), chùa chính thức được khánh thành trong không khí long trọng. Buổi lễ có sự hiện diện của Vua Lê Kính Tông, Bình An Vương Trịnh Tùng cùng đông đảo thiện tín, tăng ni, Phật tử từ khắp mọi miền quy tụ về chiêm bái và dự lễ.

Đến đầu thế kỷ XX, vào năm 1909, ngôi chùa không may bị hỏa hoạn thiêu rụi. Tuy nhiên, ngay sau đó, nhân dân và tín đồ địa phương đã nhanh chóng góp công góp của để xây dựng lại chùa trên nền cũ. Từ đó đến nay, chùa liên tục được trùng tu, tôn tạo qua nhiều thời kỳ lịch sử.

Kiến trúc hiện tại của chùa chủ yếu mang dấu ấn nghệ thuật cuối thế kỷ XIX, đồng thời vẫn lưu giữ và đan xen những yếu tố kiến trúc cổ kính từ thời Lê Trung Hưng. Những lần trùng tu đáng chú ý diễn ra vào các năm Duy Tân nguyên niên (1907), Duy Tân năm thứ tư (1910) và các giai đoạn sau đó, thể hiện sự trân quý và gìn giữ không ngừng của các thế hệ hậu thế đối với ngôi chùa linh thiêng này.

Chùa Quỳnh Lôi từng là một trong những cơ sở hoạt động của xứ ủy Bắc Kỳ (1944 1945); các bệ thờ là nơi cất giấu tài liệu; vườn chùa có hầm bí mật nuôi giấu cán bộ, du kích thời kỳ kháng chiến chống thực dân pháp (1946-1947).

Trải qua thời gian được tu bổ và mở rộng, ngày nay ngôi chùa đã trở nên khang trang, có quy mô rộng lớn và kiến trúc bề thế. Đây là chốn tâm linh linh thiêng, đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng và chiêm bái của đông đảo nhân dân, Phật tử thập phương.

Kiến trúc cảnh quan

Ngôi chùa tọa lạc theo hướng Tây Nam. Toàn bộ quần thể kiến trúc hiện nay bao gồm: cổng Tam Quan, điện Tam Bảo, nhà thờ Mẫu, nhà Tổ, Vườn Tháp, Nhà Bia cùng một số công trình phụ trợ khác.

Khuôn viên chùa được quy hoạch hài hòa với nhiều cây xanh và khu vườn rộng thoáng, tạo cảnh quan thanh tịnh. Bao quanh chùa là khu dân cư sinh sống lâu đời thuộc phường Quỳnh Lôi.

Tam Quan

Tam quan chùa Quỳnh Lôi là một công trình kiến trúc bề thế và nổi bật, được thiết kế hai tầng, các góc đao cong vút mềm mại. Tầng 1 gồm ba cửa vòm đồ sộ, dựng trên nền cao hơn mặt đường với hệ thống bậc ngũ cấp dẫn lên. Cửa chính được thiết kế uốn cong hình vòm cung, phần mái bằng đổ bê tông, được trang trí bằng đôi rồng lớn lưỡng long chầu nhật. Hai bên là hai trụ kiểu dáng lồng đèn, phía trên đỉnh có tượng nghê chầu uy nghi.

Tầng hai chia thành ba gian, mái lợp ngói, hai góc mái gắn hình con kìm, riêng gian giữa nổi bật với thiết kế hai tầng mái và phần gác chuông vươn cao. Trên mặt tiền tầng hai có đắp nổi chữ Hán. Nổi bật với phần gác chuông được tạo tác kỹ lưỡng, trang trí bằng họa tiết con kìm, vân mây tinh xảo, thể hiện sự công phu trong tạo tác.

Hai bên Tam Quan là hai cổng phụ nhỏ, kết nối liền mạch với công trình chính. Mỗi cổng phụ gồm hai tầng mái, mái lợp ngói mũi hài, phần thân cột có khắc câu đối chữ Hán, mái trang trí vân mây mềm mại. Đây là cổng phụ là lối đi thường ngày của Phật tử.

Nối liền từ hai cổng phụ là hệ thống tường lửng bao quanh khuôn viên chùa, tạo ranh giới với không gian thờ tự bên trong.

Tam Bảo

Bước qua Tam quan là khoảng sân chầu rộng, lát gạch đỏ truyền thống, được trồng nhiều cây xanh và chậu cảnh, tạo không gian khoáng đạt và thanh tịnh cho người hành hương.

Khu Tam Bảo được xây theo kiến trúc hình chữ Đinh (丁), gồm hai phần: Tiền Đường và Hậu Cung. Tiền Đường gồm 5 gian, kết cấu kiểu vì chồng rường giá chiêng kết hợp với kẻ chuyền, đây là một kiểu kiến trúc phổ biến ở các ngôi đình cổ truyền Việt Nam. Từ các đầu cột, hệ kẻ chuyền nhô ra thành các đầu dư, được chạm khắc với các hình trang trí như lá lật, mây, hoa quả thiêng.

Bên trong Tiền Đường đặt các tượng thờ như: Đức Ông, Thánh Hiền, và hai pho tượng Hộ Pháp Khuyến Thiện – Trừng Ác ngồi trên lưng mãnh sư. Đây là hai pho tượng lớn, có tạo hình oai vệ trong trang phục võ tướng, áo giáp trụ đầy đủ. Đặc biệt, đây là hai pho tượng lớn duy nhất còn lại sau trận hỏa hoạn do thực dân Pháp gây ra năm 1909.

Hậu Cung nối với gian giữa Tiền Đường, gồm 3 gian chạy dọc về phía sau, cũng theo kiểu kết cấu chồng rường, phía trước là một cốn lớn bao kín toàn gian. Chính giữa cốn đắp nổi hình hổ phù lớn, hai bên là đôi rồng vần. Bên trong Hậu Cung là hệ thống tượng Phật được bài trí trang nghiêm trên các bệ thờ bao gồm: Ba pho Tam Thế Phật được đặt ở vị trí cao nhất, ngồi kiết già trên tòa sen, tay kết ấn thiền định, Tượng A Di Đà được tạc lớn nhất, cao khoảng 2 mét, tọa trên đài sen cao, hai bên là tượng Quan Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát,..

Trong đó, có pho tượng Hậu, được tạo dáng Trịnh Tạc, con trai của Ngạn Quận công Trịnh Đỗ, người có công lớn trong đợt trùng tu chùa vào năm 1606. Công đức này được Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan ghi lại bằng những lời ca ngợi trong văn bia cổ.

Đẹp thay cảnh Quỳnh Lôi!

Chùa mang tên Long Khánh

Cảnh là cảnh chùa chiền

Trời là trời Đâu suất

Thờ Phật sửa ngôi chùa

Họ Trịnh dòng tôn thất

Nền nếp nguy nga thay!

Khu chùa thanh tịnh thật

Đàn xuân hoa dâng đầy

Cửa thiền trái cúng đặt

Tòa tam bảo sáng ngời

Muôn năm cầu chúc Thánh

Chùa Nhà vua sống lâu

Cơ đồ mãi vững chắc

Dựng tấm bia công đức

Sánh ngang với đất trời.

Nhà Bia

Bên trong khu sân chầu, ngay sau Tam Quan, nổi bật một tòa kiến trúc dạng phương đình, đây là Nhà Bia gồm hai tầng, tám mái với mặt bằng hình vuông cân xứng. Bốn mặt của phương đình được thiết kế thoáng mở, không xây tường, tạo nên vẻ thanh thoát, khoáng đạt. Toàn bộ kết cấu được đỡ bằng bốn cột gỗ lớn, trụ lực chính của cả công trình.

Ở trung tâm Nhà Bia đặt một bia đá lớn, nội dung khắc ghi danh sách những người đã có công đức, tín thí trong việc xây dựng, trùng tu ngôi chùa. Bia được đặt trang trọng trên một bệ đá nguyên khối, tạo cảm giác vững chãi và thiêng liêng.

Phần mái gồm hai tầng mái chồng diêm, lợp ngói mũi hài truyền thống. Các góc mái được gắn con kìm, giữa mái đắp nổi hình cuồng lửa, biểu tượng thiêng liêng trong Phật giáo. Đầu đao các mái uốn cong mềm mại, tạo hình đầu rồng, góp phần tăng thêm vẻ sinh động và linh thiêng cho công trình.

Vườn Tháp

Phía sau Tam Bảo là một khu vườn tháp, nơi an nghỉ của chư vị cao tăng, trụ trì đã từng tu hành và gắn bó với chùa Quỳnh Lôi. Khu vườn quy tụ nhiều ngôi tháp mộ cổ kính, được xây dựng với kiến trúc ba tầng uy nghi.

Mỗi ngôi tháp đều được lát gạch đỏ, bên trong lòng tháp đặt bát hương, cùng đồ thờ cúng trang nghiêm, thể hiện lòng tưởng nhớ, tri ân và tôn kính đối với những bậc chân tu đã khuất.

Di vật

Một trong những hiện vật thờ tự tiêu biểu tại chùa là chiếc nhang án đặt ở nhà Mẫu. Nhang án có kích thước 1,54m x 0,78m x 0,96m, được chạm khắc công phu với các kỹ thuật chạm nổi, chạm lộng và chạm thủng. Các họa tiết trang trí phong phú, gồm hoa lá, hổ phù, lá hóa rồng, cánh sen, lá đề, vân mây và lá hóa phượng những mô típ đặc trưng của nghệ thuật điêu khắc thời Lê. Đây là một tác phẩm mỹ thuật có giá trị, vừa mang nét cổ kính, vừa thể hiện kỹ thuật và thẩm mỹ tinh tế của nghệ nhân xưa.

Ngoài ra, hệ thống hoành phi, câu đối trong chùa còn lưu giữ khá đầy đủ, là những tư liệu quý phục vụ cho việc nghiên cứu lịch sử và văn hóa dân tộc.

Xếp hạng

Chùa Quỳnh Lôi đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật theo quyết định số 65 VH/QĐ ngày 16/1/ 1995. 

Ngày 10/ 8/2004, chùa đã được UBND TP Hà Nội ra quyết định số  4950/ QĐ-UB công nhận chùa Quỳnh là di tích lịch sử kháng chiến.

Tài liệu tham khảo

  1. Vũ Ngọc Khánh (2006), Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
  2. Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 2, Nxb Hà Nội.
  3. Sơn Dương, Chùa Quỳnh Lôi, Tạp chí Người Hà Nội, ngày 10/09/202
  4. Thông tin trên Bảng thông tin tại chùa Quỳnh Lôi. 
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)