Tên gọi và vị trí địa lý
Cách trung tâm xã Lạc Thịnh, huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình hơn 5 km, chùa Tác Đức nằm dưới chân núi Khạ heo hút. Như một ngôi nhà ba gian với mái lợp ngói rất đơn sơ, bốn bề bị bao quanh bởi đồi núi cao. Trước ngôi chùa cổ kính có một cây táo dại hơn trăm tuổi, bên cạnh đó là bàn thờ Thánh Mẫu đơn giản, không có mái che. Phía sau chùa là một dòng suối trong mát chảy quanh năm từ trên núi xuống.
Lịch sử và kiến trúc
Dân gian kể lại rằng: Ngày xưa, có hai anh em lên núi đốn gỗ để làm nhà sàn. Khi họ lăn gỗ từ đỉnh núi xuống, bất ngờ nghe thấy một tiếng động lớn vang vọng khắp cánh rừng. Chạy đến nơi, họ thấy một bức tượng Phật bằng đồng đen nằm cạnh cây gỗ. Nhận ra đây là vùng đất thiêng, họ mang báu vật xuống chân núi Khụ Khà và lập am thờ. Am thờ đó chính là chùa Tác Đức ngày nay. Trước đây, chùa tọa lạc trên địa danh Tác Đức, nên người dân trong vùng đã lấy tên địa danh để đặt tên cho chùa.
Ban đầu, chùa chỉ được dựng bằng tranh tre, mái lợp gianh, và thờ duy nhất một cột đá (người Mường gọi là bụt mọc). Mục đích dựng chùa là dùng giáo lý đạo Phật để khuyến thiện, trừ ác, và giáo dục lòng nhân nghĩa. Qua thời gian, ngôi chùa cổ bị hư hỏng do mưa nắng. Đến giữa thế kỷ XX, chùa được dựng lại bằng gỗ, mái lợp ngói. Kiến trúc chùa bao gồm bộ vì và cột làm bằng gỗ lim, các chân cột chôn xuống đất như kiểu nhà sàn của người Mường. Xung quanh chùa được thưng bằng gỗ ván, sàn bằng đất nện. Trong chùa có một ban thờ trên thờ cột đá và các đồ thờ tự khác.
Sau khi hòa bình lập lại, chùa bị mai một theo thời gian, nhiều hiện vật cổ và đồ thờ tự bị hỏng và thất lạc. Đến năm 1990, người dân trong vùng đã đóng góp và xây dựng lại chùa trên nền cũ để làm nơi thờ tự. Chùa có kết cấu kiểu chuôi vồ, gồm nhà tiền đường và thượng điện.
Những câu chuyện linh thiêng
Câu chuyện về sự huyền bí linh dị
Theo lời ông Bùi Văn Phỏn (47 tuổi) – người trực tiếp trông nom ngôi chùa kể lại. Người dân huyện Yên Thủy vẫn truyền tai nhau những câu chuyện về sự linh thiêng và những cái chết bí ẩn của những kẻ dám cả gan ăn trộm đồ vật của chùa. Một cao niên trong làng kể lại: Cách đây hơn 40 năm, chùa bỗng nhiên bị mất một quả chuông cổ bằng đồng đen và một bát nhang bằng đá xanh, có khắc hình hai con rồng chầu nhật nguyệt. Mọi người nghĩ rằng sẽ không bao giờ thấy lại những vật quý giá này nữa. Thế nhưng, vài ba tháng sau, chiếc chuông đồng cổ đột nhiên trở về cùng một người buôn đồng nát. Người này kể rằng: “Tôi mua lại chiếc chuông đồng từ một người đàn ông. Thấy đồ vật quý, tôi định giữ lại trong nhà, nhưng vừa tuần trước tôi nghe tin người bán chiếc chuông cho tôi bỗng dưng chết mà không rõ lý do. Hỏi ra mới biết hắn ăn trộm đồ vật quý của chùa nên mới xảy ra sự tình ấy. Vì vậy, tôi tức tốc đem trả lại, mong quan lang không phạt người vô tình gây tội này.” Một thời gian sau, ông Lóng ở xóm Lạng cũng mang trả chiếc bát nhang bằng đá và xin quan lang tha cho những đứa con vừa bị ngài đày đến mức ngớ ngẩn. Ông Lóng thừa nhận mình thấy chiếc bát đẹp nên đã mang về làm cối giã cua. Ngay khi ông trả lại chiếc bát nhang, những đứa con của ông bỗng dưng khỏi bệnh. Sợ thần Phật trong chùa trừng phạt, cả gia đình ông đã di cư vào khu vực Tây Nguyên, từ đó không ai biết họ sống chết ra sao.
Còn một câu chuyện linh thiêng nữa mà người dân Yên Thủy đều biết đến. Vào khoảng giữa thập kỷ 80 của thế kỷ 20, có hai anh em ruột người Thanh Hóa sang đất Yên Thủy mở nghề lò rèn dao búa. Người anh tên Lân, người em tên Quy. Họ cùng chung lò rèn và gặp thời nên làm ăn phát đạt. Một hôm, người em về quê thăm gia đình, khi quay lại thấy một số lượng dao đã rèn bị mất. Người em nghi ngờ anh trai đã gian dối, đem dao đi bán lấy tiền ăn chơi. Nghe vậy, người anh cãi quyết liệt và khẳng định mình trong sạch. Cuộc cãi vã cuối cùng dẫn đến quyết định đưa nhau lên chùa Tác Đức để thề, rằng nếu ai gian dối sẽ phải chết ngay lập tức. Không ngờ, khi thề xong và về tới nhà, người anh lập tức trút hơi thở cuối cùng. Không rõ cái chết này có phải do linh ứng từ lời thề hay không, nhưng nó đã khiến người dân bàn tán xôn xao. Họ cho rằng người anh dại dột khi dám gian dối và thề độc trước một ngôi chùa linh thiêng như vậy.
Những câu chuyện về sự sám hối và cải tà quy chính
Ông Phỏn cho hay: “Trước đây, có trường hợp ông Bùi Văn Chửng, 65 tuổi, trú tại xóm Sấu, xã Lạc Thịnh. Ông này lỡ ăn cắp 2 chỉ vàng của cô em dâu Bùi Thị Chủm. Cô em dâu biết chính anh chồng mình lấy nên nhẹ nhàng khuyên bảo, nhưng ông Chửng không nhận và một mực nói với em trai rằng, ‘Vợ mày láo quá, mất vàng lại đổ oan cho tao.’ Người em tin lời anh trai, về nhà đã đánh vợ một trận vì cho rằng cô vu oan và chia cắt tình cảm anh em. Người vợ thấy oan ức nên tìm đến chùa giãi bày. Không ngờ, hôm sau, ông Chửng với một tay băng bó, một tay cầm tiền sang trả.
Một trường hợp khác ở xóm Khả, xã Lạc Thịnh cũng có câu chuyện tương tự với gia đình ông Bùi Văn Tỉ (52 tuổi). Em trai của ông Tỉ cho biết: “Ngày trước, anh trai tôi thường lười biếng và có thói trộm vặt. Nhân lúc nhà tôi không có ai, ông ấy đã lấy một bao lúa gần 50 cân. Khi thấy thiếu lúa, tôi hỏi cả nhà nhưng không ai nhận mang đi bán. Để giữ tình cảm anh em, tôi cũng không dám hỏi anh ấy. Không ngờ một tuần sau, anh Tỉ sang và nói tôi lên chùa Tác Đức để xin quan ngài đừng phạt anh ấy nữa. Anh trai tôi còn xin quan lang trừ bỏ thói trộm cắp. Tính đến nay, đã 10 năm anh ấy không quay lại con đường cũ và giờ chịu khó làm ăn lắm rồi.”
Có lẽ do sự linh ứng của ngôi chùa mà không ít những trường hợp bố – con, vợ – chồng, anh – em… lên chùa để sám hối và hứa sẽ không tái phạm những thói xấu như dối trá, lừa lọc, và trộm cắp. Sự linh nghiệm của chùa còn giúp cho các mối quan hệ gia đình, hàng xóm láng giềng thêm gắn bó khăng khít. Điều đáng ngạc nhiên nhất là khu vực xã Lạc Thịnh gần như không còn tệ nạn trộm cắp. Những câu chuyện về sự linh nghiệm của chùa Tác Đức có phần nhuốm màu tâm linh, nhưng nếu vì cái “uy” của chùa mà tệ nạn trộm cắp và những thói dối trá, lừa lọc không còn nữa thì cũng là một điều đáng mừng. Một cụ cao niên nhận xét: “Tác Đức là một cổ tự nổi tiếng, được nhân dân quanh vùng sùng kính với những câu chuyện linh thiêng. Nếu người dân nào cũng biết trông vào ngôi chùa để ‘cải tà quy chính’, gìn giữ cho cái tâm trong sạch thì xóm làng sẽ không còn bóng dáng ‘đạo tặc’ nữa, và cuộc sống của họ sẽ thêm thanh thản, yên bình.
Xếp hạng
Năm 2016, chùa Tác Đức được cấp bằng xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Chùa đã góp phần tích cực trong việc duy trì và củng cố mối quan hệ xóm giềng làng xã, đồng thời làm phong phú thêm đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân địa phương. Hàng năm, vào các dịp lễ Phật Đản, Vu lan báo hiếu, đầu năm…, chùa Tác Đức thu hút nhiều phật tử. Thiện nam, tín nữ trong và ngoài tỉnh đến lễ Phật, cầu bình an, cầu cho quốc thái dân an, dân khang vật thịnh.
Gần đây, UBND tỉnh đã phê duyệt Dự án tu bổ, tôn tạo di tích lịch sử văn hóa chùa Tác Đức tại xã Lạc Thịnh, huyện Yên Thủy. Mục tiêu của dự án là giữ gìn và phát huy giá trị của di tích, tạo điều kiện thu hút khách tham quan, định hướng công tác quản lý Nhà nước về tín ngưỡng theo quy định, bài trừ các hủ tục mê tín dị đoan, và góp phần phát triển kinh tế-xã hội của địa phương. Tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 25 tỷ đồng, được huy động từ nguồn vốn xã hội hóa và các nguồn vốn hợp pháp khác, triển khai từ năm 2022 đến 2026. Khi công trình hoàn thành, chùa sẽ trở thành một di tích có giá trị quý báu trong việc giáo dục và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp tục thu hút đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh đến hành hương.
Tham khảo
Linh Trang, “Tôn tạo di tích chùa Tác Đức đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa, tâm linh của người dân”, Báo Hòa Bình điện tử, ngày 14/05/2022 https://www.baohoabinh.com.vn/16/165902/Ton-tao-di-tich-chua-Tac-Duc-dap-ung-nhu-cau-sinh-hoat-van-hoa,-tam-linh-cua-nguoi-dan.htm