Chùa Tăng Phúc (Thanh Hoá)

Chùa Tăng Phúc (Thanh Hoá)

Chùa Tăng Phúc thuộc thôn Hạc Oa, xã Đông Cương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Làng Hạc Oa xưa còn được gọi với cái tên là Thổ Sơn hay Đông Thổ tồn tại cách nay hàng ngàn năm. Qua các tài liệu khảo cổ học cho biết: “Từ khoảng hơn ba ngàn năm trước, vùng đất thung lũng trước núi Thổ Sơn là địa bàn cư trú của con người trong giai đoạn Đông Khối”.

Tên gọi

Vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, vùng đất này có tên gọi là làng Thổ Sơn, xã Đông Sơn, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên, trấn Thanh Hóa. Bia Hậu Phật bi kýHậu Thần bi ký đều ghi rõ tên hai địa danh trên.

Đầu thế kỷ thứ XIX, cùng với việc dời trấn thành từ làng Giàng (tức làng Dương Xá) về làng Thọ Hạc thì vùng đất Thổ Sơn được đổi tên thành làng Hạc Oa (tức tổ con chim Hạc). Có lẽ tại vùng đất này là nơi cư trú của nhiều loài chim, cò nên được đặt tên là Hạc Oa. Hình ảnh con cò – con hạc được gắn với một vùng đất tạo nên sự sinh động và gần gũi với dân gian, con người và thiên nhiên của một vùng đất mang đậm nét làng quê của xứ Thanh. Như vậy, Thổ Sơn – Đông Thổ – Hạc Oa là các tên gọi khác nhau của vùng đất này qua các giai đoạn lịch sử cho đến ngày nay.

Quá trình hình thành

Về quá trình xây dựng chùa, cho đến nay chưa có tài liệu nào cho biết chính xác chùa được xây dựng vào năm nào. Theo các cụ cao niên trong làng thì chùa được xây dựng vào đời vua Lê Thần Tông, niên hiệu Dương Hòa (1635 – 1643). Ban đầu chùa được xây dựng ngay ở đầu làng, vào năm Cảnh Hưng thứ 32 (1771) thì được chuyển xuống sườn núi như ngày nay.

Tuy nhiên, theo tấm bia “Hậu Phật bi ký” hiện còn lưu giữ trong chùa có ghi lại sự kiện: “Ông là Lê Huy Vạn cùng vợ là người họ Nguyễn không có con, vì tấm lòng hướng mộ đạo Phật và để tưởng nhớ tới tổ tiên nên đã xuất tiền, ruộng cúng cho chùa và lo việc tế tự hương hỏa đời đời…”. Về địa danh, bia “Hậu Phật bi ký” ghi: “Thiệu Thiên phủ, Đông Sơn huyện, Đông Sơn xã, Thổ Sơn thôn, Tăng Phúc tự” tức (Chùa Tăng Phúc ở thôn Thổ Sơn, xã Đông Sơn, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Thiên).

Qua sự kiện này ta có thể khẳng định được niên đại chính xác nhất về việc xây dựng chùa Tăng Phúc là vào khoảng năm Cảnh Hưng thứ 36 (1775).

Chùa được xây dựng trên sườn núi Thổ Sơn, mặt ngoảnh về hướng nam. Địa thế và cảnh quan của chùa rất uy nghi, bề thế và thoáng mát.

Căn cứ vào các di vật như: hệ thống móng, chân tảng còn lại ngày nay quanh khu vực khuôn viên chùa chúng ta biết được chùa trước kia được xây dựng kiểu chữ Đinh hay còn gọi là kiểu chuôi vồ, gồm có Tiền đườngHậu cung. Điều này cho chúng ta một căn cứ để khẳng định ngôi chùa này có niên đại vào cuối thế kỷ XVIII, vì kiểu kiến trúc chuôi vồ chỉ xuất hiện trong giai đoạn này ở các di tích tôn giáo như: đình, đền, chùa…

Mặc dù sau này bị phá hủy chỉ còn lại nền móng, chân tảng, cột đá, con giống và bi ký nhưng chúng ta vẫn thấy được quy mô kiến trúc của Di tích này là khá to lớn.

Từ dưới chân núi, theo hàng chục bậc thang chúng ta mới có thể lên đến khu vực chùa chính. Từ đây, chúng ta có thể đưa mắt quan sát được toàn cảnh quanh khu vực chùa và bao quát được cả thành phố Thanh Hóa.

Ngay phía trước cổng chùa, dưới chân núi về phía hữu là cây đa cổ thụ hàng trăm tuổi xòe tán che mát cho cả khu vực trước cổng chùa. Bên cạnh còn có giếng nước của làng xưa. Điều đó cho chúng ta một nhận định rằng nơi đây không chỉ là nơi sinh hoạt văn hóa tâm linh của người dân làng Hạc Oa nói riêng và nhân dân quanh vùng nói chung mà đây còn là nơi sinh hoạt cộng đồng của cư dân làng Hạc Oa.

Di tích lịch sử

Vào những năm 1964 – 1972, trong cuộc kháng chiến chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ, làng Hạc Oa cũng là một trong những trọng điểm bắn phá của Mỹ. Lúc này, chùa Tăng Phúc là một hậu phương vững chắc của mặt trận Hàm Rồng – Nam Ngạn. Tại đây hàng trăm lượt thương binh, bộ đội, dân quân đã được các Tăng ni, Phật tử chăm sóc khi bị thương. Đặc biệt, tại chùa Tăng Phúc, theo tinh thần hướng thiện, đã có 4 thanh niên hiến máu cứu thương cho những thương binh bị thương trong khi chiến đấu được đưa về điều trị tại chùa. Nhiều chiến sĩ hy sinh anh dũng được nhà chùa cùng nhân dân nơi đây đưa về an táng chu đáo. Chính trong thời kỳ này, vào tháng 4 năm 1972, chùa Tăng Phúc đã bị bom Mỹ ném trúng và sập .

Ngoài ra, theo các cụ cao niên làng Hạc Oa thì chùa Tăng Phúc còn là nơi thờ cụ Nguyễn Văn Cung (tức Đội Cung), một chiến sĩ yêu nước thời chống Pháp.

Ngày nay chùa Tăng Phúc đã được khôi phục lại với quy mô kiến trúc bề thế và khang trang phục vụ đời sống văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng của người dân nơi đây cũng như nhân dân quanh vùng.

Năm 2001, chùa được khôi phục lại trên khuôn viên phía sau nền móng của chùa cũ với tổng diện tích 1444m2. Ngày nay tổng diện tích khuôn viên chùa là 2.500m2. Chùa chính được làm theo mô hình chùa Tây Phương, lối kiến trúc cổ, bê tông giả gỗ, các vì kèo được kết cấu theo kiểu chồng rường bát đấu. Năm 2004, chùa chính được hoàn thành.

Kiến trúc

Chùa chính được xây dựng theo kiểu chữ Đinh gồm có Tiền đườngHậu cung (Thượng điện). Chùa quay mặt về hướng tây. Tiền đường là một ngôi nhà gồm 5 gian, hai chái tường hồi bít đốc với tổng diện tích là 119m2. Đi từ ngoài vào ta gặp cổng Tam quan với hai cột nanh và bốn cột trụ. Hai cột lớn cao 9,5m, bốn cột nhỏ mỗi cột cao 7m. Phía trên là gác chuông được đỡ bởi 4 cột trụ. Tiếp đến là sân chùa được lát bằng gạch bát có diện tích là 147m2 với chiều rộng là 7m, dài 21m. Tiếp đến, ngay trước chùa chính hai bên là hai lối vào, ngay phía trước chính giữa chùa chính là một hồ nước tượng trưng, giữa hồ nước có một chiếu trời được chạm khắc đôi rồng chầu nguyệt cùng vân mây. Hai bên lan can là đôi rồng cách điệu được chạm khắc xen lẫn những áng vân mây.

* Tiền đường: Là một ngôi nhà gồm 5 gian với 8 mái chồng diêm, mái được lợp bằng ngói mũi hài. Rầm và xà được làm bằng bê tông cốt thép, các vì kèo trốn được làm theo kiểu hiện đại mái vòm bê tông, không có trang trí.

Hai bên là tượng Hộ pháp, bên phải là pho tượng Khuyến Thiện, tay phải cầm ngọc minh châu, tay trái chống nạnh, bên trái là pho tượng Trừng Ác, tay trái cầm núi Tu Di, tay phải chống nạnh.

Hai gian trái của nhà Tiền đường, bên phải thờ tượng Đức Ông ngồi theo thế song thất trong khám, đầu đội mũ cánh chuồn. Bên trái thờ tượng Thánh Tăng.

Nằm phía trước chùa chính về phía bên trái từ ngoài vào là nhà Tổ. Phía trước nhà Tổ có một lối lên xuống, hai bên lan can của lối lên xung có một đôi nghê chạm khắc cách điệu.

Tầng 1 là nơi thờ Tổ Tây, vị tổ đời thứ 28 tính từ Phật Thích Ca, hai bên là tượng thị giả đang đứng, hai tay kết ấn hợp chưởng. Trong cùng là bức phù điêu được làm bằng gỗ sơn son thếp vàng thể hiện quá trình đi truyền giáo của Đạt Ma vào các nước phương Đông.

Tầng 2 là nơi thờ vị sư Tổ khai sáng truyền thừa đời thứ 13 của chùa.

Tầng thứ 3 là nơi đặt hương án.

Tất cả cửa võng, hoành phi, câu đối ở đây đều được sơn son thếp vàng và chạm khắc hình rồng, mây, hoa lá. Cấu kiện khung gỗ được làm toàn bộ bằng gỗ táu. Vì kèo được chạm khắc hình rồng cách điệu cùng vân mây hoa lá. Các đấu chạm khắc hình hoa sen, con rường chạm khắc hình rồng mây.

* Thượng điện (Hậu cung): Là ngôi nhà gồm 3 gian, 2 vì kèo gỗ tường hồi bít đốc.

Tầng trên cùng giáp nóc mái, là nơi đặt tượng Tam Thế đang trong tư thế Thiền định.

Tầng 2 là tượng Thích Ca chuyển pháp trong tư thế Thiền định, tay phải bắt ấn chuyển pháp luân tức đang thuyết pháp để giáo hóa chúng sinh. Tượng cao 3m.

Tầng 3 là lớp tượng Di Đà tam tôn ngồi chính giữa đang bắt ấn Thiền định, bên phải là tượng Quan Âm tay phải cầm hoa sen, bên trái là tượng Thế Chí cao 1,2m tay trái cầm ngọc như ý, mình mặc áo cà sa buông hờ vai phải.

Tầng 4 là tượng Quan Âm Chuẩn Đề (Phật nghìn tay nghìn mắt), hai bên là Kim Đồng và Ngọc Nữ đang bê kinh sách.

Tầng 5 ở giữa là tòa Cửu Long (Phật sơ sinh có chín rồng đang phun nước tắm cho Phật), mô tả Phật sơ sinh đứng trên đài sen, một tay chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất với ý rằng: Trên trời dưới đất, chỉ có Phật trong ta là tôn quý. Tượng cao 1,2m. Hai bên có tượng Văn Thù đang cưỡi voi trắng, tay trái cầm hoa sen ở bên phải và Phổ Hiền bên trái đang cưỡi voi trắng, tay phải cầm hoa sen.

Tầng 6, là nơi đặt hương án, phía dưới hương án là bệ tụng kinh.

* Nhà Mẫu: Là ngôi nhà được xây dựng năm 1998, đến năm 2006 được trùng tu lại theo hình chữ Đinh bao gồm Tiền đường Hậu cung. Tiền đường bao gồm 3 gian, tường hồi bít đốc với 4 bộ vì kèo, hai chếnh và bốn hàng cột cái. Cột cái ở đây được làm theo kiểu trốn cột quân. Vì kèo được kết cấu theo kiểu chồng rường bát đấu. Các con rường được chồng lên nhau bằng các đấu hình hoa sen. Mái được làm theo kiểu hiện đại với 2 mái và được lợp bằng ngói mũi hài.

Từ năm 1998, nhà Mẫu cũng là chùa chính. Năm 2004, khi chùa chính được xây dựng xong thì tượng, đồ thờ được tách ra và chuyển lên chùa chính.

Phần Hậu cung của nhà Mẫu được chia làm hai ngăn, bên trong là cung cấm thờ Tam tòa Thánh Mẫu (Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải Cung). Hai bên là chầu Quỳnh đang bê kinh sách và chầu Quế bê tiên tửu đứng hầu. Ba pho tượng Thánh Mẫu trên bệ của khám thờ, miệng mỉm cười, mắt nhìn xuôi, người ngồi giữa mặc áo đỏ tượng trưng cho Mẫu Thượng Thiên, tượng phía bên phải mặc áo trắng tượng trưng cho Thoải Phủ (Mẫu Thoải), tượng bên trái mặc áo xanh tượng trưng cho Mẫu Thượng Ngàn. Ba pho tượng có kích thước bằng nhau với chiều cao là 85cm.

Phía ngoài cung cấm: Tầng 1 là nơi thờ Ngọc Hoàng ngồi trong thế song thất, đầu đội mũ bình thiên, hai tay cầm thẻ bài giơ trước ngực. Hai bên là Nam Tào và Bắc Đẩu cũng ngồi trong thế song thất. Tầng 2 là nơi thờ Ngũ vị Tôn Ông đang ngồi trong thế song thất, đầu đội mũ cánh chuồn, khuôn mặt mỗi người một vẻ. Người thì nghiêm nghị, người thì mắt quắc lên, người đang mỉm cười…

* Tiền đường: Gian giữa, là nơi đặt ngai thờ Thành hoàng.

Gian bên phải thờ Mẫu Thượng Ngàn ngồi trong khám ở thế song thất. Gian bên trái thờ Đức Thánh Trần cũng ngồi trong thế song thất, đầu đội mũ kim khôi.

Nhìn chung, tượng ở đây đa dạng và phong phú cả về loại hình. Tượng được tạo tác mới hoàn toàn, các tượng được làm bằng gỗ mít và sơn son thếp vàng…

Ngoài ra tất cả các hoành phi, câu đối, cửa võng ở đây đều được sơn son thếp vàng, chạm khắc hình rồng, mây, hoa lá.

Tọa lạc ở một vị trí, trước mặt là trục đường liên thôn thuộc vùng đồng bằng của tỉnh Thanh Hóa. Chùa Tăng Phúc là di tích có nhiều giá trị về mặt lịch sử, văn hóa, tín ngưỡng tôn giáo, một nét văn hóa tâm linh của người phương Đông nói chung và người Việt Nam nói riêng. Đây cũng là một trong những trung tâm tôn giáo, tín ngưỡng của người dân quanh vùng đất này.

Tóm lại với những di vật, chứng tích hiện còn cho đến nay của làng Hạc Oa thì đây chính là những cơ sở tư liệu phong phú cho các nhà nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực. Đây là những tư liệu có giá trị phản ánh trực tiếp giúp các nhà nghiên cứu đánh giá khách quan về một vùng đất cũng như con người nơi đây.

Mặc dù trải qua nhiều thăng trầm, biến cố, sự biến thiên của lịch sử và chiến tranh nhưng Hạc Oa hôm nay vẫn giữ được trong lòng nó nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa... quý báu của cha ông để lại.

Ngày nay khi đất nước đang trong giai đoạn đổi mới và phát triển thì các giá trị về lịch sử và văn hóa nơi đây càng có giá trị trong việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa của dân tộc.

Ngày 17 tháng 06 năm 1999, chùa Tăng Phúc đã được Nhà nước xếp hạng Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị quý báu mà nó đang lưu giữ.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập I), CN. Lê Văn Viện
Chấm điểm
Chia sẻ
Chua-Tang-Phuc-Thanh-Hoa (8)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926