Chùa Thiên Khánh (Hà Trung, Thanh Hoá)

Chùa Thiên Khánh (Hà Trung, Thanh Hoá)

Cao Lũng là gọi tên chùa theo tên làng Cao Lũng, chùa có tên chữ là Thiên Khánh tự. Cao Lũng là một trong 4 làng của xã Hà Dương ngày nay, gồm có: Cao Lũng, Đoài Thôn, Đông Thôn và Thổ Khối. Mảnh đất Cao Lũng hình thành trên dải đất do sự bồi tụ bởi sông Hoạt và sông Chiếu Bạch tạo thành dải đất cao và những hón, đầm thấp nên những cư dân đến đây khai canh lập ấp đầu tiên đã đặt tên cho làng mình là Cao Lũng. 

Lược sử

Theo một số tài liệu cho biết, thì làng Cao Lũng có từ thời Tiền Lê, tức Lê Đại Hành (980 – 1005). Từ đầu thế kỷ XIX đến trước năm 1945, thôn Cao Lũng thuộc tổng Phi Lai, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung. Sau Cách mạng Tháng 8, thuộc xã Nguyễn Huệ, huyện Hà Trung. Từ năm 1946 đến năm 1954, vùng đất này thuộc xã Thái Lai, huyện Hà Trung. Theo chủ trương của cấp trên để tạo điều kiện thuận lợi cho việc quản lý địa bàn và phát triển kinh tế xã hội thì thôn Cao Lũng, xã Thái Lai được sáp nhập với một phần dân cư của địa bàn xã Hoạt Giang thành lập nên xã Hà Dương (bao gồm các thôn: Cao Lũng, Đoài thôn, Đông thôn, Thổ Khối, thôn Trạch Lâm, thôn Bỉm Sơn, thôn Cẩm La, thôn Phú Dương, thôn Cổ Đam). Từ năm 1954 đến năm 1977 xã Hà Dương thuộc huyện Hà Trung. Thời kỳ (1977 – 1982), xã Hà Dương thuộc huyện Trung Sơn (vì thời kỳ này hai huyện Nga Sơn và Hà Trung được sáp nhập thành huyện Trung Sơn). Từ năm 1982 đến nay, Hà Dương trở về với huyện Hà Trung.

Sách Đại Nam nhất thống chí, miêu tả như sau: “Núi Tam Điệp cách huyện Tống Sơn 21 dặm về phía bắc, mạch núi từ huyện Thạch Thành kéo đến, liên tiếp chạy ngang, suốt cả bãi biển, giữa có đường quan thông qua, là cổ họng giữa bắc nam. Có ba ngọn nên gọi là Tam Điệp, ngọn giữa rất cao, tức là chỗ địa giới giữa Thanh Hóa và Ninh Bình, đứng ở đỉnh núi này trông ra ngoài biển, buồm thuyền như lá tre, hai ngọn ở phía tả hữu hơi thấp và bằng, năm Thiệu Trị thứ ba, xa giá tuần du phương bắc, có làm thơ khắc vào đá, dựng nhà bia ở ngọn giữa”.

Địa lý

Dòng Tống Giang cổ bắt nguồn từ khe Văn Bảo (thuộc huyện miền núi Thạch Thành ở phía tây) chảy qua địa phận Hà Dương, hợp lưu với hệ thống sông Hoạt, sông Luông Khê, tạo nên một mạng lưới giao thông đường thuỷ đông tây nam bắc. Còn ngày nay, Quốc lộ 1A và đường sắt thống nhất xuyên Việt được làm dưới thời Pháp thuộc chạy từ Bắc vào Nam, nối hai đầu đất nước qua địa phận xã Hà Dương trên đoạn đường khoảng 3 km. Những hệ thống giao thông này rất thuận lợi cho giao lưu kinh tế và văn hóa với các vùng khác.

Với một vị trí địa lý như vậy, Hà Dương nói chung và Cao Lũng nói riêng nằm ở một vị trí hết sức lợi hại cả về thế công lẫn thế thủ. Chính vì thế mà trong những chặng đường của lịch sử dân tộc, mảnh đất Hà Dương đã từng chứng kiến những sự kiện quan trọng của đất nước: Vào thế kỷ XVIII, trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Thanh của người anh hùng áo vải cờ đào Nguyễn Huệ, Hà Dương được chọn là mảnh đất để nghĩa quân dừng chân đóng đồn trại ở phòng tuyến Tam Điệp – Biện Sơn. Hà Dương cũng là một trong những địa danh nằm trên tuyến giao thông huyết mạch, nên cũng từng bị đánh phá ác liệt, chịu đựng nhiều bom đạn của giặc Mỹ, nhưng cũng là mảnh đất anh hùng… 

Đặc biệt, cách đây hơn bảy thế kỷ, nhà quân sự tài ba Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai (1285), khi ở vào thế nguy cấp, ông đã mưu trí, quyền biến tổ chức cuộc rút lui tài tình từ Thiên Trường (Nam Định) vào Thanh Hóa. Trong cuộc rút lui đầy nguy hiểm đó (vì quân Nguyên truy đuổi ráo riết), chính Trần Quốc Tuấn là người được triều đình nhà Trần tin cậy giao trọng trách bảo vệ và đưa hai vua đi lánh nạn. Ông đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được uỷ thác, đưa các vua Trần vào Thanh Hóa và chọn Hà Dương làm địa điểm lui binh chiến lược, ngày đêm tập luyện binh sĩ, tích trữ quân lương, chờ đợi thời cơ. Đến Tháng 5 năm 1285, Hưng Đạo vương và vua Trần nhận thấy thời cơ phản công đã đến, Trần Hưng Đạo cùng các tướng lĩnh kéo quân ra Bắc, làm nên chiến thắng Tây Kết, Hàm Tử, Chương Dương… đưa cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông lần thứ hai đến thắng lợi hoàn toàn.

Ngày nay, làng Cao Lũng trải dài và liền kề với sông Hoạt ở phía bắc; phía tây giáp làng Yên Xá xã Hà Yên; phía nam giáp làng Phú Vinh xã Hà Bình; phía đông giáp làng Yên Mạo xã Hà Vân. Nằm ngay cạnh con sông Hoạt – là một trong những tuyến giao thông đường thuỷ quan trọng của huyện Tống Sơn xưa và Hà Trung ngay nay, nên làng Cao Lũng có điều kiện để phát triển kinh tế, giao thương hàng hóa và đánh bắt thuỷ sản nước ngọt mà dòng sông mang lại. Cùng với hệ thống núi đồi bao bọc, Cao Lũng lại được phù sa sông bồi đắp nên đất đai phì nhiêu màu mỡ, chính vì thế mà mảnh đất này đã có sức hấp dẫn rất lớn đối với những cư dân nông nghiệp lúa nước. Bởi thế mà từ nhiều vùng miền (chủ yếu là miền Bắc) như các dòng họ: Lý, Phạm, Trịnh, Vũ, Nguyễn, Đỗ, Đặng, Lê, Trương, Mai, Bùi, Đinh, Tạ, trong đó họ Lý đã về đây sinh cơ lập nghiệp từ rất sớm, hình thành nên làng xóm dân cư đông đúc. 

Quá trình làm ăn sinh cơ lập nghiệp, cư dân làng Cao Lũng đã tạo dựng nên những nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng đó là các công trình kiến trúc văn hóa như đền, phủ… trong đó có chùa Cao Lũng.

Không gian kiến trúc

Theo tài liệu Lịch sử làng Cao Lũng, được Ban Cán sự của làng Cao Lũng biên soạn; Lịch sử Đảng bộ xã Hà Dương và những dấu tích còn lại cho biết: 

Chùa Cao Lũng tọa lạc trên khuôn viên đất đai cao ráo, thoáng đãng ở vị trí đầu làng nhìn về hướng tây nam. Với diện tích đất đai gồm 3 mẫu, trong đó một mẫu đất nhà chùa dùng để canh tác, trồng cấy lương thực và trồng các loại cây thuốc nam chữa bệnh cho bà con lối xóm; hai mẫu đất còn lại là đất thuộc khuôn viên chùa gồm có các công trình kiến trúc chùa, phủ và đền, xung quanh là những cây cổ thụ xum xuê, tỏa bóng che mát cho cả khuôn viên rộng lớn của chùa.

Trước đây chùa được xây dựng theo kiểu chữ Đinh (J), gồm ba gian tiền đường và một gian hậu cung. Tiền đường được kết cấu bởi 4 vì kèo gỗ, làm theo kiểu vì kèo truyền thống của người Việt, rui, mè, đòn tay được làm bằng gỗ và luồng, mái được lợp bằng ngói mũi và liệt bên trong; Hậu cung được làm theo kiểu cuốn vòm, trên mái lợp (dán) ngói mũi.

Quá trình hình thành

Về quá trình hình thành của chùa Cao Lũng

Theo tài liệu Địa chí huyện Hà Trung cho biết: dưới thời Lý, vào khoảng đời vua Anh Vũ Chiêu Thắng (1076 – 1084), có trưởng lão tên là Sùng Tín (tức là Mãn Giác thiền sư) thầy học đạo Thiền của vua Lý Nhân Tông và mẫu hậu Ỷ Lan, vào quận Cửu Chân (Thanh Hóa) mở mang giáo hóa, được Thái uý Lý Thường Kiệt tổng trấn Thanh Hóa cùng đến núi Ngưỡng Sơn xây dựng chùa tháp để hoằng dương Phật pháp. 

Như vậy, ngay từ thời Lý, Phật giáo đã được du nhập vào Cửu Chân (Thanh Hóa) nói chung và Tống Sơn (Hà Trung) nói riêng. Lúc này, đạo Phật tuy xuất thế mà vẫn nhập thế, nó không chỉ là đời sống tâm linh, tự chăm sóc phần hồn mà nó tích cực gia nhập vào việc hộ quốc an dân, cho nên được chính quyền và nhân dân thời kì bấy giờ tích cực đón nhận. Bởi thế, suốt thời kỳ Lý – Trần, Phật giáo đã trở thành Quốc giáo. Nói về việc này, Sử thần Lê Văn Hưu trong sách Đại Việt sử ký toàn thư đã có lời bàn: “dân chúng quá nửa làm sãi, trong nước chỗ nào cũng có chùa”… 

Trong bối cảnh đất nước nói chung, Hà Trung nói riêng, các làng xã đã thi nhau dựng chùa, đúc chuông, tô tượng và có lẽ chùa Cao Lũng cũng được ra đời trong thời kỳ đó, do công sức và tiền đóng góp của bà con dân làng xây dựng nên. Bởi thế chúng ta mới có câu tục ngữ “đất vua chùa làng, phong cảnh bụt”. Điều này có nghĩa là trong thời kỳ phong kiến, toàn bộ đất đai trong cả nước đều thuộc quyền sở hữu của nhà vua, còn ngôi chùa là thuộc về cộng đồng làng xã.

Từ đó có thể thấy, việc xây dựng chùa Cao Lũng trước đây cũng được cả làng quan tâm, họ đã chọn được mảnh đất để xây dựng chùa Cao Lũng ở vị trí đầu làng; phía bắc là dòng sông Hoạt bao quanh, phía tây là khoảng không gian mở ra phía trước; phía đông là xóm làng cư trú và phía nam là cánh đồng làng mênh mông xanh mát, xa xa là dãy Hoành Sơn với nhiều ngọn cao thấp, trong đó có đỉnh Đá Hỏa cao nhất được dân làng chọn làm nơi thờ ông tổ của Đạo học và các vị tiên hiền. 

Về niên đại xây dựng chùa Cao Lũng

Qua tìm hiểu tài liệu còn lại, các nhân chứng sống còn lại cũng không ai biết rõ chùa Cao Lũng được xây dựng vào thời gian nào. Các cụ cao niên trong làng hiện nay chỉ còn nhớ được rằng: trước khi bị phá trở về trước, chùa có 4 đời sư tăng trụ trì

Đầu tiên là sư trụ trì Đàm Linh, vị này đến tu ở chùa được thời gian khá dài và đã viên tịch tại chùa. Hiện nay, bà con nhân dân làng Cao Lũng đã xây cất mộ phần của cụ ở nơi cao ráo, thoáng đãng và thường xuyên đến dâng hương thăm viếng. Thứ hai là sư Bắc rồi đến sư Viễn, hai sư này tiếp nối nhau trụ trì và được luân chuyển đi các chùa khác nên hiện nay không rõ tung tích. Thứ tư là đến sư Thìn trụ trì, kéo dài đến những năm 1957-1958 thì chùa bị phá dỡ và sư trở về quê làng Vân Cô lập gia đình. Hiện nay vẫn còn sống và đã 97 tuổi.

Ảnh hưởng của chùa đến đời sống sinh hoạt và tinh thần của người dân nơi đây

Trước kia trong khuôn viên chùa là những cây cổ thụ xanh mát với hàng trăm năm tuổi. Sân chùa trước đây còn có một cái giếng, giếng này có hai mạch nước ngầm chia giếng nước làm hai phần, một bên giếng nước trong và một bên là nước đục, quanh năm không bao giờ hết nước. Những năm hạn hán, các giếng trong làng hết nước thì giếng chùa vẫn là nơi cung cấp nước sinh hoạt cho bà con nơi đây.

Ngoài việc lễ Phật cầu kinh, các sư chùa Cao Lũng trước đây còn bốc thuốc chữa bệnh cứu người. Trong thời kỳ mà bệnh viện, trạm xá, thuốc men còn thiếu thốn, thì sư chùa trở thành thầy thuốc và nhà chùa trở thành nơi chữa bệnh cho bà con nhân dân trong vùng.

Như vậy, chùa Cao Lũng không chỉ là nơi thực hiện các nghi thức Phật giáo của Tăng ni, Phật tử mà còn là nơi sinh hoạt cộng đồng, nơi thể hiện tín ngưỡng tâm linh của bà con nhân dân trong làng ngoài xã. Chính vì thế mà ngôi chùa làng là mái nhà thân thiện, nâng đỡ tâm hồn mỗi người dân nơi đây, điều đó đã ăn sâu vào trong tâm thức của bà con dân làng Cao Lũng. Họ đến chùa lễ Phật không những quan tâm đến giáo lý và lời răn dạy của Đức Phật mà còn muốn được tĩnh tâm, học tập, tiếp thu đạo đức từ bi, bác ái của nhà Phật để sống tốt hơn, hướng tới điều thiện, tránh xa cái ác.

Trải qua nhiều thiên tai và địch họa và những biến cố thăng trầm của lịch sử, ngôi chùa làng Cao Lũng đã bị phá dỡ trong những năm cuối của thập niên năm mươi của thế kỷ hai mươi. Sau đó đất đai được chia cho nhà máy đường xây dựng nhà xưởng; trong kháng chiến chống Mỹ, là nhà máy xay xát gạo và là kho lương thực để tiếp viện cho chiến trường miền Nam. Sau khi hòa bình lập lại, khu nhà kho này bỏ hoang phế. Hiện nay, Ủy ban nhân dân xã đã san ủi thành một khuôn viên đất đai bằng phẳng và đã quyết định cắt cho làng 1000m2 để khôi phục lại chùa làng; bà con nhân dân đã sưu tầm lại được một số chân tảng và đá lan giai là hiện vật cũ của chùa còn sót lại.

Những năm gần đây, do nhu cầu về tín ngưỡng tâm linh của nhân dân địa phương, xuất phát từ giáo lý “từ bi hỉ xả” của đạo Phật và cũng là một nét đẹp trong văn hóa của người Việt, để giáo dục đạo đức cho con cháu, sống chan hòa tình làng nghĩa xóm, anh em thuận hòa, đùm bọc nhau và biết vâng lời thầy cô, có hiếu với ông bà, cha mẹ, làm theo điều thiện, tránh xa tội lỗi… Bà con nơi đây đã chung tay, góp sức làm nên một ngôi nhà nhỏ làm nơi thờ tự. Bên trong, lập bàn thờ để lấy chỗ thờ Phật, cầu mong Đức Phật che chở cho dân làng có cuộc sống bình yên. 

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), ThS. Vũ Thị Hường
5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Chua-Thien-Khanh-Ha-Trung-Thanh-Hoa (5)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926