Chùa Thiên Niên (Hồ Tây, Hà Nội)

Chùa Thiên Niên (Hồ Tây, Hà Nội)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý 

Chùa Thiên Niên, tên chữ là Thiên Niên tự, tọa lạc tại làng Trích Sài, phường Bưởi, quận Tây Hồ, Hà Nội (nay là phường Tây Hồ, Thành phố Hà Nội). Tương truyền, tên chùa gắn với trang Thiên Niên được hình thành vào thời vua Lê Thánh Tông, khi triều đình đưa các cung nữ của vua Trà Toàn (Chiêm Thành) về vùng ven Hồ Tây sinh sống và làm nghề dệt lụa. Bên cạnh đó, nhân dân còn quen gọi đây là chùa Trích Sài theo tên làng hay chùa Bát Tháp theo truyền thuyết về việc hai vị công chúa thời Tiền Lý lập đàn tám tháp để trừ yêu cứu dân.

Lịch sử và nhân vật 

Lịch sử 

Tấm bia Hoàn Long – Trích Sài Thiên Niên tự bi ký (theo bản dịch của Ngô Bách Bộ trong Tuyển tập văn bia Hà Nội, quyển I) niên hiệu Thành Thái, năm thứ 13 (1901) ghi lại truyền thuyết vào thời vua Lý Nam Đế có hai công chúa, cùng một vị Đại tiên đã rước Huyền Chân Đại Đế về trừ cáo chín đuôi ở rừng lim ven Hồ Tây.

Theo đó, khu vực Hồ Tây xưa là rừng lim rậm rạp, có cáo chín đuôi hóa tinh ẩn náu, thường hại người. Vua Lý Nam Đế sai hai công chúa học đạo trừ yêu. Sau ba năm chưa thành, họ sang phương Bắc học thêm, trên đường gặp một vị Đại tiên và được giúp đỡ.

Hai công chúa cùng vị Đại tiên lập đàn tám tháp theo hình Bát trận đồ, rước Huyền Chân Đại Đế chủ trì lễ đàn. Khi pháp đàn diễn ra, cáo tinh hiện hình, bị bắt trói và tiêu diệt. Vua liền cho “… dựng đền ở nơi lập đàn để hai công chúa sớm tối phụng thờ. Đền ở giáp bên hồ, đối diện bờ bên kia cũng lập đền thờ Huyền Trân Đại Đế”.

Theo văn bia Hoàn Long – Trích Sài Thiên Niên tự bi ký, vào thời Lê Thánh Tông (thế kỷ XV), sau chiến thắng Chiêm Thành năm 1471, các cung phi của vua Trà Toàn được đưa về vùng Trích Sài, lập thành Thiên Niên trang. Triều đình cho xây miếu và điện để các cung phi phụng sự và tu hành tại đây. Do vùng đất có sẵn nền chùa cổ và tám tháp phía trước, người xưa đã dời chùa lên vị trí cao hơn bên bờ Hồ Tây và gọi là Thiên Niên tự, tức chùa nghìn năm, đúng như nội dung chép trong bia “Nhân trước miếu có 8 tháp bèn dời đến chỗ đất cao hơn… và dựng lại chùa… vì trang gọi là Thiên Niên trang, nên chùa cũng gọi là Thiên Niên tự”.

Cũng theo văn bia trên, vào cuối thời Lê, có quan Thái Bảo Đà Quốc Công đứng ra trùng tu chùa và cúng ruộng. Từ đó về sau, việc trụ trì do Tăng sĩ hoặc người làng đảm nhiệm. Đến thời Thành Thái thứ 5 (1893), dân làng lại mời sư về trùng tu chùa, mở rộng không gian, tô tượng Phật và đúc lại chuông đồng, ghi khắc chữ để lưu niệm.“Đến niên hiệu Thành Thái thứ 5 [1893]… sửa mới lại chùa, tô thêm tượng Phật, đúc lại chuông đồng… bèn khắc chữ để lưu niệm”.

Sang thời Nguyễn, niên hiệu Minh Mệnh (1820 – 1840), trang Thiên Niên và chùa được sáp nhập vào xã Trích Sài, sư trụ trì là Dưỡng Chân Thị cho đúc chuông. 

Thế hệ các sư trụ trì

Căn cứ vào khoa cúng tổ đang lưu trữ tại chùa, được biết chùa thuộc Sơn môn Bồ Đề – Thiên Sơn Cổ Tích tự. 

Dựa vào một số tài liệu hiện còn tại chùa và Khoa cúng, ghi nhận được một số vị trụ trì như sau:

  1. Tỷ khiêu Dưỡng Chân Thị, nguyên là Công bộ Hiệp lý triều Lê cho đúc chuông vào khoảng niên hiệu Minh Mệnh (1820 – 1840).
  2. Thiền sư tự Quảng Tựu (đệ tử thứ 2 của Thiền Sư Nguyên Biểu – Thích Nhất Thiết, chùa Bồ Đề). 
  3. Thiền sư tự Tục Đương (đệ tử Tổ Quảng Tựu), họ Trần.
  4. Thiền sư Thiên Trân (đệ tử ngài Tục Đương). 
  5. Thượng tọa Thích Thanh Đức, môn nhân chùa Trấn Quốc, đệ tử Hòa thượng Thích Thanh Nhã, là đương kim trụ trì.

Ngoài ra, trong bia Hoàn Long, Trích Sài, Thiên Niên tự bi ký có chép người soạn bia là nhà sư họ Đông A tên Văn Tựu [Trần Văn Tựu], cũng có thể là trụ trì của chùa vào thời điểm đó. 

Kiến trúc cảnh quan

Chùa quay lưng về hướng Nam, mặt hướng ra không gian hồ nước mênh mang, tạo nên thế “tựa sơn hướng thủy” hài hòa giữa kiến trúc Phật giáo và cảnh quan tự nhiên. Với vị trí đắc địa ấy, ngôi cổ tự không chỉ là chốn tu hành mà còn là điểm nhấn văn hóa – tâm linh đặc sắc trong tổng thể không gian Hồ Tây.

Toàn bộ khu chùa được quy hoạch đầy đủ theo mô thức truyền thống của một ngôi chùa Việt cổ, gồm: tam quan, sân vườn, chùa chính, nhà tổ, nhà mẫu, tăng phòng, khu bếp và vườn tháp – nơi an táng xá lợi của các vị sư tổ đã viên tịch. Các hạng mục kiến trúc được bố trí hợp lý, liên hoàn, vừa đảm bảo công năng tu hành, sinh hoạt, vừa giữ được sự trang nghiêm, thanh tịnh của chốn thiền môn. Tổng thể kiến trúc mang đậm dấu ấn Phật giáo Bắc Bộ, kết hợp hài hòa giữa hình khối kiến trúc, vật liệu truyền thống và cảnh quan tự nhiên xung quanh.

Tam Quan

Cổng tam quan của chùa được xây dựng theo kiểu cổng thành, gồm ba cửa, trong đó cửa chính nằm giữa, trục thẳng hàng với tiền đường chùa chính. Tam Quan có hai tầng mái, mái cong rợp bóng, lợp ngói đỏ truyền thống, tạo nên dáng vẻ bề thế nhưng không phô trương. Trên các bờ mái và đầu đao trang trí nhiều họa tiết đặc trưng như rồng, vân triện hóa hổ phù, lá cúc, được chạm khắc tinh xảo. Sắc ngói cũ hòa cùng lớp rêu phong phủ trên tường vách càng làm nổi bật vẻ cổ kính, trầm mặc và uy nghiêm của công trình, gợi rõ dấu ấn thời gian và chiều sâu lịch sử của ngôi chùa.

Khuôn viên chùa

Hiện nay, lối vào chùa không đi trực tiếp qua tam quan mà theo cổng phụ mở ra phía đường Lạc Long Quân, dẫn vào khu vực gần nhà bếp. Từ đây, khách hành hương bước vào một không gian khuôn viên rộng rãi, thoáng đãng, được bao phủ bởi nhiều cây xanh cổ thụ và thảm thực vật tự nhiên. Các lối đi, bậc thềm được lát gọn gàng, sạch sẽ, tạo cảm giác thanh tịnh, yên tĩnh, tách biệt với sự ồn ào của phố thị bên ngoài. Không gian sân vườn đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa cảnh quan, tạo nên sự thư thái, an nhiên.

Chùa chính

Trung tâm của quần thể là chùa chính, được xây dựng theo kiểu chữ “Đinh” (丁), gồm hai bộ phận chính là tiền đường và thượng điện. Tiền đường nằm phía trước, được dựng trên nền cao khoảng 60cm so với sân vườn, tạo thế tôn nghiêm và phân định rõ không gian linh thiêng. Công trình có bốn mái lợp ngói ta, bờ nóc thẳng, chính giữa đề ba chữ Hán “Thiên Niên Tự”, khẳng định danh xưng và bề dày lịch sử của ngôi chùa.

Nối liền với tiền đường là thượng điện, gồm bốn gian dọc, được xây dựng theo kết cấu truyền thống kiểu giá chiêng – chồng rường, thể hiện trình độ kỹ thuật và thẩm mỹ cao của kiến trúc cổ. Bên trong thượng điện, hệ thống bệ gạch được xây bao quanh, trên đó bài trí tượng thờ Phật và chư vị Bồ Tát theo nghi thức Phật giáo Bắc tông, tạo nên không gian thờ tự trang nghiêm, linh thiêng.

Nhà Tổ, Nhà Mẫu

Phía sau thượng điện là khu Nhà Tổ và Nhà Mẫu, được bố trí nối dọc, quay mặt nhìn ra Hồ Tây, tận dụng tối đa cảnh quan thiên nhiên để tạo nên sự giao hòa giữa kiến trúc và môi trường. Khu nhà này gồm năm gian, trong đó hai gian chính dành cho việc thờ tự các vị tổ sư và thánh mẫu, phía sau là hai gian tăng phòng phục vụ sinh hoạt của tăng chúng. Kiến trúc nhà tổ, nhà mẫu giản dị nhưng chặt chẽ, hài hòa với chùa chính, góp phần hoàn thiện tổng thể không gian chùa Thiên Niên như một chỉnh thể thống nhất, cân đối, mang đậm phong cách kiến trúc chùa Việt cuối thế kỷ XVIII – XIX.

Hiện vật

Hiện chùa còn lưu giữ hơn 30 pho tượng tròn có niên đại từ thế kỷ XVIII đến XX, cùng nhiều di vật thờ tự quý giá như: 6 hoành phi, 10 câu đối, 2 cửa võng, 2 nhang án, 1 khám gỗ, 5 ngai thờ, 1 chuông đồng và 1 lư hương đồng. Trước đây chùa có 7 bia đá, bia sớm nhất niên hiệu Vĩnh Thịnh 5 (1709), nhưng hiện đều không còn.

Xếp hạng

Chùa đã được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật năm 1992.

Tài liệu tham khảo

  1. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam (1978), Tuyển tập văn bia Hà Nội, Quyển I, Nxb Khoa học xã hội.
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)