Vị trí
Cụm Đình, đền, chùa Thượng Bùi toạ lạc tại xã Trung Hoà, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên.
Lịch sử
Theo thần phả, sắc phong còn lưu giữ tại di tích ghi chép lại thì đình Thượng Bùi thờ Đô Hồ Đại Vương, người có công phù Trần diệt Hồ, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Xưa kia, ở xã Dị Sử, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên có gia đình ông Đô Quan, lấy vợ là bà Nguyễn Thị Khánh, quê ở thôn Cầu Trì, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông (nay là Thành phố Hà Nội). Ông, bà vốn là người phúc hậu, hiền hòa, nhưng lại muộn mằn về đường con cái cho nên phải đi cầu tự ở Chùa Hương. Đến năm Ông, bà 45 tuổi, mới sinh được một người con trai đặt tên là Hồ. Cậu bé Hồ rất thông minh tuấn tú, đến năm cậu 5 – 6 tuổi, ông bà Đô Quang gửi đến nhà Thầy Lý Tiên Sinh để học. Ở đây, Đô Hồ đã học thông hết lịch sử, thiên văn, địa lý, các nghề thủ công…
Đến năm 18 tuổi, triều đình mở khoa thi, Đô Hồ ra ứng thi và đỗ nhất cử khôi nguyên. Nhà Vua cử ông làm quan hình bộ thượng thư. Đến cuối thời Trần Tuyên Tông, vệ quốc đại vương Hồ Quý Ly lợi dụng vua Trần còn nhỏ, đã cướp ngôi tự lập làm vua, đổi tên nước là Đại Ngu, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên. Đứng trước cảnh đất nước bị chiến tranh loạn lạc, Đô Hồ đã dựng cờ khởi nghĩa với khẩu hiệu “Phù Trần diệt Hồ”. Ông lập dinh trại ở quê ngoại thành phố Hà Nội, tập hợp binh lính cố thủ chống cự với Hồ Quý Ly khiến Hồ Quý Ly phải khiếp sợ. Sau đó, Ông cùng với Trần Ngỗi, con thứ của Trần Nghệ Tông khôi phục nhà Trần; khi Trần Ngỗi lên ngôi hoàng đế, xưng là Giảm Định Đế đã ban phong cho ông chức Thải Bảo tướng quân, Hàn Lâm viện Đông các đại học sĩ. Khi ông mất, để tưởng nhớ đến công lao của ông, nhân dân nhiều nơi đã lập đền thờ trong đó có đình Thượng Bùi.
Theo thần tích, sắc phong còn lưu giữ tại di tích, đền Thượng Bùi thờ Nguyệt Trinh công chúa, người có công cùng với Vua Hùng đánh giặc cứu nước, cứu dân, đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân.Vào thời Hùng Vương, ở thôn Thượng Bùi có gia đình vợ chồng ông Trương Gia Công và vợ là bà Đỗ Thị Ngoạn sinh hạ được một người con gái đặt tên là Hằng Nương. Cha mất sớm, nàng phải ở với mẹ. Hằng Nương càng lớn, càng xinh đẹp và thông minh hơn người. Một hôm, Vua Hùng đi tuần qua vùng này, thấy nàng Hằng Nương xinh đẹp và hát hay, bèn sai lính ra mời hai mẹ con vào yết kiến, ngỏ ý muốn đưa nàng vào cung. Bà ở với vua được 3, 4 năm nhưng không có con, bà đã xin với Vua cho mình được nương nhờ cửa phật. Khi đất nước bị lâm nguy bởi giặc ngoại xâm, nhân dân rơi vào cảnh lầm than, đói khổ, bà đã bỏ chốn cử thiền để tập hợp thanh niên trai tráng cầm quân giết giặc. Với tài thao lược của bà, chỉ trong một tuần, giặc ngoại xâm đã phải quy hang.
Khi nhà Vua nghe tin bà thắng trận trở về đã gia phong: Công chúa uy liệt hầu và có làm 4 câu thơ ca ngợi công lao của bà Gia chi hiếu tử quốc truy thần Vạn cổ cương thường hệ nhất than Quốc ấn trường lưu danh nghĩa tại Lệnh vi danh tướng hóa vi thần. Đất nước thanh bình, bà xin Vua cho về quê hương thờ cúng tổ tiên, ở đây Hằng Nương đã cho dựng chùa để thờ Phật và tu hành. Một thời gian sau, nước Xích Quỷ tiến hành xâm lược nước ta, chúng rất dã man, đi đến đâu đều chém giết người đến đó. Vua và triều thần rất lo sợ, liền triệu kiến bà ra giúp nước cứu dân. Bà vâng lệnh ra đi và giành chiến thắng, được Vua ban phong là Nguyệt Trinh công chúa. Khi bà mất, để tưởng nhớ đến công lao to lớn, nhân dân Thượng Bùi đã lập đền thờ cúng bà ngay trên quê hương.
Chùa Thượng Bùi có tên chữ là Phổ Quang Tự, là nơi thờ Phật với mục đích giúp con người thoát khỏi trốn trần tục để đến với cái thiện, tránh điều ác. Đồng thời chốn cửa chùa còn là nơi giáo dục con người phải sống từ bi bác ái, sống có đạo đức và phải luôn giúp đỡ những người gặp nạn nghèo khổ hơn mình. Chùa có kiến trúc gồm 3 gian Tiền đường và 2 gian Tam bảo.
Nghệ thuật điêu khắc
Chùa còn lưu giữ được hệ thống tượng thờ độc đáo có giá trị thẩm mỹ cao. Các pho tượng này mang đậm phong cách nghệ thuật thời Lê – Nguyễn.
Giá trị lịch sử
Trong hai cuộc Kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, hòa chung vào không khí đánh giặc cứu nước của toàn dân tộc. Cụm di tích đình, đền, chùa Thượng Bùi cũng đã đóng góp một phần nhỏ bé vào chiến công ấy. Năm 1943 – 1945 đình, đền, chùa dùng làm nơi in ấn tài liệu tuyên truyền cách mạng, đường lối chính sách của Đảng cho nhân dân. Năm 1951 – 1954, chùa là nơi nuôi dấu cán bộ cách mạng của địa phương.Trong kháng chiến chống Mỹ, đình là nơi sơ tán sinh viên các trường đại học ở Hà Nội. Hòa bình lập lại, đình, đền, chùa là nơi sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng của nhân dân trong thôn. Tự hào về đình thiêng quê mình, người dân thôn Thượng Bùi đã sáng tác nhiều vần thơ dân dã, mộc mạc để thể hiện tấm lòng thành kính đối với bậc tiền bối có công xây dựng làng.
Cụm di tích Đình- Đền- Chùa của thôn Thượng Bùi đã được Bộ văn hóa xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia theo quyết định số 2233, ngày 26 tháng 6 năm 1995.
Tham khảo
- “Phật giáo Hưng Yên xưa và nay”, tác giả Nguyễn Đại Đồng, Nxb Văn hóa, 2012, tr. 238.
- https://www.youtube.com/watch?v=7lYZmJjJML4