Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Thuỵ Ứng có tên chữ Là Ứng Xá Tự, xưa tổng Cổ Hiền, phủ Thường Tín. Ban đầu tên làng là Thuỵ Ứng, khi vua Bảo Đại lên ngôi, để tránh tên huý Vĩnh Thụy, làng phải đổi tên thành Tường Ứng, sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 lại gọi là Thụy Ứng. Ngày nay, chùa tọa lạc tại thôn Thụy Ứng, xã Hoà Bình, huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội.
Xã Hòa Bình nằm ở phía Tây huyện Thường Tín, tiếp giáp xã Khánh Hà ở phía Bắc, Hiền Giang ở phía Tây, Văn Phú ở phía Nam, Văn Bình ở phía Đông và Nhị Khê ở phía Đông Bắc.
Trong địa bàn xã, làng Thụy Ứng nổi bật với nghề truyền thống chế tác lược sừng là một nghề đã có lịch sử lâu đời và được truyền từ đời này sang đời khác. Nghề thủ công này không chỉ tạo dựng thương hiệu riêng cho làng mà còn góp phần hình thành nên bản sắc văn hóa đặc trưng của vùng đất Thường Tín. Ngày nay, với tiềm năng sẵn có, làng nghề Thụy Ứng đang từng bước được phát huy, hướng đến trở thành một điểm đến du lịch làng nghề tiêu biểu của Thủ đô Hà Nội.
Lịch sử và nhân vật
Hiện nay, các tư liệu lịch sử chưa ghi chép cụ thể về thời điểm hình thành chùa Thụy Ứng. Tuy nhiên, dựa vào tư liệu còn lưu giữ tại chùa là tấm bia hậu đặt tại Thượng Điện lại cho biết: “Hoàng triều Chính Hòa vạn vạn niên”, điều này cho thấy ngôi chùa có thể đã được xây dựng từ thời nhà Lê hoặc thậm chí sớm hơn.
Với nhu cầu tín ngưỡng sâu sắc của người dân trong vùng, ngôi chùa dần trở thành trung tâm sinh hoạt tôn giáo và tâm linh, gắn bó mật thiết với đời sống tinh thần của cộng đồng địa phương.
Chưa xác định được ban đầu ngôi chùa có mặt bằng kiến trúc như thế nào, nhưng trải qua thời gian lịch sử, ngôi chùa hiện nay đã được trùng tu, xây dựng khang trang, rộng rãi hơn.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa Thụy Ứng nằm ở trung tâm làng Thụy Ứng, quay hướng Tây Nam, xung quanh là khu dân cư sinh sống. Ngay bên cạnh chùa là Nhà thờ Tổ nghề lược sừng – nơi tưởng nhớ ông Tổ của nghề truyền thống tại địa phương.
Hiện nay, khuôn viên chùa gồm các hạng mục chính: Cổng, Tam bảo, Nhà Tổ, Nhà Mẫu và một số công trình phụ trợ. Các hạng mục này được bố trí hợp lý, phục vụ cho hoạt động tín ngưỡng và sinh hoạt tôn giáo của người dân.
Xung quanh khuôn viên chùa được trồng nhiều cây cối tạo bóng mát, đặt các tượng sư tử bằng đá.
Cổng
Cổng chùa được xây theo kiểu một cửa chính thiết kế hai tầng, với tám mái đao cong. Bộ vì nóc được làm theo kiểu truyền thống giá chiêng – chồng rường. Ngay tại tầng trên là một gác chuông có treo một quả chuông lớn có niên đại từ thời Lê.
Trên gác chuông, ở câu đầu, có khắc dòng chữ “Chính Hòa thập tứ niên, bát nguyệt, thập nhị nhật”, tức ngày 20 tháng 8 năm Chính Hòa thứ 14. Trên quả chuông cũng ghi rõ: “Hồng Chung Ứng Xá cổ tự, Hoàng triều Cảnh Thịnh nhị niên, Chính nguyệt, nhị thập bát nhật”, nghĩa là chuông lớn của chùa cổ Ứng Xá được đúc vào ngày 28 tháng 1 năm Cảnh Thịnh thứ 2.
Tam Bảo
Qua cổng chùa là khoảng sân gạch rộng, là nơi đón tiếp và chuẩn bị trước khi bước vào Tam Bảo. Từ sân lên Tam Bảo có bậc ngũ cấp được làm bằng đá, diềm bậc được đắp hoa văn lá đề. Diềm bậc thềm được trang trí hoa văn lá đề tinh xảo. Hai đầu hồi của Tiền đường được nối với nhau bằng hai bức tường lửng và hai cột trụ, trên đỉnh cột là hình tượng tứ phượng chầu. Phần hiên gồm năm gian, bên dưới có sáu bộ vì được bố trí trên mặt bằng với bốn hàng chân cột, nâng đỡ toàn bộ hệ mái.
Tam Bảo được xây dựng theo kiểu chữ Đinh (丁), bao gồm hai phần chính là Tiền đường và Hậu cung. Tiền đường gồm ba gian hai chái, được xây theo kiểu tường hồi bít đốc. Gian giữa của Tiền đường nơi phật tử chiêm bái. Hai bên gian đặt tượng tượng Hộ pháp (Khuyến Thiện và Trừng Ác), kế bên đó là ban thờ đặt tượng Đức Thánh Hiền và Đức Ông.
Nối từ gian giữa Tiền Đường là Hậu Cung chạy dọc về phía sau, đây là khu thờ chính, bên trong được xây dựng các bệ gạch giật cấp cao thấp, bên trên là nơi tọa lạc của hệ thống tượng Phật.
Vị trí cao nhất là bộ tượng Tam Thế gồm, tượng trưng cho quá khứ, hiện tại, tương lai.
Lớp thứ 2 là tượng A Di Đà.
Lớp thứ 3 là tượng Quan Âm chuẩn đề, tượng được tạo tác ngồi kiết già trên đài sen, bên trái là Quan Âm Bồ Tát, bên phải là Đại thế chí Bồ Tát.
Lớp thứ 4 là tượng Ngọc Hoàng, hai bên là hai pho Thị giả theo hầu.
Lớp thứ 5 là toà Cửu Long.
Ở mỗi gian đều được làm cửa võng sơn thếp vàng, chạm lộng các hoạ tiết rồng, dây lá cách điệu, ngoài ra còn bày trí hệ thống hoành phi, câu đối. Các mảng chạm không chỉ thể hiện kỹ thuật điêu luyện của các nghệ nhân xưa mà còn gửi gắm những giá trị văn hóa, tâm linh sâu sắc.
Phần mái Tam Bảo lợp ngói mũi hài, hai đầu bờ nóc đắp hai con kìm, chính giữa bờ nóc là cuốn thư, bên trong đắp nổi ba chữ Hán.
Nhà Tổ
Nhà Tổ gồm bảy gian, với phần hiên để thoáng, không có cửa, tạo lối dẫn sang các công trình khác, phía trước Nhà Tổ đặt lư hương và hai cây đèn đá, hai bên có tượng sư tử ngồi với dáng chống hai tay trước. Phần hiên là các cột đá trong nhà được khắc nổi nhiều họa tiết chạy kín trên thân cột. Mái nhà được trang trí với hình lưỡng long chầu nhật và đầu đao uốn cong hình đầu rồng.
Đây là nơi thờ các vị Tổ sư trụ trì chùa, những bậc chân tu đã có công khai sơn, tạo dựng và gìn giữ ngôi chùa qua bao thế hệ.
Di vật
Hiện nay chùa còn lữu giữ tấm bia Vô đề có 3 mặt, kích thước 67 x 120 cm và 44 x 92 cm, gồm 41 dòng chữ Hán, niên đại ghi Chính Hòa thứ 22 (1701). Nội dung bia ghi rõ: Thị nội cung tần Trần Thị Tốt, người xã Linh Đường huyện Thanh Trì, đã cúng cho xã Thụy Ứng 400 quan tiền và 4 mẫu ruộng để phục vụ việc thờ phụng tôn thần. Quan viên, dân xã đã tôn bà làm Hậu phật và lập cam kết cúng giỗ hàng năm để ghi nhớ công đức.
Xếp hạng
Chùa Thuỵ Ứng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng là di tích kiến trúc nghệ thuật năm 2008.
Tài liệu tham khảo
- Cổng thông tin điện tử huyện Thường Tín,
- Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 02, Nxb Hà Nội.