Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa có tên là “Thiên Hưng tự”, nhưng dân gian thường gọi là chùa Tổng, vì đây là ngôi chùa lớn nhất trong tổng Yên Lũng xưa, bao gồm 6 xã. Hiện nay, chùa thuộc làng La Phù, xã La Phù, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
Lịch sử và nhân vật
Công trình hiếm hoi này là một trong những di tích cổ được ghi chép lại với các mốc thời gian cụ thể liên quan đến việc xây dựng và bảo tồn qua hàng nghìn năm lịch sử.
Theo văn bia dựng ở chùa, Thiên Hưng tự được xây dựng năm Mậu Tý (988) dưới triều vua Lê Đại Hành, do hòa thượng Thích Chân Từ từ cố đô Hoa Lư chủ trì và khánh thành ngày 21-2 năm Kỷ Sửu (989). Năm Đinh Tỵ (1677, triều vua Lê Hy Tông), chùa được trùng tu và xây dựng thêm gác chuông và đúc chuông. Năm Nhâm Dần (1782), triều vua Lê Hiển Tông, chùa được mở rộng quy mô, xây dựng 9 gian thượng điện, 5 gian đại bái, 4 gian hậu cung.
Năm 1947, trong kháng chiến chống Pháp, chùa Tổng bị phá hủy nặng nề, nhưng nhiều di vật quý đã được đưa về giữ tại chùa La Phù trong làng. Năm 1965, một số cơ quan, đơn vị mượn đất chùa để đặt trụ sở. Khoảng năm 1989-1990, đất chùa được trả lại cho dân làng. Năm 1992, UBND tỉnh Hà Tây (cũ) ra quyết định giao 4.846m² đất và cho phép xây dựng lại chùa. Cùng năm, Thượng tọa Thích Thanh Phúc trụ trì đã kêu gọi phát tâm công đức để xây dựng chùa và cung Tam Thánh. Năm 1997, nhà chùa xây tam bảo và năm 1999 mở rộng đại bái thành 7 gian. Các hạng mục được xây dựng lại thiên về bào trơn đóng bén, tạo sự bền chắc.
Chùa Thiên Hưng hấp dẫn du khách bởi sự tích và nghi lễ thờ Tam Thánh, tức 3 vị cao tăng là các nhà sư Dương Không Lộ (1016-1094), Giác Hải (1024-?), và Từ Đạo Hạnh (? – 1117). Tương truyền, Dương Không Lộ và Giác Hải sau khi đắc đạo ở Tây Trúc trở về, khi qua đây thì Từ Đạo Hạnh đã hóa hổ để thử tài hai người. Chính vì thờ ba vị Quốc sư – những người được suy tôn là “Tam thánh Tổ” mà chùa Thiên Hưng được gọi là nơi “xiển dương Phật pháp” (phát huy, mở rộng Phật pháp), ghi đậm dấu ấn “quốc thiền” như trên một bức hoành phi ở đại bái. Đây là một hiện tượng văn hóa độc đáo ở Việt Nam, thể hiện rõ ở các nghi lễ thờ phụng trong chùa Thiên Hưng.
Trong ba vị Quốc sư, nổi bật nhất là Từ Đạo Hạnh, điều đó thể hiện rõ trong câu đối:
Vi huynh, vi đệ, vi đế, vi sư, danh truyền Nam sử
Nhi phật, nhi thần, nhi tiên, nhi thánh, tích hiển Lý Trần”
Làm anh, làm em, làm vua, làm sư, danh truyền Nam sử
Là phật, là thần, là tiên, là thánh, tích rạng Lý Trần).
Từ Đạo Hạnh là bậc chân tu đắc đạo, được tôn làm bậc tiên, thánh, thần, phật; tương truyền sau khi thăng hóa lại đầu thai làm vua, tức vua Lý Thần Tông (1128-1138). Ngoài việc được thờ tự ở đây, Từ Đạo Hạnh còn được thờ ở chùa Láng (quận Đống Đa), chùa Thầy (huyện Quốc Oai) và nhiều nơi khác.
Giác Hải, năm 1066, đã sang Tây Trúc tầm sư học đạo và đạt đến mức thượng thừa, khi về nước truyền đạo được vua Lý Nhân Tông rất yêu quý và ca ngợi tài năng, công đức qua bài thơ Tán Giác Hải thiền sư:
Giác Hải tâm như hải
Thông Huyền đạo hựu huyền
Thần thông kiêm biến hóa
Nhất Phật, nhất thần tiên
(Giác Hải lòng như biển rộng
Thông Huyền đạo càng huyền diệu
Thần thông và biến hóa
Một người là Phật Một người là thần tiên)
Dương Không Lộ có tài y dược, chữa khỏi bệnh trọng cho vua Lý Nhân Tông nên được phong là Quốc sư; được đổi từ họ Nguyễn sang họ Lý của vua, về sau được gọi là Lý Quốc sư. Ông đã chủ trì xây dựng trên 500 ngôi chùa trên đất Đại Việt đương thời và lập ra một phái tu với giáo lý là “Tu tiên và lấy đức theo Phật”, chứ không phải tu để mong thành Phật.
Kiến trúc cảnh quan
Từ ngoài đường đi vào, qua cổng là sân gạch rộng, rồi đến đại bái, tiếp theo là thượng điện. Phía sau thượng điện là hậu cung, nơi bài trí 6 lớp tượng. Phía sau thượng điện còn có cửa mở ra hai dãy hành lang, mỗi bên gồm 11 gian, nơi bài trí các bộ tượng.
Đây là chùa của hàng tổng, thờ thánh tổ nên có dáng dấp vừa chùa vừa đền với nghi môn, tiền đường. Kích thước của chùa rất lớn, không kém gì quy mô của các ngôi chùa thời Hậu Lê. Nằm giữa hai khu vực đạo giáo phát triển là Trôi – Hoài Đức và Hà Đông, chùa còn có cả tượng Tam Thanh, nhưng hiện không rõ liệu Đạo quán đã chuyển sang chùa từ đời Lê hay dân làng đã đem tượng đạo giáo vào thờ chung.
Sơn Môn Pháp Phái của chùa có từ lâu nhưng các tổ xa xưa thì ít người nhớ đến, gần đây có Tổ đệ nhị Bà Đá, người có đệ tử là Phổ Nhàn Thiền sư, từng về trụ trì tại chùa La Phù trong làng. Cụ Phổ Nhàn có nuôi 3 đồ đệ, đại đệ tử được gửi về chùa Nhạ Phúc ở Lại Yên gần đó, nhị đệ tử ở lại chùa La Phù, tam đệ tử được gửi về chùa Tổng La Phù, tức Thiên Hưng Tự. Tuy đứng thứ ba nhưng chùa là nơi quy tập tháp của sơn môn, các sư thuộc sơn môn Phúc Trại trước đây đều đưa về nhập tháp tại chùa Tổng.
Sau khi dòng này không có người, tới cuối thế kỷ 20, Thượng Tọa Thích Thanh Phúc, đệ tử của cụ tổ Thích Thanh Chân ở chùa Hương Tích, về trụ trì. Thượng tọa Phúc còn trụ trì tổ đình Triệu Khánh ở Hoàng Mai, và các chùa này và chùa La Phù đều thuộc về các đệ tử của Nhị Tổ Bà Đá. Đáng chú ý trong chùa còn có một lăng mộ Hậu Phật đời Lê khá nguyên vẹn.
Đây là ngôi chùa khá lạ về cách bài trí tượng thờ trong vùng xứ Đoài và Hoài Đức. Tuy các tượng được làm vào cuối thế kỷ 20 nhưng rất đẹp và tích hợp nhiều phong cách khác nhau:
Lớp trên cùng là Tam Thanh, mang ảnh hưởng của chùa quán Lâm Dương Đa Sĩ gần đó.
Lớp thứ hai là Di Đà Tam Tôn, trong đó tượng Di Đà mang phong cách chùa Bà Đá, hai vị Bồ Tát lại búi tóc như tượng Tam Thanh.
Lớp thứ ba là Dược Sư Tam Tôn.
Lớp thứ tư là Bổn Sư, hai bên là Thổ Địa Giám Trai, kiểu này ảnh hưởng hơi hướng Sơn Nam.
Lớp thứ năm là Quan Âm Chuẩn Đề và Kim Đồng, Ngọc Nữ, ảnh hưởng chùa Hương.
Lớp thứ sáu là Tam Thánh Tổ Sư.
Lớp thứ bảy là Phật nhập niết bàn.
Lớp thứ tám là Cửu Long, Phạm Thiên Đế Thích.
Hai góc cuối thượng điện là tượng Long Thần và Vi Đà Thiên Tôn, mang phảng phất nét của Quảng Bá, Hà Nội.
Tiền đường bày bộ hai vị Đại Hộ Pháp, tám vị Kim Cang, Thánh Hiền Chúa Ông ngồi khám kích thước rất quy mô, tòa nhà cao lớn bày biện lại có nét của Bia Bà La Khê.
Hai bên hành lang là bộ Thập Bát La Hán.
Hiện vật
Phía sau thượng điện có cửa mở ra hai dãy hành lang, mỗi bên gồm 11 gian, bài trí các bộ tượng. Cách bài trí đồ thờ và hệ thống tượng Phật thể hiện sự mẫu mực và tôn nghiêm, tiêu biểu cho loại hình chùa ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Các pho tượng được tạo tác tỉ mỉ và công phu, là những tác phẩm điêu khắc hoàn chỉnh, có giá trị nghệ thuật cao.
Trong các di vật quý, nổi bật là bức hoành phi chạm khắc 4 chữ Hán lớn: “Đại hùng ngự vũ” (Hùng vĩ ngự trị), chỉ quy mô của chùa và vị thế Tam Thánh được thờ tại chùa. Theo Hòa thượng Thích Thanh Phúc, tầm vóc của chùa còn thể hiện qua câu đối: “Nhật nguyệt cao thông đạo ngạn thiên thu tiêu chí chủ/ Đàn đài trì khởi giác quan trung cổ độ mê tân” (Nhật nguyệt cao vời, bờ đạo ngàn năm nêu chí lớn/ Đàn đài bền vững, giác quan từ cổ vượt bến mê).
Xếp hạng
Chùa Tổng La Phù đã được Bộ Văn hóa và Thông tin xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật tại quyết định số 191/VHQĐ ban hành ngày 22/3/1988.
Tham khảo
Hảo Nguyễn, Nhịp sống Hà Nội chuyên trang của báo điện tử Hà Nội mới, Chùa Tổng – một đại danh lam, https://nhipsonghanoi.hanoimoi.vn/chua-tong-mot-dai-danh-lam-624631.html
Nguồn ảnh: https://www.facebook.com/groups/430962060588066/user/100005134540046/