Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Tứ Liên hay còn gọi là chùa Tứ Tổng, tên chữ là Tam Bảo tự, toạ lạc tại số 167 – 169, đường Âu Cơ, phường Tứ Liên, quận Tây Hồ cách Hồ Gươm khoảng 5km.
Lịch sử và nhân vật
Chùa hiện còn giữ được tấm bia niên đại năm thứ 3 niên hiệu Đức Long (1631), bia được tạo bằng đá xanh đặt trên lưng rùa, cao 1,25m, rộng 0,78m, trán bia cao 0,25m có trang trí hoa văn hình mặt trời, tia lửa, 2 rồng chầu hai bên, có mây xoắn, 4 chữ Tam bảo tự bi được lồng trong 4 khuôn lá đề cách điệu, lòng bia có kích thước 0,98m x 0,70m. Cả hai mặt bia đều có chữ mỗi mặt 35 dòng, bình quân 55 chữ/dòng, chữ khắc sâu, đẹp. Diềm bia trang trí cúc dây, diềm chân bia trang trí sóng nước cách điệu. Bia không ghi tên người soạn văn bia, nhưng qua nội dung có thể đoán được người soạn là một vị văn quan có đỗ đạt và am hiểu về lịch sử ở địa phương.
Mặt trước tấm bia thể hiện sự quan tâm đặc biệt của nhà nước đối với việc trùng tu chùa Tam Bảo và đặc biệt là những vấn đề về ruộng đất và việc miễn thuế đối với ruộng đất cho nhân dân ở châu Tam Bảo, để tu bổ gìn giữ ngôi chùa.
Mặt sau, nội dung văn bia thể hiện danh sách 502 người đã được đưa vào “Đài hưng công” gồm có dân bản Châu (Tam Bảo, Vạn Bảo, Bảo Xuyên) các quan lại trong vương phủ thời Lê Trịnh, cùng vợ con và khách thập phương đã góp phần công đức tu bổ chùa Tam Bảo. Qua đó có thể khẳng định, chùa được xây dựng từ trước năm 1631 một thời gian khá dài để đến thời điểm này chùa được trùng tu.
Căn cứ vào tấm bia Hậu Phật bi ký có niên đại Chính Hoà thứ 4 (1683) hiện ở chùa cho biết: Chùa Tứ Liên có từ lâu đời, xung quanh có cảnh quan khá đẹp bên phải là phía đông có dòng sông dạt dào, quanh co uốn khúc, bên trái là phía tây vời vợi đê cao. Trái lại phía bắc là đất đúc tinh anh, biết cáo cơ vi cảm thông cái huyền diệu khấn đảo thì thông, cần gì được nấy.
Năm 1992, Sư cô Thích Nữ Đàm Đoan đã tổ chức trùng tạo ngôi chùa, đến tháng 10 thì khánh thành.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa nằm trên một khu đất cao và rộng, bằng phẳng của làng Tứ Liên, với quy mô kiến trúc khá bề thế. Tổng thể kiến trúc của chùa bao gồm: Tam Quan, Chùa Chính, Nhà Tổ, Nhà Mẫu và Nhà Khách.
Tam Quan chùa là kiến trúc chồng diêm 3 tầng 12 mái, mở từ sau lưng chùa Tứ Liên ra chân con đê chạy song song phía dưới đường Âu Cơ.
Qua sân chùa là tới Chùa Chính có quy mô kiến trúc lớn được xây dựng theo hướng Nam kết cấu theo hình chữ Đinh, bao gồm Tiền Đường và Thượng Điện. Chùa được xây dựng trên nền cao khoảng 0,8m với ba bậc tam cấp có gắn các linh vật hổ phù bằng đá – dấu ấn nghệ thuật thế kỷ XIX. Mái chùa lợp ngói ta, hai tường hồi được xây nối liền với bức tường tới hai cột, đỉnh trụ là hình bốn con chim phượng chụm đuôi vào nhau thành hình trái dành, phía dưới là phần lồng đèn, thân trụ được gắn các đôi câu đối bằng chữ Hán.
Tiền Đường gồm năm gian được làm theo kiểu đầu hồi bít đốc, kiến trúc bên trong gồm năm bộ vì kèo chính được làm bằng gỗ lim hai bên tựa lực vào tường đốc. Các bộ vì được làm theo kiểu chồng rường, giá chiêng và bẩy hiên, chủ yếu là bào trơn đóng bén không trang trí, các con xà được làm theo khối vuông, bài soi bốn cốn nách với các hình hoa lá, vân xoắn. Tiền Đường gồm các pho tượng Thánh Tăng, Hộ pháp Khuyến Thiện và Trừng Ác. Sát hai bên tường Tiền Đường là năm bức tượng phù điêu bằng đá Hậu Phật, là những vị có công lớn trong việc tu sửa chùa trước đây.
Thượng Điện là ngôi nhà dọc ba gian – là nơi tọa lạc của các vị Phật và Bồ tát. Kết cấu kiến trúc đơn giản các vì kèo bào trơn không trang trí, tường xây đầu hồi bít đốc, bộ khung vì kẻ bào trơn, bốn cột tròn nhỏ. Bộ vì thượng trên câu đầu làm kiểu chồng rường giá chiêng, chủ yếu là bào trơn đóng bén. Trên kiến trúc đơn giản được trang trí các tác phẩm nghệ thuật điêu khắc như: hoành phi, câu đối, cửa võng sơn son thếp vàng làm tôn thêm vẻ trang nghiêm và đẹp cho di tích.
Hệ thống tượng Phật tại Thượng Điện được bài trí thành 4 lớp tượng:
- Lớp trên cùng ba pho Tam Thế thường trụ diệu Pháp thân ngồi kiết già trên toà sen thế tay kết thiền định ấn, khuôn mặt nhanh nhẹ hình trái xoan.
- Lớp thứ hai gồm bộ tượng A Di Đà Tam tôn ngồi giữa, bên phải là tượng Quan thế âm, bên trái là tượng Đại Thế Chí. Tượng A Di Đà ngồi trên toà sen thân cao 1,3m hai chân khoanh tròn theo thế thiền định, khuôn mặt đôn hậu, mắt khép hờ, nhìn xuống theo phong cách thời Nguyễn.
- Lớp thứ 3 gồm tứ Thiên Vương.
- Lớp thứ 4 toà Cửu Long và tượng Thích Ca sơ sinh.
Sau Chùa Chính là Nhà Tổ, Nhà Mẫu và Nhà Khách gồm năm gian đơn giản, hai kiến trúc này mới được nhà sư trụ trì và nhân dân địa phương tu bổ lại trong thời gian gần đây. Sau mỗi lần tu sửa dân làng lại dựng bia ghi lại sự việc và biểu dương những người đóng góp công đức để tu bổ chùa.
Hiện vật
Hiện nay, chùa Tứ Liên còn giữ được khá nhiều hiện vật, đồ thờ có giá trị như quả chuông đồng “Tứ Liên tự chung”. Trên thân chuông có khắc bài minh ca ngợi cảnh đẹp của chùa và ghi việc công đức để tu bổ chùa. Năm tấm bia đá, trong đó đáng chú ý là tấm bia: “Hậu Phật bi ký” có niên đại Chính Hoà thứ 4 (1683) nội dung trên bia ca ngợi sự cao thượng của đức Phật trong đó có đoạn: “Công đức của đức Phật như núi cao, trí tuệ như biển sâu, rộng vô cùng nước sông Hồng Hà cũng không sánh nổi.”. Một tấm bia vô đề, tạc năm Long Đức thứ nhất (1732) của Tiến công thứ lang Giám Hạ Quốc Tử Giám bia được làm khá đặc biệt giống như bài vị đặt trong ngai thờ.
Đặc biệt, trong chùa còn lưu giữ tượng Phật, tượng Tổ và tượng Mẫu mang phong cách nghệ thuật từ thế kỷ thứ XVIII, XIX và XX cùng với các hiện vật cổ như: hoành phi, câu đối, cửa võng y môn.
Sự kiện
Hàng năm, chùa thường tổ chức tiệc trai tịnh vào dịp tháng Giêng. Ngày 17 tháng Giêng Giáp Ngọ (2014) ước tính có gần một vạn người tham dự với khoảng 1000 mâm cỗ và kéo dài từ sáng đến đầu giờ chiều.
Tham khảo
- Nguyễn Chí Công, “Chùa Tứ Liên”, 360.hncity.org, 2014.
- Minh Tân (tổng hợp), “Chùa Tứ Liên – ngôi chùa có quy mô kiến trúc bề thế của làng Tứ Liên”, ngày 19/9/2017, http://nxbhanoi.com.vn/chi_tiet_tin/tabid/204/cateID/4/artilceID/17824/language/vi-VN/Default.aspx