Chùa Vân Am (Chùa Đông Sơn – Thanh Hoá)

Chùa Vân Am (Chùa Đông Sơn – Thanh Hoá)

Chùa Vân Am còn gọi là chùa Phạm Thông, chùa Đông Sơn. Chùa nằm ở triền núi Lợn Vàng, trong làng cổ Đông Sơn thuộc vùng đất Hàm Rồng nổi tiếng xứ Thanh với nhiều di tích lịch sử văn hóa và danh thắng. Địa danh này đã được sách Đại Nam nhất thống chí cho biết: “Đông Sơn xưa gọi là Đông Dương, sau lại gọi là Đông Cương (theo sách Di biên của Cao Biền), đến đời Trần gọi là Đông Sơn”. Như vậy tên gọi Đông Sơn có từ thời Trần, trước đây là địa phận tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Ngày nay chùa Vân Am thuộc làng Đông Sơn, phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa.

Vị trí

Chùa Vân Am cách trung tâm thành phố Thanh Hóa 4 km về phía bắc và cách cầu Hàm Rồng 1 km, nằm trong một hệ thống quần thể di tích của Hàm Rồng – Đông Sơn, một vùng đất mà ở đây mỗi khúc sông, ngọn núi, ruộng đồng, làng xóm hòa quyện vào nhau thành một cảnh tượng thật là kỳ vĩ và sinh động.

Làng cổ Đông Sơn là nơi lần đầu tiên phát hiện ra những di vật thuộc thời đại đồng thau và sắt sớm năm 1924, để từ đây mang tên văn hóa Đông Sơn, văn minh trống đồng nổi tiếng trong nước và quốc tế.

Khu vực Đông Sơn là trung tâm của bộ Cửu Chân thời Hùng Vương. Di tích khảo cổ học Đông Sơn được khai quật 7 lần chính thức và nhiều lần điều tra thám sát, đem lại một khối tư liệu về nhiều loại di tích: từ di tích cư trú cho đến di tích mộ táng. Hàng vạn hiện vật với nhiều loại hình phong phú gồm nhiều chất liệu khác nhau. Từ những di vật to lớn độc đáo như trống đồng Đông Sơn (với những hoa văn phong phú được khắc họa không chỉ có ý nghĩa trang trí mà còn là bức tranh miêu tả chân thực con người và sinh hoạt của thời kỳ dựng nước), cho đến những di vật nhỏ bé như hòn chì gốm, lưỡi câu đồng của cư dân đánh cá. Từ những hiện vật của các vùng miền xa xôi, đến những mảnh gốm được nung đốt trên chính đất Đông Sơn, tất cả đã phản ánh một cách sinh động khách quan trình độ đời sống vật chất – tinh thần của người Đông Sơn. Đây chính là vùng đất trung tâm của văn hóa Đông Sơn loại hình sông Mã.

Lịch sử

Chùa Đông Sơn là nơi thờ Phật và thờ vị danh y nổi tiếng Phạm Thông. Đây là nét độc đáo của di tích, ngoài việc thờ Phật còn thờ các vị cao tăng trụ trì ở chùa. Chùa Đông Sơn còn gắn liền với tên tuổi, sự nghiệp của hai nhà sư Quán Viên và Phạm Thông là những Thiền sư danh y ở thế kỷ XIII và XIV thời nhà Trần.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư, hay sách Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng in trong bộ Tùng thư, có chuyện “Nhập mộng liệu bệnh”. Chuyện về nhà sư Quán Viên chữa mắt cho vua Trần Anh Tông (1293 – 1314).

Lần ấy nhà vua bị đau mắt đã hơn một tháng, các ngự y đều không chữa khỏi, các danh y trong nước cũng lắc đầu. Bệnh tình nhà vua ngày càng trầm trọng. Bỗng đêm ấy vua nằm mộng thấy một vị sư lấy tay xoa vào mắt mình, càng xoa càng dễ chịu. Nhà vua hỏi “Tôn sư từ đâu tới, chức danh là gì?” Nhà sư đáp: “Bần tăng là Quán Viên đến chữa bệnh cho bệ hạ”. Nhà vua giật mình tỉnh mộng mắt liền hết đau nhức, qua vài ngày khỏi hẳn. Nhà vua sai quan đi dò hỏi giới tu hành ở kinh thành xem có biết ai là Quán Viên không. Nhiều người nói thầy tăng Quán Viên ở chùa Đông Sơn, núi Long Đại, giới hạnh thanh khiết, mắt tuệ vẹn nhuần, tiếng đồn đã mấy chục năm ròng, sư không thể rời khỏi am mây.

Vua Trần Anh Tông rất mừng, sai quan đến chùa Đông Sơn mời sư Quán Viên về kinh đô triều kiến. Quán Viên đến, nhà vua thấy hình dáng mặt mũi ông y hệt người trong mộng càng lấy làm kỳ lạ. Vua phong cho Quán Viên chức Quốc sư và ban thưởng rất hậu.

Vào khoảng đầu thế kỷ XIV, nhà sư Phạm Thông dòng dõi quan, xuất gia tu hành ở am Thanh Lương (chùa Thanh Lương ở bờ tây sông Thọ Giang thuộc thôn Hương Bào Nội, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá). Do đức hạnh cao siêu, vị sư này được Tăng ni, thiện tín tôn sùng như một đức tông sư cả nước với danh hiệu Tuệ Thông Đại sư do vua Trần Nghệ Tông (1370 – 1372) ban cho. Lúc tuổi cao, Đại sư chuyển về tu ở chùa Đông Sơn, nơi trước đây Quán Viên Quốc sư đã trụ trì. Đồ đệ đến đây theo học rất đông. Đại sư hóa trong tư thế đang ngồi, hưởng thọ ngoài tám mươi. Đồ đệ đem xác Đại sư hỏa táng, quan sở tại đã cho xây Bảo tháp của Đại sư ngay trên núi Đông Sơn, bên trong đặt Xá lị.

Kiến trúc

Chùa Đông Sơn tương truyền được xây dựng vào thời Trần, phần kiến trúc còn lại được xác định là theo kiểu chuôi vồ. Qua mấy trăm năm tồn tại, trải qua nhiều cuộc chiến tranh và sự hà khắc của thiên nhiên, chùa đã bị hư hại và tu sửa nhiều lần. Qua vật liệu xây dựng như gạch, ngói, vôi vữa và một vài dấu ấn mỹ thuật ở phần Hậu cung, ta biết được chùa xây dựng vào thời Lê. Tuy vậy, hàng ngàn mảnh gốm còn lại trên nền chùa, cho ta biết những dấu ấn về thời Lý, Trần khá đậm nét. Nhìn chung, kiến trúc của chùa mang dấu ấn của nhiều thời đại để lại, càng về sau càng đơn giản. Để xác định được niên đại, ta cũng thấy được qua văn thơ của các danh sỹ đương thời ghi lại và ca ngợi cảnh đẹp của chùa như những bài thơ: Vọng Đông Sơn Liễu nhiên am (vua Trần Nghệ Tông), Lầu trên hồ chùa Đông Sơn (Phạm Sư Mạnh), Du sơn tự (Nguyễn Trãi)…

Phần Hậu cung được cấu tạo theo kiểu hình vòm cuốn, với diện tích xây dựng hiện còn 50m2. Hậu cung gồm có 3 gian, được ngăn cách bằng các gờ gạch cũng theo kiểu hình cuốn. Phía trong các gian này được bố trí các bệ thờ theo thứ tự: Gian trong cùng có hai bệ thờ và gian ngoài cùng để trống, vừa là chỗ đi lại, vừa làm nơi tế lễ. Phía ngoài Hậu cung là hai bàn thờ nhỏ được xây ra bằng diện tích bề rộng của Tiền đường, cũng được xây cuốn. Trên bệ thờ của hai cửa nách này là một phần sót lại của Tiền đường cũng được bố trí hai bệ đá thờ. Hiện tại có hai dấu đá để tạm, hai bát hương bên trên mà nhân dân mới sắp đặt lại. Vật liệu xây dựng là gạch, ngói, vôi vữa. Nền được lát bằng loại gạch mới. Trên bệ vòm là gạch vồ thời Lê.

Nhìn từ phía ngoài thì Hậu cung gồm có 3 cửa ra vào hình chữ nhật, hai cửa nách nhỏ và cửa lớn ở giữa. Phía ngoài Hậu cung được cấu trúc theo kiểu bốn mái cong lên ở các góc. Tiếp giáp giữa đầu nóc và đường gờ mái là mặt hổ phù trên trán Hậu cung còn nguyên vẹn. Trên bề mặt của con giống này được gắn những mảnh gốm vỡ, phong cách này ta thường gặp trong các đền chùa có niên đại thời Lê – Nguyễn.

Ngoài cùng là Tiền đường có chiều rộng 8m, chiều dài 15m chỉ còn lại nền móng. Hiện vật trong di tích còn lại rất ít nhưng rất có giá trị, quý nhất là bức tượng Phật Di Đà có thể được xem là một công trình điêu khắc đá còn lại rất hiếm hoi của di tích và của thành phố Thanh Hóa. Tượng Phật Di Đà được thể hiện trong tư thế ngồi Thiền, một tư thế khiến tâm không bị lay động. Tượng ngồi trên bệ đá chân quỳ hình vuông. Mặt tượng bầu bĩnh, mặc áo cà sa, phía trước để lộ cả thanh y (áo trắng), ngực tượng nở, trên đó là bộ anh lạc với hoa và hạt… Một bát hương đá, trên bề mặt của bát hương được chạm khắc rồng chầu chữ Thọ: giữa bát hương chạm theo đường truyện, giữa đường truyện chạm trổ hình hoa lá 4 cánh. Dưới chân đế bát hương chạm hình rồng trong vân mây. Khoảng giữa chạm hình hoa cúc. Dưới cùng hoa cúc chạm theo kiểu dây leo.

Di vật

Trong chùa còn lưu giữ hai tấm bia đá thời Nguyễn:

– Tấm bia Hậu thứ nhất thời vua Thiệu Trị thứ 5 (1846), bia có kích thước 66cm x 45 cm. Nội dung văn bia như sau: “Ngày 29 tháng 8 năm Thiệu Trị thứ 5 (1846) các bậc kỳ lão, già làng, các viên chức, lý hương phục dịch, cùng toàn thể thôn Đông Sơn trùng tu lại chùa Phật hai tòa. Người trong thôn là vợ chồng Lương Trọng Đỉnh, đồng lòng cung tiến 40 quan tiền, 3 sào ruộng ở xứ Đồng Hàm để làm việc nghĩa, có xin bản thôn Đông Sơn nhận cho vợ chồng Lương Trọng Đỉnh có các người con gái mất sớm tên là Tảo Sinh, Tảo Vượng, Tảo Hóa Chiêu, Thuận Yên… được khắc vào bia đá trong chùa Đông Sơn để mỗi tuần ngày rằm mồng một, các ngày lễ tết, ủy thác cho nhà chùa cung cấp biện lễ kính ngưỡng đức Phật mãi mãi được nhờ ơn”.

– Tấm bia Hậu thứ hai được khắc tạo vào ngày 3 tháng 10 năm Tự Đức thứ 30 (1876), bia có kích thước 40cm x 65cm. Trên trán bia chạm khắc hình hổ phù. Xung quanh thân bia là hoa cúc dây. Nội dung văn bia được dịch nghĩa như sau: “Các bậc trên dưới nhân dân, binh lính, già làng, quan viên thôn Đông Sơn, xã Đông Sơn, tổng Thọ Hạc, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, để tu sửa thờ Phật, người trong thôn là Lương Trí Toán lòng thành cúng tiến 10 quan, ruộng 1 sào 3 miếng tại xứ Đồng Chuối là gốc. Người vợ hiền là Dương Thị Sưu vào chùa, mỗi ngày rằm, mồng một, đặt ở chùa thờ hiện rõ kính ơn đức Phật”.

Ngoài một số di vật nêu trên, trong di tích còn lưu giữ lại một số cột đá, các bệ đá gốc của chùa. Còn lại là một số đồ thờ và các bát hương đời mới.

Những di vật quý còn lại ở chùa Đông Sơn như tượng đá, bia đá, vết kiến trúc là những di vật có giá trị lịch sử, mỹ thuật, văn hóa, cung cấp cho chúng ta hiểu biết thêm về quá trình hình thành và phát triển của cư dân làng Đông Sơn trong lịch sử. Đây là một ngôi chùa trong đó có tôn thờ, tưởng niệm một vị sư tăng có công trong việc chữa bệnh giúp đời, là niềm tự hào của người dân Đông Sơn – Hàm Rồng và là chỗ dựa tinh thần trong quá trình tụ cư lập làng, xây dựng quê hương theo tiến trình lịch sử dân tộc.

Hiện tại khuôn viên chùa Đông Sơn vẫn còn giữ được nét cổ kính cùng với ý thức bảo vệ của dân làng, ngôi chùa đang được gìn giữ, tôn tạo lại, bổ sung vào khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ của một làng quê nổi tiếng về truyền thống văn hiến của mình. Chùa đã được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp tỉnh năm 1994.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập I), CN. Nguyễn Thanh Hiền

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Chua-Van-Am-Thanh-Hoa (4)

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926