Chùa Vạn Phúc (Đông Sơn, Thanh Hoá)

Chùa Vạn Phúc (Đông Sơn, Thanh Hoá)

Chùa Vạn Phúc thuộc xã Đông Hoà, huyện Đông Sơn. Xã Đông Hòa trước năm 1945 là xã Đồng Pho, tổng Liên Cừ. Từ năm 1948 là xã Đông Hoà.

Vùng đất Đông Sơn

Xã Đông Hòa là vùng đất mang đậm dấu ấn lịch sử và văn hóa, các di chỉ khảo cổ học như: Đồng Ngang, Bãi Phú, Cồn Sồng, núi Quỳnh và Bãi Vác đều thuộc nền văn hóa Đông Sơn.

Dưới thời Bắc thuộc, ở thời thuộc Tuỳ quận lỵ Cửu Chân từ Tư Phố (Thiệu Khánh) chuyển về Đông Phố (tức Đồng Pho) và trong suốt thời kỳ thuộc Đường thì Đông Phố vẫn là quận lỵ của Cửu Chân. Đông Phố vào thời Tuỳ là vùng đất rộng lớn bao gồm các xã ngày nay là: Đông Hoà, Đông Minh, Đông Ninh,… thuộc huyện Đông Sơn. Khi ấy Lê Ngọc (Lê Cốc) đang là Thái thú Cửu Chân. Khi nhà Đường diệt nhà Tuỳ, Lê Ngọc tự xưng Hoàng đế, cùng các con của mình xây dựng cung Trường Xuân (thuộc Đông Sơn) để chống lại nhà Đường. Lê Ngọc cùng các con đã hy sinh và được nhân dân một số nơi ở vùng Đông Sơn, Triệu Sơn, Nông Cống thờ làm Thành hoàng. Ngày nay vùng đất Đông Hòa và Đông Ninh vẫn tìm thấy dấu tích của Đông Phố, một lỵ sở của quận Cửu Chân xưa.

Xã Đông Hòa là vùng đất có nhiều di tích tín ngưỡng như: đền Lê Ngọc, Đình Thượng thờ Quận công Nguyễn Đăng Khoa và chùa Phúc Hưng, chùa Vạn Phúc.

Di tích lịch sử

Theo Văn bia chùa Vạn Phúc xã Đông Hòa cho biết: Chùa Vạn Phúc được khởi công xây dựng ngày 21 tháng 5 niên hiệu Vĩnh Tộ thứ 9 (1627) đời vua Lê Thần Tông và hoàn thành ngày 22 tháng 3 năm Nhâm Thân (1632). Chùa Vạn Phúc được xây dựng nhờ sự hưng công của Quận công Nguyễn Đăng Khoa giữ chức quan Trấn thủ trấn Thanh Hoa và phu nhân là Đỗ Thị Ngọc Thái. Chùa Vạn Phúc khi xây dựng có điện thờ Phật, có gác chuông, chùa là nơi thực hiện các nghi thức tôn giáo của nhân dân Đồng Pho và tín đồ Phật tử các xã lân cận. Trải qua thời gian, trải qua các biến cố thăng trầm của lịch sử, đến nay chùa cũ không còn nữa. Nhưng tấm bia đá và bài văn bia là minh chứng cho lịch sử tồn tại của di tích này. Nội dung văn bia như sau:

Chùa Vạn Phúc là một danh lam xã Đông Hòa huyện Đông Sơn, nơi tịnh độ này đã nuôi dưỡng và tạo nên một tòa Tam bảo thật là đệ nhất Quốc đảo dân cầu linh ứng, đệ nhất cõi thiền một đất phúc vậy. Nhưng để việc làm chùa được tiến hành tốt đẹp phải có người có lòng mộ đạo thiết tha và thành tâm làm điều thiện.

Kính nghĩ ngài Quận công Nguyễn Đăng Khoa dực vận tán trị công thần đặc tiến kim tử vinh lộc đại phu, tư lễ giám tổng Thái giám mưu lược giá sự trấn thủ trấn Thanh Hoa đôn hậu vốn người xã nhà, tài đức và phúc hậu hơn người chăm chí phò giúp minh quân, sửa trị sơn hà, phu nhân ngài là Đỗ Thị Ngọc Thái bản chất trong trắng tốt đẹp lại sinh ra trong nhà gia giáo nề nếp nên luôn luôn hướng thiện, muốn làm việc tốt lành. Ngài cùng phu nhân muốn làm điều thiện, để lại phúc đức cho con cháu, đã đem hơn ba mẫu một sào ruộng tốt; một mấu năm sào đất, năm sào ao hồ (cúng chùa) làm vật Tam bảo. Mọi người trong ấp, trong ấp ngoài xã vui vẻ cúng dường (tiền của) mua sắm gỗ luồng cùng mọi thứ chuẩn bị dựng chùa. Khởi công ngày 21 tháng 9 năm thứ chín niên hiệu Vĩnh Tộ (1627), triều vua Lê Thần Tông, đến ngày 22 tháng 3 năm Nhâm Thân (1632), hoàn thành chùa gồm có điện thờ Phật (tòa Tam bảo), đài Thiện Hưng, hành lang Phật đài cao ngất, gác chuông vươn cao vời vợi. Toàn cảnh điện đài lầu gác trông thật nguy nga bên trong điện là tượng phật lung linh sắc tiếng, chung quanh chùa có tường bao quanh, một cổng khởi chầu môn trông như cửa động, một cầu lim được bắc trên cao trông như cầu vươn đưa người vào cõi Phật thâm u. Từ nay người xuất gia tìm đạo đã có nơi ngẫm giải phô diễm nghĩa lý sâu xa thực là diễm phúc của quê hương đất nước, chúng dân muốn thắp hương dâng hoa, cúng tế cung chúc thánh phật đều có thể đến nơi này, một nơi cực lạc giữa cõi trần tục, người dân đôn hậu được chung hưởng sự bình an khang thái, sống trong đài xuân vui trong cõi thọ, kẻ quy y thì nhân duyên viên mãn công đức được đến cả Niết Bàn.

Chùa dựng xong nhờ tôi làm bức trần thuật và bài minh văn, lấy việc trông coi kỷ cương pháp độ mà xét thì đây là việc làm đầy ân nghĩa đạo đức và lòng chí thiện vậy. Tôi cho rằng sự làm mà hợp với đạo lý thì trời đất ban phúc đến cho mọi nhà, cho đất nước, dân được phúc, xã tắc được phúc, thiên hạ được phúc, triều đình được phúc tất cả được đắm trong bể phúc. Phải chăng đất phúc là kết quả của việc bồi đắp lòng chí thiện (?) nên chăng người làm việc lành tất được hưởng phúc, được hưởng điềm lành, người thánh thiện thân được hưởng thọ khang (khỏe mạnh sống lâu) vinh hiển, nhà được hưởng phúc lộc dồi dào, cháu con được hưởng phúc ấm dài lâu mà chúng dân (xóm giềng) vui được tiếng thơm lây; mãi mãi hậu duệ được hưởng lộc, tiếng thơm còn lưu mãi trong sử sách như tiếng chuông chùa mỗi sáng ngân nga; Ấm công dương đức vĩnh vĩnh viễn được ghi trên trúc, xoan, lục trắng.

Ngày nay chùa cũ không còn nhưng bia đá vẫn còn, bia đã được chính quyền địa phương cùng với lòng hảo tâm của bà con và du khách thập phương cung tiến làm nhà che bia để bảo tồn cho các thế hệ mai sau có thể biết đến và hoài niệm về một ngôi chùa cổ đã từng tồn tại hưng thịnh và phát triển song hành với lịch sử phát triển của dân tộc.

Tham khảo

  • Chùa Xứ Thanh (Tập IV), Nguyễn Đăng Ngân
Chấm điểm
Chia sẻ
eaf8a521bd23787d2132

Bài viết

Bài viết đang được cập nhật

Nội dung chính

Thờ tự
Nội dung đang được cập nhật.
Nhân vật
Nội dung đang được cập nhật.
Lễ hội
Nội dung đang được cập nhật.
Hình ảnh
Video

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

pexels4035926