Tên gọi và vị trí địa lý
Chùa Xã Đàn, tên chữ Kim Yên tự nằm ở phía Tây Nam thủ đô Hà Nội, thuộc thôn Xã Đàn, phường Nam Đồng, quận Đống Đa xưa kia là phường Xã Đàn, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội.
Lịch sử và nhân vật
Tương truyền, chùa Xã Đàn được dựng từ thời Lý cùng với thời điểm dựng Đàn Xã Tắc để tế thần Hậu Thổ và và Thần Nông (tức thần Đất và thần Ngũ Cốc), những vị thần được coi là quan trọng nhất đối với nền nông nghiệp xưa. Viết về sự kiện này, sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho hay:
Lập đàn xã tắc ở ngoài cửa Trường Quảng, bốn mùa cầu đảo cho mùa màng.1
Sách Việt Sử Thông Giám Cương Mục triều Nguyễn cho biết thêm:
Cùng với quá trình xây dựng kinh thành Thăng Long, vào năm 1048, dưới triều đại Lý Thái Tông, Đàn Xã Tắc đã được xây dựng ở phía Tây Nam kinh thành mà hiện nay dấu tích ta còn thấy rõ ngay bên chùa Xã Đàn.2
Minh chứng rõ ràng nhất là trong chùa có một quả chuông đồng đúc từ thời Nguyễn, cao 1m, chu vi 1,6m, có ghi rõ “phường Xã Đàn, tổng Vĩnh An, huyện Thọ Xương, phủ Hoài Đức, tỉnh Hà Nội”.
Chùa thờ Phật và còn hợp tự, trong đó 1 vị Thành hoàng của làng Xã Đàn (Xã Tắc cũ). Tương truyền, Bảo Hoa Công chúa là chị của tể tướng Lý Thường Kiệt, cùng ngài phá Tống, bình Chiêm, bảo vệ đất nước Đại Việt. Triều đại Tây Sơn có ghi công lao của bà bằng một sắc phong mang niên hiệu Cảnh Thịnh thứ tư (21-5-1796). Bà mất ở khu đền Cây Si và nhân dân đã lập bà làm thành hoàng làng. Sau khi đền bị phá, việc thờ tự được chuyển vào nhà Mẫu của chùa Xã Đàn.
Chùa được dựng từ xa xưa, những tấm bia còn lại sớm nhất là bia năm Quang Thiệu 5 (1520) đời vua Lê Chiêu Tông (1516 – 1522), bia Vĩnh Trị 1 (1676) nói rằng chùa được xây dựng từ xa xưa và đến những năm tháng này các hộ chủ hưng công tu tạo. Theo truyền thuyết, Bảo Hoa Công chúa được thờ tự ở chùa Xã Đàn chính là chị gái của anh hùng Lý Thường Kiệt. Bà giỏi cả văn lẫn võ. Hiện vật quý khác nằm ở cạnh giếng chùa là cây cột đá dài hơn 1m nằm dưới giếng chùa có hình dáng giống với cột đá chùa Một Cột mà các nhà nghiên cứu cho rằng đây là loại cột đá chỉ xuất hiện ở thời nhà Lý.
Ngôi chùa cũng ghi dấu ấn sâu sắc trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, không chỉ là căn cứ hậu cần quan trọng của cách mạng, mà còn là nơi đóng quân của tự vệ và vệ quốc đoàn, trạm cứu thương trung chuyển thương binh từ nội thành ra vùng ngoại thành. Theo sách Chùa cổ Việt Nam:
Chùa Xã Đàn vào những năm kháng chiến chống Pháp đã là nơi tập trung của dân quân tự vệ, nơi tạm trú sau các trận đánh.Chùa đã góp hàng tấn thóc gạo cho bộ đội và cũng là nơi băng bó chăm sóc thương binh. Chùa Xã Đàn còn là nơi chữa bệnh cho nhân dân trong vùng, mà đến nay vườn cây thuốc của chùa vẫn còn rất nhiều những cây thuốc quý.3
Như vậy, có thể xác định rằng chùa Xã Đàn có từ buổi đầu Kinh Thành Thăng Long cho tới tận ngày nay, nơi hội thề bảo vệ non sông xã tắc. Đây là nét điển hình của một chùa Phật giáo Việt Nam.
Kiến trúc cảnh quan
Chùa được trùng tu, sửa chữa vào các năm: Quang Thiệu thứ 5 (1520), Vĩnh Trị nguyên niên (1676), Chính Hòa thứ 20 (1699), Tự Đức thứ 30 (1877), Thành Thái thứ 14 (1902). Sau này, chùa tiếp tục được quan tâm tôn tạo. Các công trình kiến trúc của chùa Xã Đàn hiện nay gồm: Tam Quan, Lầu Quan Âm, Tiền Đường, Thượng Điện, nhà Tổ, nhà Mẫu, nhà khách, vườn Tháp mộ các vị sư đã viên tịch tại đây và những công trình phụ trợ. Kiến trúc xưa nhất còn lại là các viên gạch vồ của thế kỷ XV-XVI.
Tam Quan chùa Xã Đàn là kiến trúc khá đồ sộ gồm 3 cổng xây chồng diêm hai tầng 8 mái lợp giả ngói ống, chính giữa bờ nóc đắp đôi rồng chầu vào bánh xe Pháp luân, bên trong có chữ “Vạn”. Hai cổng bên trang trí rồng chầu mặt trời, các góc đao gắn hình rồng lá cách điệu, phía dưới đắp bức hoành phi đề 3 chữ: “Kim Yên tự”. Liên kết giữa các cổng là 4 cột đồng trụ trang trí trái Dành cách điệu, nghê chầu, thân trụ đắp câu đối chữ Hán.
Chùa chính dựng theo kiểu chữ Đinh, quay hướng đông nam, có 4 gian khá rộng. Năm bộ vì của Thượng điện có 3 dạng kết cấu khác nhau: vì ván mê, vì chồng rường giá chiêng, vì chồng. Năm bộ vì của Thượng điện có 3 dạng kết cấu khác nhau: vì ván mê, vì chồng rường giá chiêng, vì chồng rường con nhị. Nhà Tổ có 4 gian xây ghép vào phía tường mặt bắc của Hậu cung.
Nhà Mẫu còn gọi là đền vì đình và đền Xã Đàn khi bị phá đi thì mọi di vật còn lại được chuyển về chùa này và được thờ tại đây. Nhà Mẫu được xây dựng liền vối Hậu cung. Nhà Mẫu gồm 3 gian 2 dĩ, xây kiểu tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta. Bộ khung kết cấu kiểu “Thượng giá chiêng hạ cốn”. Đây là nơi “hợp tự” thờ Thành Hoàng làng Xã Đàn là Ngọc Hoa Công Chúa ngồi trong ngai rộng, trên cao là bức hoành phi “Nữ trung hào kiệt”, cùng với Tam Tòa Thánh Mẫu, chúa Sơn Trang và Đức Thánh Trần.
Nhà Tổ thiết kế dạng chữ “Đinh” gồm 3 gian Tiền Tế, 1 gian Hậu Cung theo cách thức truyền thống. Bộ khung kết cấu kiểu “Chồng rường giá chiêng hạ kẻ” kết hợp trang trí tứ linh, tứ qúy, văn triện, lá lật tạo sự thanh thoát cho kiến trúc.
Phía sau chùa vẫn còn một giếng hình bán nguyệt. Theo quan niệm dân gian thì đây là nơi tụ phúc, tụ thủy cho di tích. Xung quanh giếng đã được kè đá hoàn chỉnh. Sau giếng là khu Vườn Tháp tạo cho cảnh chùa thêm phần thanh u, trầm mặc.
Hiện vật
Như đã nói ở trên, chùa Xã Đàn hiện còn lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm gồm một quả chuông đồng đúc từ thời Nguyễn, cao 1m, chu vi 1,6m; một số viên gạch vồ có từ thế kỷ XV – XVI; đạo sắc phong niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 4 (1796). Ngoài ra còn có 5 tấm bia đá có niên đại từ thế kỷ XVI đến XIX, “sớm nhất là bia Quang Thiệu 5 (1520) đời vua Lê Chiêu Tông và bia cuối cùng có niên đại Thành Thái 14 (1902)”4. Cùng với đó là hệ thống tượng được tạo tác mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XVIII – XIX…
Những di vật này đã khẳng định sự phát triển liên tục của chùa Xã Đàn trong tiến trình lịch sử, ngoài việc cung cấp cho chúng ta những tư liệu quý về mặt lịch sử, văn hóa, điêu khắc nghệ thuật…, là những cổ vật vô cùng quý hiếm góp phần làm giàu thêm kho tàng di sản văn hóa của Thăng Long – Hà Nội.
Sự kiện và lễ hội
Hàng năm tại nơi đây nhà vua xưa đích thân ra làm lễ tế cáo trời đất.
Xếp hạng
Chùa Xã Đàn được được Bộ Văn hoá và Thông tin xếp hạng xếp hạng di tích cấp Quốc gia năm 1990.
Nhắc tới Xã Đàn, người đời vẫn còn ngâm ngợi:
Xã Đàn thuộc phía hữu Thăng Long
Phật ngự Kim Yên đỉnh chín rồng.
Chú thích
- Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam, 1993, tr 102.
- Việt Sử Thông Giám Cương Mục
- Vũ Ngọc Khánh (chủ biên), Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh Niên, 2006, tr 189.
- Vũ Ngọc Khánh (chủ biên), Chùa cổ Việt Nam, sđd, tr 190.
Tham khảo
- Thích Thanh Giác (2017), Chùa cổ Hải Phòng, tập 2, Nxb Hải Phòng.
- Vũ Ngọc Khánh (chủ biên) (2006), Chùa cổ Việt Nam, Nxb Thanh Niên.
- Ngô Sĩ Liên (1993), Đại Việt Sử Ký Toàn Thư – Bản Kỷ – Quyển II, Viện Khoa Học Xã Hội Việt Nam.
- Lưu Minh Trị (chủ biên) (2011), Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 02, Nxb Hà Nội.
_____________________________________
Các ngôn ngữ khác
1. Tiếng Anh (English)
Name and Geographical Location
Xa Dan Pagoda, formally Kim Yen Tu, lies in the southwest of Hanoi, in Xa Dan hamlet, Nam Dong ward, Dong Da district (formerly Xa Dan ward, Tho Xuong district, Hoai Duc prefecture, Hanoi province).
History and Figures
Tradition holds that Xa Dan Pagoda was erected in the Ly dynasty, contemporaneous with the construction of the Xa Tac Altar to worship Hau Tho (Earth Deity) and Than Nong (God of Five Grains). The Dai Viet Su Ky Toan Thu records: “The Xa Tac altar was established outside the Truong Quang Gate; prayers were offered four seasons for good harvests.” The Nguyen-dynasty Viet Su Thong Giam Cuong Muc adds that in 1048, under Ly Thai Tong, the altar was built to the southwest of the capital—whose vestiges remain beside Xa Dan Pagoda today.
A bronze bell cast in the Nguyen era (h. 1 m; circumference 1.6 m) bears the inscription “phuong Xa Dan, tong Vinh An, huyen Tho Xuong, phu Hoai Duc, tinh Ha Noi,” confirming the site.
The pagoda enshrines the Buddha and also performs hop tu (combined worship). One village tutelary deity of Xa Dan (old Xa Tac) is honored here. Tradition says Princess Bao Hoa—elder sister of the grand councillor Ly Thuong Kiet—joined him in defending Dai Viet; a royal patent dated the 4th year of Canh Thinh (May 21, 1796) under Tay Son acknowledges her merits. After her temple (Den Cay Si) was destroyed, her cult was moved to the Mother Goddess hall of Xa Dan Pagoda.
Surviving steles—Quang Thieu 5 (1520) and Vinh Tri 1 (1676)—state the pagoda is ancient and was restored by local donors in those years. A notable relic near the well is a stone pillar over 1 m long, similar to the One-Pillar Pagoda column type, which researchers attribute to the Ly period.
During the anti-French resistance, the pagoda served as a logistics base, billet for militia and Vệ quốc đoàn, and a field aid station evacuating wounded from the inner city; its medicinal garden is remembered for many rare herbs.
Architecture and Landscape
Recorded restorations: Quang Thieu 5 (1520), Vinh Tri 1 (1676), Chinh Hoa 20 (1699), Tu Duc 30 (1877), Thanh Thai 14 (1902); later works continued. Current components include the Tam Quan gate, Avalokitesvara Pavilion, Front Hall (Tien Duong), Upper Sanctuary (Thuong Dien), Patriarchs’ Hall, Mother Goddess Hall, guest house, a stupa garden for deceased abbots, and auxiliaries. The oldest fabric comprises large “vo” bricks from the 15th–16th centuries.
The monumental Tam Quan faces southeast: three stacked-eave towers (two tiers, eight faux-tube roofs). The ridge bears a dragon pair flanking the Dharma Wheel with the Van (svastika) inside; side gates show dragons adoring the sun; finials are stylized leaf-dragons; the central plaque reads “Kim Yen Tu.” Four lantern pillars link the gates, decorated with stylized danh fruit, kneeling guardian lions, and Sino-Vietnamese couplets.
The main pagoda is Dinh-plan (丁), facing southeast, with four broad bays. The Upper Sanctuary uses three frame types: boarded-beam truss, chong ruong gia chieng (stacked purlins with tie-beam), and chong ruong con nhi. The Patriarchs’ House (four bays) adjoins the north wall of the rear sanctuary.
The Mother Goddess Hall (built onto the rear sanctuary) houses the transferred cults after the Xa Dan communal temple and shrine were destroyed. It is three bays, two lean-tos, bit doc gables, clay tiles; frame type thuong gia chieng ha con. Here are enshrined the Xa Dan tutelary deity Princess Ngoc Hoa (in a broad throne) beneath the plaque “Nu trung hao kiet,” together with the Three Mothers (Tam Toa Thanh Mau), Chua Son Trang, and Duc Thanh Tran.
The Patriarchs’ House is also Dinh-plan (three-bay forehall, one-bay rear sanctum), frame chong ruong gia chieng ha ke, with tu linh, tu quy, seal motifs, and leaf scrolls lending lightness.
Behind the pagoda is a semicircular well—traditionally the locus of phuc and thuy—neatly revetted, with a stupa garden beyond, deepening the tranquil, contemplative ambiance.
Artifacts
Notable holdings include: a Nguyen-era bronze bell (h. 1 m; circ. 1.6 m); 15th–16th-century large bricks; a royal patent dated Canh Thinh 4 (1796); five stone steles from the 16th–19th centuries (earliest: Quang Thieu 5, 1520; latest: Thanh Thai 14, 1902); and a sculptural system in 18th–19th-century styles. These substantiate the pagoda’s continuous development and enrich Thang Long–Hanoi’s cultural heritage.
Events and Festivals
In former times the sovereign personally came here annually to offer state rites to Heaven and Earth.
Heritage Status
Xa Dan Pagoda was designated a National Relic in 1990 by the Ministry of Culture and Information.
“Xa Dan thuoc phia huu Thang Long / Phat ngu Kim Yen dinh chin rong.”
2. Tiếng Pháp (Français)
Nom et Localisation Géographique
La pagode Xa Dan, nom liturgique Kim Yen Tu, se situe au sud-ouest de Hanoï, au hameau Xa Dan, quartier Nam Dong, district de Dong Da (autrefois quartier Xa Dan, district Tho Xuong, préfecture Hoai Duc, province de Hanoï).
Histoire et Personnages
Selon la tradition, la pagode Xa Dan fut érigée sous les Ly, en même temps que l’autel de Xa Tac pour le culte de Hau Tho (la Terre) et de Than Nong (les Cinq Céréales). Le Dai Viet Su Ky Toan Thu note l’établissement de l’autel à l’extérieur de la porte Truong Quang pour des prières saisonnières aux récoltes. Le Viet Su Thong Giam Cuong Muc (Nguyen) précise qu’en 1048, sous Ly Thai Tong, l’autel fut construit au sud-ouest de la capitale—dont on voit encore la trace près de la pagode.
Une cloche de bronze d’époque Nguyen (h. 1 m ; circonférence 1,6 m) porte l’inscription « phuong Xa Dan, tong Vinh An, huyen Tho Xuong, phu Hoai Duc, tinh Ha Noi ».
La pagode vénère le Bouddha et pratique le hop tu. Une divinité tutélaire du village Xa Dan (ancien Xa Tac) y est honorée. La princesse Bao Hoa—sœur aînée du chancelier Ly Thuong Kiet—aurait participé aux campagnes contre Song et Champa ; un brevet royal daté de la 4e année Canh Thinh (1796) sous Tay Son consigne ses mérites. Après la destruction du sanctuaire d’origine, son culte fut transféré à la salle de la Déesse-Mère de la pagode.
Des stèles (Quang Thieu 5, 1520 ; Vinh Tri 1, 1676) attestent des restaurations anciennes. Un pilier de pierre d’un mètre, près du puits, rappelle le type de colonne de la pagode au Pilier Unique, attribué à l’époque Ly.
Durant la résistance contre les Français, la pagode servit de base logistique, de cantonnement de milices et de poste sanitaire ; son jardin médicinal est renommé.
Architecture et Paysage
Restaurations consignées : 1520, 1676, 1699, 1877, 1902 ; d’autres suivirent. Aujourd’hui : porte Tam Quan, pavillon d’Avalokitesvara, Tien Duong, Thuong Dien, salles des Patriarches et de la Déesse-Mère, maison d’hôtes, cimetière de stupas, et annexes. Les plus anciens éléments sont des briques massives des XVe–XVIe siècles.
Le Tam Quan monumental (deux niveaux, huit toits) présente au faîte deux dragons encadrant la roue du Dharma (avec le Van). Les portails latéraux portent dragons et soleil ; le cartouche central lit « Kim Yen Tu ». Quatre piliers-lanternes relient l’ensemble, décorés de fruits stylisés, de nghe et de couplets en caractères chinois.
L’édifice principal adopte le plan en « 丁 » (Dinh), orienté sud-est, quatre travées. La charpente du Thuong Dien combine van me, chong ruong gia chieng et chong ruong con nhi. La salle des Patriarches (quatre travées) jouxte le mur nord du sanctuaire arrière.
La salle de la Déesse-Mère, contiguë, abrite les cultes transférés : la princesse Ngoc Hoa (plaque « Nu trung hao kiet »), les Trois Mères, Chua Son Trang, et Duc Thanh Tran.
La maison des Patriarches, aussi en « 丁 », (trois travées avant, une arrière), charpente chong ruong gia chieng ha ke, décor tu linh, tu quy, motifs sigillaires et rinceaux.
À l’arrière, un puits en demi-lune — lieu de phuc et thuy — est ceint de pierres ; au-delà, un jardin de stupas crée une atmosphère sereine.
Objets Conservés
Cloche de bronze Nguyen (h. 1 m ; circ. 1,6 m) ; briques massives des XVe–XVIe s. ; brevet royal Canh Thinh 4 (1796) ; cinq stèles des XVIe–XIXe s. (de 1520 à 1902) ; et un ensemble statuaire des XVIIIe–XIXe s. Ces pièces prouvent la continuité du sanctuaire et enrichissent le patrimoine de Thang Long–Hanoï.
Événements et Fêtes
Autrefois, le souverain venait y accomplir chaque année des rites d’État à Ciel et Terre.
Classement Patrimonial
La pagode Xa Dan a été classée monument national en 1990 par le Ministère de la Culture et de l’Information.
3. Tiếng Trung (中文)
名称与地理位置
社坛寺,字名金安寺(Kim Yen Tu),位于河内市西南部,属栋多郡南同坊社坛村(旧为社坛坊、授绣县、怀德府、河内省)。
历史与人物
相传社坛寺创建于李朝,与建置社稷坛同时,用以祀后土与神农。大越史记全书载:“于长广门外立社稷坛,四时祈祷,以求丰年。”阮朝越史通鉴纲目又云:1048年(李太宗)于都城西南建社稷坛,其遗迹今仍在社坛寺旁。
寺内存阮代铜钟一口,高1米、围1.6米,铭文“社坛坊、永安总、授绣县、怀德府、河内省”,为确证。
寺以释教为主,并行“合祀”。社坛村城隍之一祀于此。传说保花公主为李常杰之姊,辅佐破宋平占;西山朝景盛四年(1796)赐有敕封。其原祠(榕树庙)毁后,祭祀移入社坛寺母庙。
现存碑刻:光绍五年(1520)、永治元年(1676)等,皆记古寺与当时修葺。寺井旁石柱长逾一米,形制类“一柱寺”石柱,学者多以为李朝遗制。
抗法时期,寺为后勤据点、民兵与卫国军驻扎处,并设救护站转运伤员;寺药圃以珍稀草药著称。
建筑与景观
重修记年:1520、1676、1699、1877、1902,后续又有修缮。现存建筑:三关山门、观音楼、前殿、上殿、祖师殿、母庙、客舍、塔园及附属建筑;最古者为十五—十六世纪大“莺砖”。
三关门体量宏大:重檐八脊,正脊双龙拱法轮,内镌“卍”;两侧门饰“龙拱日”,戗角作叶龙;匾额题“金安寺”;四座灯柱相连,饰 stylisé 果纹、狻猊与汉文楹联。
正殿为“丁”字式,坐东南向,四间。上殿五架梁,兼用“板糜”“重枋架铛”“重枋儿二”之制。祖师殿四间,接后殿北墙。
母庙与后殿相连,三间两厦,墙垣“闭堵”式,覆瓦;梁架“上架铛下枋”。合祀社坛村城隍——玉花公主(额题“女中豪杰”),并祀三宫圣母、山庄圣主与圣陈。
祖师殿亦为“丁”式(三间前堂、一间后室),梁架“重枋架铛下枓”,饰四灵、四季、印纽纹与叶饰。
寺后存半月形古井,俗谓“聚福聚水”,井圈砌石;其后为塔园,境致清寂。
文物
阮代铜钟(高1米、围1.6米);十五—十六世纪大砖;景盛四年(1796)敕书;十六—十九世纪石碑五通(最早1520,最晚1902);并有十八—十九世纪佛像群。诸物证成社坛寺之历史延续,兼具史、艺、雕刻之学术价值。
活动与祭典
昔日帝王每岁亲临行“郊祀”与“告天告地”大礼。
遗产地位
社坛寺于1990年被文化与信息部列为国家级遗迹。
“社坛属上都右,佛御金安九龙峰。”
