Chùa Xuân Nộn (chùa Dao Quang – Đông Anh, Hà Nội) 

Chùa Xuân Nộn (chùa Dao Quang – Đông Anh, Hà Nội) 

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý 

Chùa Xuân Nộn, tên chữ là Dao Quang Tự, còn được nhân dân địa phương quen gọi là chùa Cả, tọa lạc tại thôn Xuân Nộn, xã Xuân Nộn, huyện Đông Anh, (nay thuộc xã Thư Lâm thành phố Hà Nội). Từ xa xưa Xuân Nộn có tên nôm là Kẻ Bể, là nơi có cảnh đẹp nổi tiếng với dòng sông Cà Lồ uốn lượn và nằm trong địa bàn quan trọng của nhà nước Văn Lang. 

Lịch sử hình thành và di vật 

Theo truyền thuyết, chùa được xây dựng từ thời vua Lý Thánh Tông (1054-1072).  Vào khoảng cuối thế kỷ XVII – đầu thế kỷ XVIII, chùa đã có quy mô bề thế, là một danh lam cổ tự nổi tiếng trong vùng. Đến thời vua Cảnh Hưng, chùa tiếp tục được trùng tu, mở rộng với quy mô lên tới 100 gian, sang thời Nguyễn, chùa lại được tu sửa nhiều lần. 

Không chỉ mang giá trị lịch sử, kiến trúc và tín ngưỡng, chùa Xuân Nộn còn ghi dấu ấn sâu đậm trong lịch sử cách mạng địa phương. Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp, chùa là nơi sinh hoạt Đảng, kết nạp đảng viên trong điều kiện hoạt động bí mật, đồng thời là địa điểm để du kích xã tập luyện, chuẩn bị cho cuộc đấu tranh giành chính quyền trong Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đặc biệt, chùa còn là nơi thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của xã Xuân Nộn, tiền thân của Đảng bộ xã Xuân Nộn ngày nay.

Kiến trúc cảnh quan

Chùa tọa lạc trong khu dân cư , là nơi sinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân địa phương. Từ đường làng rẽ vào có một lối đi dẫn thẳng vào khuôn viên chùa qua cổng chính. Các hạng mục kiến trúc hiện nay phần lớn đã được xây dựng mới, đến thời điểm hiện tại, chùa vẫn đang trong quá trình thi công và chưa hoàn thiện toàn bộ các công trình. Ngày nay chùa đã hoàn thành các hạng mục chính gồm: Cổng, Tam Quan, Tam Bảo, Nhà Tổ, Nhà Mẫu, Vườn Tháp, Tịnh Xá, Nhà Khách. 

Cổng

Cổng chùa được thiết kế đơn giản, gồm hai trụ vuông thấp hai bên chịu lực cho cánh cổng sắt, với chiều rộng hơn 2 mét. Cổng nối liền với dãy tường bao quanh khuôn viên di tích. Qua cổng là tiến vào sân chùa được lát gạch, có nhiều cây cối tạo bóng mát. 

Tam Quan

Từ cổng bước vào sân khoảng vài trăm mét, nhìn sang bên trái là Tam Quan, điểm đặc biệt là Tam Quan quay hướng ra một ao hồ rộng trước mặt, chứ không phải lối ra vào chính. Công trình Tam Quan mới được xây dựng, quy mô lớn, gồm ba lối cổng ở giữa và hai trụ biểu hai bên.

Mỗi cửa có hai tầng với tám mái, tầng trên là gác chuông, được trang trí tinh xảo với họa tiết rồng, mây, dây lá, búp sen, thân cột khắc chữ Hán, đỉnh trụ gắn chim phượng. Hai bên Tam Quan là hành lang dẫn lên tầng trên, mái Tam Quan lợp ngói, các góc đao uốn cong mềm mại. Phía trước Tam Quan là hồ nước hình bán nguyệt, bao quanh bởi lan can đá, giữa hồ là hai tượng A Di Đà và tượng Bồ Tát đứng trên đài sen. 

Tam Bảo

Nằm song song phía sau Tam Quan là Tam Bảo, Tòa được xây dựng ở vị trí trung tâm và cao nhất trong khuôn viên, được bao quanh bởi các tòa nhà khác. Tam Bảo có kiến trúc chữ Công (工) bao gồm Tiền Đường và Hậu Cung và gian Ống Muống. Công trình nổi bật với hai mái chồng diêm, mang đậm dấu ấn truyền thống. 

Phía trước Tiền Đường là dãy bậc thang dẫn lên, Tiền Đường gồm ba gian hai chái, ba gian giữa là lối đi chính, hai chái xây kín. Bao quanh là dãy hành lang với lan can và hệ thống cột bằng đá, tạo sự uy nghi và cân đối. 

Bên trong Tiền Đường được trang trí hệ thống cửa võng được treo ở mỗi gian thờ, phía trên là hoành phi, câu đối sơn thếp vàng. Hệ thống tượng được đặt ở từng gian gồm: Tượng Hộ Pháp (Khuyến Thiện-Trừng Ác), Đức Ông, Đức Thánh Hiền. Đi vào trong là gian Ống Muống dẫn vào bên trong Hậu Cung. 

Hậu Cung là gian thờ chính của chùa, hệ thống tượng được tập trung trên bệ, bệ được sắp xếp từ thấp đến cao theo thứ tự. Bên cạnh tượng là bày biện đồ thờ cúng. Phần mái chồng diêm được lợp ngói mũi hài, các góc đầu đao uốn cong hình rồng, phần đầu hồi trên gác mái được đắp nổi hình hổ phù. 

Trước mặt Tam Bảo, một bên dựng bia đá bốn mặt, bên còn lại là ngôi tháp cổ, tạo nên điểm nhấn đặc trưng, làm nổi bật không gian tổng thể của di tích.

Nhà Mẫu

Bên tay phải Tam Bảo là Nhà Mẫu, gồm ba gian với hiên trước bốn cột đá vững chãi. Phía trước hiên, hai bên đầu hồi là hai trụ biểu cao, tạo điểm nhấn uy nghi. Ba gian giữa là lối ra vào, được trang bị hệ thống cửa gỗ bức bàn tinh xảo, trên mái chính giữa gắn cuồng lửa, hai góc mái trang trí con kìm, thể hiện vẻ đẹp hài hòa giữa kiến trúc và nghệ thuật trang trí truyền thống. Đây là nơi thờ Mẫu, giữ vị trí quan trọng trong quần thể di tích.

Bên cạnh Nhà Mẫu còn có một ngôi nhà nhỏ hai gian, bổ sung không gian phục vụ cho sinh hoạt và các hoạt động thờ cúng trong chùa. 

Nhà Khách Tăng

Nằm cạnh ngôi nhà nhỏ hai gian là Nhà Khách Tăng, có kiến trúc hiện đại với hai tầng và bảy gian, mỗi tầng được chia thành nhiều phòng riêng, nhằm phục vụ tăng ni, các nhà sư, tăng sĩ, nghỉ ngơi và sinh hoạt khi ở lại chùa hoặc tham gia các hoạt động tôn giáo. Công trình thường bao gồm phòng ngủ, phòng sinh hoạt chung, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của tăng ni. Ngoài ra, Nhà Khách Tăng cũng có thể tiếp đón tăng ni từ các chùa khác hoặc học giả đến nghiên cứu. 

Liền kề Nhà Khách là dãy nhà năm gian, thiết kế thoáng, không xây tường hay cửa, tạo không gian mở, đây là nơi nghỉ ngơi cho du khách đến chùa lễ. 

Nhà Tổ

Nhà Tổ nằm ở phía sau Tam Bảo, gồm năm gian hai chái, có kiến trúc hình chữ Nhị (=), với hai nếp nhà trên cùng một nền. Từ sân dẫn lên nhà là chín bậc thang, hai bên là hàng lang gồm sáu cột đá. Năm gian giữa là lối ra vào chính, hai gian bên đầu hồi xây kín tường, trên tường còn trổ cửa tròn tinh xảo. Nếp nhà thứ nhất là Tiền Đường, nếp nhà phía sau là nơi thờ tự chính các vị Tổ sư của chùa. 

Trên nóc mái chính giữa được gắn bức đại biểu dạng cuốn thư. Trên khoảng tường đầu hồi, các chi tiết trang trí đắp nổi hình hổ phù, kết hợp hài hòa giữa nghệ thuật điêu khắc và kiến trúc truyền thống.

Nhà Ăn

Nằm liền kề Nhà Tổ là dãy nhà Tịnh Xá, được thiết kế ba tầng, bảy gian, phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi và ăn uống cho tăng ni, phật tử. 

Giáng Đường 

Tiếp liền kề là Nhà Giáng, gồm hai tầng với bảy gian, phục vụ các hoạt động giảng dạy và sinh hoạt trong chùa.

Nhà Từ Ân

Nhà Từ Ân nằm bên tay phải Tam Bảo, gồm bảy gian, ba gian phía đầu hồi bên trái được đóng cửa gỗ, ba gian giữa để thoáng, không lắp cửa, không chia ngăn, gian đầu hồi bên phải xây kín, trên tường trổ cửa hình vuông. Hai bên đầu hồi được bố trí hai trụ biểu. 

Vườn Tháp

Nằm bên cạnh Nhà Từ Ân là Vườn Tháp, gồm năm ngôi tháp được bố trí bốn ngôi tháp ở bốn góc, một ngôi tháp ở vị trí giữa. Xung quanh bao bọc bởi bức tường thấp, tạo không gian trang nghiêm và cân đối trong khuôn viên chùa.

Di vật

Hiện nay chùa còn lưu giữ 3 pho tượng Tam Thế và 18 pho tượng tròn, 3 tấm bia đá:

  • Dao Quang tự/Nhất công đức/Phật Pháp Tăng/Tam bảo bi ký, niên đại Chính Hòa 6 (1685), nội dung: Ghi lại công đức của Chính vương phủ Thị nội cung tần đại ưu bà tắc Trần Thị Ngọc An, hiệu Diệu Thái (gọi là bà Đức Tần). Chân tông hoàng thái hậu ma ha (ma ha nghĩa là to lớn) ưu bà di Trịnh Thị Ngọc [Ức], pháp hiệu Diệu Thọ đúc một quả chuông lớn cúng tiến, lại mua 5 thửa ruộng giao cho xã Xuân Nộn trông nom để làm giỗ cho bà. 
  • Hai tấm bia Hậu Phật bi ký, Hậu Phật bi ký niên đại Cảnh Hưng 44 (1783), nội dung: Ghi lại ngày giỗ của 31 vị hậu Phật được thờ tại chùa. 

Xếp hạng 

Chùa đã được UBND thành phố Hà Nội xếp hạng Di tích Kiến trúc Nghệ thuật năm 1999. 

Tài liệu tham khảo: 

  1. Vũ Văn Quân (chủ biên), 2019,  Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, tập 10, Nxb. 
  2. Lưu Minh Trị, Theo Hà Nội Danh thắng và Di tích, tập 02, Nxb Hà Nội. 
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
Chua-Dao-Quang-Đong-Anh-Ha-Noi

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)