Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Bà Triệu nằm ngay trên đường quốc lộ 1A thuộc làng Phú Điền, xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hoá, cách TP Thanh Hoá gần 18 km về phía Bắc. Phú Điền xưa gọi là Kẻ Bồ, Bồ Điền.
Đền Bà Triệu tựa lưng vào dãy núi Bân (tên chữ là Bân Sơn) mặt đền ngoảnh hướng Tây, đối diện với dãy núi Trường Sơn. Nơi đây xưa là chiến trường giao tranh giữa quân Bà Triệu và quân Ngô. Sau khi bà mất, triều đình và dân làng đã lập đền thờ bà ở dưới chân núi Tượng Lĩnh (còn có tên là núi Gai).
Khu di tích Bà Triệu có giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa, khoa học, là nơi thể hiện sự tri ân của nhân dân đối với công đức, khí phách anh hùng của Bà Triệu và các tướng lĩnh trong cuộc khởi nghĩa chống xâm lược phương Bắc, giành độc lập dân tộc vào năm 248.
Lịch sử và nhân vật
Tương truyền đền Bà Triệu được xây dựng từ thời Tiền Lý (Lý Nam Đế), khi nhà vua đem quân đi dẹp giặc ở phương Nam, qua đây trú quân lại một đêm. Được Bà Triệu báo mộng giúp vua, nên ngày thắng giặc trở về, nhà vua đã cho sửa sang lại lăng mộ và lập đền thờ Bà.
Ban đầu khởi dựng đền chỉ có 3 gian gỗ lợp bằng tranh, bên trong có một bệ thờ Bà Triệu, trải qua nhiều đời tu sửa, đền trở nên cao đẹp như hiện nay.
Dân gian địa phương có câu ca dao:
Ai qua Hậu Lộc, Phú Điền
Nhớ xưa Bà Triệu trận tiền xông pha
Bà Triệu
Bà Triệu sinh ngày 2 tháng 10 năm Bính Ngọ (226), bà được gọi với nhiều tên khác nhau như: Triệu Âu, Triệu Thị Trinh, Triệu Trinh Nương, Lệ Hải Bà Vương. Quê hương bà ở vùng núi Quân Yên quận Cửu Chân, Thanh Hóa (xã Định Công, huyện Thiệu Yên ngày nay).
Cha mẹ mất sớm, bà ở với anh cả Triệu Quốc Đạt một hào trưởng lớn. Năm 248, Bà Triệu Thị Trinh cùng anh là Triệu Quốc Đạt phất cờ khởi nghĩa, lấy núi Nưa, vùng Nông Cống, Triệu Sơn làm căn cứ, tấn công vào quân Ngô xâm lược và đô hộ.
Bà đã tuẫn tiết tại núi Tùng vào ngày 22 tháng 2 năm Mậu Thìn (248), để ghi nhớ công ơn người nữ anh hùng đã vì dân, vì nước, triều đình các thời Lý, Trần, Lê, Nguyễn đều xây dựng, tu sửa đền miếu, ban sắc phong cho bà. Bà Triệu đã được ban nhiều sắc phong với nhiều mỹ tự và danh hiệu khác nhau như: “Bậc chính phu nhân”, “Anh liệt phu nhân”, “Hùng tài phu nhân”, “Hồng âm, mậu đức đại vương” v.v…
Kiến trúc cảnh quan
Trải qua nhiều lần trùng tu, hiện nay, đền Bà Triệu tọa lạc trên diện tích hơn 4 ha, nằm trong quần thể di tích bao gồm Đền thờ, Lăng tháp và Đình làng Phú Điền. Ba di tích này tạo thành một quần thể tam giác vững chắc: đình – lăng – đền, được bảo vệ và giữ gìn nguyên vẹn với các kiến trúc truyền thống có nguồn gốc từ thế kỷ XVIII.
Đền Bà Triệu được xây dựng trên thế đất cao, theo kiến trúc hình chữ Tam, gồm các hạng mục chính như: Nghi Môn, Tam Quan, Tiền Đường, Trung Đường, Hậu Cung, Tả/Hữu mạc.
Từ mặt đường, một dãy bậc thang dẫn lên cổng, tạo thành một cung đường dốc lên đền.
Nghi Môn
Cổng được xây dựng theo lối kiến trúc cổng tứ trụ chất liệu bằng đá khối, tường chạm nổi hình voi ở hai bên. Các ô hộc ở trụ cổng và tứ trụ chạm hình long, ly, quy, phượng, bốn mặt liền khối đá thân trụ, các đầu trụ được trang trí hình phượng và nghê.
Qua cổng là hồ nước rộng có lan can và bậc lên xuống hồ, sau đó dẫn tới bức bình phong bằng đá khối.
Tam Quan
Qua bức bình phong là Tam Quan, gồm ba cổng, cổng giữa có chiều cao lớn nhất, với cửa vòm cung, ba tầng, các tầng trên nhỏ dần và được lợp ngói ống, hai bên cổng được đặt hai bức tượng nghê chầu cổ bằng đá. Hai cổng phụ hai bên có diện tích nhỏ hơn, cân xứng nhau, mỗi cổng gồm hai tầng.
Tiền Đường
Tiền Đường là dãy nhà thứ nhất, gồm ba gian hai chái, ba gian giữa để thoáng, hai gian đầu hồi được bịt kín trổ cửa chữ Thọ. Gian chính giữa là gian thờ Thánh Tổ và bách gia trăm họ, hai gian hai bên là lối vào các toà nhà bên trong.
Bộ mái lợp ngói mũi hài, chính giữa bờ nóc là tượng hổ phù cõng cuồng lửa, các góc mái xây thành hình trụ thấp.
Trung Đường
Toà nhà thứ hai, nằm giữa Tiền Đường và Hậu Cung, đây là gian thờ Triệu Quốc Đạt và các tướng quân họ Lý. Trung Đường có kiến trúc năm gian, hai tầng tám mái, bên trong bộ khung mái được trang trí với hoa lá, rồng hóa, đá vân mây đặc sắc.
Hậu Cung
Hậu cung là công trình có địa thế cao nhất, dựa lưng vững chãi vào núi Gai. Từ sân lên gồm nhiều bậc thang, ở thành bậc là hai tượng rồng nguyên khối bằng đá xanh.
Đây là công trình thờ Bà Triệu, có kiến trúc ba gian, hai tầng tám mái, với hệ thống cửa bức bàn thượng song hạ bản. Bên trong ở gian giữa là nơi thờ chính, được trang trí với cửa võng chạm lộng các hoạ tiết, hoành phi, câu đối, sơn thếp vàng. Ngoài ra trong gian nhà còn được treo các lọng vải, bày biện các đồ thờ cúng, tạo nên vẻ trang nghiêm cho ngôi đền.
Mái đền lợp ngói mũi hài, các góc đầu đao uốn cong hình đầu rồng.
Tả/Hữu Mạc
Nằm bên trái và bên phải ở khu vực sân phía trước Tiền đường, là hai dãy Tả/Hữu, mỗi nhà được xây dựng 5 gian, kèo làm bằng gỗ lim, nền lát gạch bát cổ. Đây là khu vực nghỉ ngơi và chuẩn bị đồ lễ trước khi du khách vào đền lễ phật.
Hiện vật
Bên cạnh những nét kiến trúc độc đáo, đền Bà Triệu còn được biết đến là nơi lưu giữ nhiều hiện vật quý hiếm và một kho tàng các sự tích, huyền thoại, câu đối, ca dao, thơ ca kim cổ và các đồ thờ (long ngai, giao kỳ, bài vị, tàn quạt, voi, ngựa, gươm giáo…).
Ngoài ra, còn nhiều cổ vật được lưu giữ ở đây như 10 cuốn thần phả viết bằng chữ Hán, 65 đạo sắc phong qua các triều đại.
Sự kiện và lễ hội
Hằng năm, lễ hội đền Bà Triệu được tổ chức từ ngày 19 đến ngày 22 tháng 2 (Âm lịch) để tri ân công đức của bà, cầu mong bà phù hộ cho quốc thái dân an và cũng là dịp vui chơi giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng tâm linh của quần chúng Nhân dân trong vùng và khách thập phương.
Lễ hội bắt đầu với các nghi lễ chuẩn bị như tắm tượng, mặc đồ mới, lau chùi đồ thờ, và kiểm tra các cỗ kiệu. Sau đó, lễ rước kiệu (hay còn gọi là rước bóng vua Bà) diễn ra, mang linh hồn Bà Triệu. Kiệu bát cống được sơn son thếp vàng, có 16 người khiêng, trong đó có bát hương, nữ trang, và trầu cau. Đoàn rước gồm nhiều người, với các trang phục đỏ, mang cờ, gươm, bát bửu, lọng, nhạc cụ và nghi thức cổ truyền. Đoàn đi từ đền đến lăng, đình và quay lại đền, kiệu quay tròn ở các ngã ba, ngã tư, tạo không khí trang nghiêm, linh thiêng.
Bên cạnh đó, lễ hội còn tổ chức các hoạt động như: hát văn, thi đấu vật, leo cây, thổi cơm thi, đánh cờ tướng. Nổi bật trong lễ hội là trò chơi giao quân, đây là một cách diễn lại cuộc chiếu đấu hai bên Nhà Ngô và Bà Triệu. Các thanh niên trai tráng trong làng chia làm hai quân, hai bên giao chiến với nhau, dùng gậy tre làm vũ khí. Cuộc chiến diễn ra từ sáng tới trưa và đội thắng là quân Bà Triệu.
Lễ hội làng Phú Điền mang đậm dấu ấn lịch sử, với tinh thần uống nước nhớ nguồn, tôn vinh nữ anh hùng dân tộc, đây được coi là một di sản văn hoá phi vật thể được lưu truyền lại qua các thế hệ sau này.
Năm 2023, lễ hội đền Bà Triệu được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia
Xếp hạng
Năm 1979, đền thờ Bà Triệu được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia. Năm 2015, đền được Thủ tướng quyết định xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt
Tài liệu tham khảo
- Vũ Ngọc Khánh (2007), Đền miếu việt nam, Nxb Thanh Niên.
- Di sản văn hóa tỉnh Thanh Hóa, Nxb Thanh Hoá (2019).
- Lưu Minh Trị(2004), Danh thắng, di tích và lễ hội truyền thống Việt Nam, tập II, Nxb Hà Nội.
- Một số di tích tiêu biểu ở Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật (2016).
