Đền Bình Hải (đền Thượng – Yên Từ, Ninh Bình)

Đền Bình Hải (đền Thượng – Yên Từ, Ninh Bình)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đền Bình Hải, còn gọi là Đền Thượng, nằm ở phía Bắc thôn Bình Hải, nguyên thuộc xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, từ năm 2025. Xưa kia thuộc tổng Thổ Mât, huyện Yên Mô, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình, sau khi sáp nhập địa giới hành chính, nay thuộc xã Yên Từ, tỉnh Ninh Bình. Theo Ngọc phả hiện còn lưu giữ tại đền, nơi đây thờ ba anh em họ Bạch, những vị tướng tài ba đã cùng nhân dân đứng lên phò tá Hùng Duệ Vương đánh giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi đất nước. Ngoài ra, đền còn thờ Đức Thánh Tam Giang  vị thần linh thiêng gắn liền với vùng sông nước, được nhân dân tôn vinh và hương khói qua nhiều thế kỷ.

Đền Bình Hải không chỉ mang giá trị tâm linh sâu sắc, là nơi gửi gắm niềm tin và lòng biết ơn của cộng đồng, mà còn là minh chứng cho truyền thống yêu nước và tinh thần quật cường của dân tộc. Kiến trúc đền cổ kính, hài hòa với cảnh quan thiên nhiên, tạo nên một không gian linh thiêng, thu hút đông đảo du khách và Phật tử về chiêm bái, tưởng niệm công đức các bậc tiền nhân.

Lịch sử và nhân vật 

Theo cuốn Địa Danh Ninh Bình Trong Tục Ngữ Ca Dao viết:  “Ông tổ của các dòng họ Trần, Trương, Mai, Nguyễn ở làng Bình Đề, phủ Xuân Trường, tỉnh Nam Định sang đây khai phá đất hoang bãi bồi ven biển huyện Yên Mô, lập thành ấp rồi lập làng lấy tên là Bình Hải với nghĩa hiểu là: “Bình” là tên của làng gốc bên Nam Định là Bình Đề, còn “Hải” tức là biển. Làng Bình Hải tức là làng Bình Đề mới giáp biển bên huyện Yên Mô, phủ Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình.”

Đền Bình Hải là ngôi đền cổ kính thờ các bậc anh hùng dân tộc có công lớn với đất nước qua nhiều thời đại. Tương truyền, vào thời Hùng Duệ Vương, Lĩnh Công Đại vương, vị tướng tài năng, sinh ngày mùng 2 tháng 10 năm Nhâm Thìn. Khi vừa tròn 20 tuổi, đất nước rơi vào cảnh hỗn loạn do quân Thục Phán đem đại quân sang xâm lược đất Việt. 

Được tiến cử ra trận, ông cùng Sơn Thánh được vua tin cậy giao chỉ huy 30 vạn Hùng binh. Linh Công trực tiếp thống lĩnh đạo thủy quân Châu Hoan, lập chiến công hiển hách, đẩy lùi giặc ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi. Trên đường trở về kinh đô, khi đoàn quân đến cửa Bể Thần Phủ, trời đất bỗng tối sầm, sóng ù ù dâng lên dữ dội, sấm sét ầm ầm. Trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, Linh Công hóa thân thành Giao Long, bay xuống biển sâu, để lại niềm tiếc thương vô hạn cho vua và dân làng. Hùng Duệ Vương sắc phong ông là “Đại Hải Long Hầu Hiển Hách Đại vương Thượng đẳng thần” và chuẩn cho dân lập đền thờ phụng thờ muôn đời.

Không chỉ lưu dấu công tích thời Hùng Vương, Đền Bình Hải còn là nơi tôn vinh ba anh em họ Bạch ( Ngọc Công, Tú Công, Tam Nương), những dũng tướng kiên cường dưới cờ khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Trong những năm đầu Công nguyên, trước ách thống trị tàn bạo của nhà Hán, họ cùng nghĩa quân chiến đấu anh dũng, góp phần giải phóng 65 thành trì. 

Sau thắng lợi, Trưng Trắc xưng Vương, phong tặng cho anh em họ Bạch cùng tướng sĩ tước cấp đẳng hạng, phong Ngọc Công là tước vương, cho ông lập ấp tại Bình Hải. Ngọc Công hết lòng vì dân, mở hội khai yến, miễn tô thuế, phân đất, chia ao vườn để dân an cư lạc nghiệp. Khi mất, ông được phong Bạch Ngọc Hùng Lược Đại vương. Phong Tú Công là Lương Tú Phán Quan Tăng Tuần Tiết Phúc thần, còn Tam Nương là Nhan Phúc thần, cả ba đều được nhân dân lập Bình Hải miếu thờ phụng, hương khói đời đời.

Gắn liền với dòng sông và đời sống cư dân vùng nước, Đền Bình Hải còn thờ Đức Thánh Tam Giang, vị thần bảo hộ nguồn nước, trấn giữ lưu vực các con sông Cầu, sông Thương, sông Cà Lồ. Truyền rằng vào mùa nước lũ tháng Tám, sắc phong của ngài theo dòng lũ trôi dạt về làng, dân chúng coi đó là điềm lành nên dựng đền thờ phụng. Đến đời vua Tự Đức (năm 1857), Đức Thánh Tam Giang được chính thức sắc phong là vị thần hộ thủy, bảo vệ mùa màng, che chở dân lành, cho phép xã Bình Hải phụng thờ. Từ đó, tục nấu dấu, nghi thức độc đáo trong lễ hội Đền Bình Hải ra đời và duy trì đến ngày nay.

Trước năm 1950, đến quay hướng Bắc, nhìn ra dòng sông Thần Phủ ngay trước mặt. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đền Thượng bị chiếm đóng làm đồn bốt, nhân dân phải rước ngai, bài vị các thần ở đền Thượng và đền Trung về đình làng. Sau hòa bình lập lại, năm 1957, nhân dân đã xây dựng lại đến Bình Hải trên nền đến cũ và quay về hướng Nam, rước các thần ở đền Thượng và đến Trung hợp nhất về thờ ở đền Bình Hải như hiện nay.

Trải qua bao biến thiên lịch sử, Đền Bình Hải vẫn vẹn nguyên giá trị thiêng liêng, là nơi hội tụ niềm tin, lòng tri ân và sức mạnh đoàn kết của cộng đồng. Ngôi đền không chỉ nhắc nhớ những bậc anh hùng từng hy sinh vì non sông, mà còn là điểm tựa tâm linh để người dân gửi gắm ước vọng về một cuộc sống no đủ, thanh bình.

Trong cuốn Địa Danh Ninh Bình Trong Tục Ngữ Ca Dao có đoạn:

Ai qua đất bể mà xem
Có về nơi ấy với em thì về.
Bình Hải có cây bồ đề,
Có sông tắm mát, có nghề dao bay.

Nghề ngoã cổ truyền quý thay,
Đắp nghê, đắp phượng, đắp cây, đắp người.
Lân, rồng đắp cũng tuyệt vời,
Khắp nơi khắp chốn người người ngợi khen.

Kiến trúc cảnh quan

Đền Bình Hải tọa lạc trên một khu đất cao ráo ở phía Bắc thôn Bình Hải, quay mặt về hướng Nam. Không gian quanh đền rộng rãi, thoáng đãng, xung quanh có Dòng sông Bút, một nhánh của sông Thần Phù xưa uốn lượn. 

Phía trước đền có hồ bán nguyệt thanh thoát và bức bình phong đá đặt ngay trên trục thần đạo. Tổng thể kiến trúc hiện nay gồm các hạng mục chính: Cổng, Tiền Đường, Đền chính, dãy Giải Vũ, Phủ Mẫu, Hồ Bán Nguyệt, Nhà Khách, miếu thờ Hộ Pháp cùng một số công trình phụ trợ, tạo thành quần thể di tích uy nghi, cổ kính giữa không gian làng quê thanh bình. 

Đến Bình Hài có nhiều thay đổi so với ban đầu, xây dựng lại, sử dụng vật liệu mới, đồ thờ tự mới, mở rộng diện tích sử dụng… Tuy các công trình mới xây dựng nhưng phần lớn làm theo kiểu kiến trúc cổ, hài hòa với thiên nhiên, vẫn tạo được sự ấm áp, cổ kính đặc trưng của kiến trúc cổ truyền. Đến còn lưu giữ được nhiều hiện vật và tư liệu Hán Nôm quỹ. Ngoài ra, ở đây còn bảo tốn được những sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng đặc sắc của địa phương. Đây là những nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu lịch sử vùng đất, con người Bình Hải nói riêng và Ninh Bình nói chung.

Nghi Môn

Nghi môn của đền tọa lạc ngay bên trục đường chính của làng, là công trình được xây dựng mới với kiến trúc bề thế và trang nghiêm. Cổng gồm bốn trụ biểu cao vút, thân trụ khắc chữ Hán, phần đỉnh đắp nghê chầu uy nghiêm, còn chân trụ thắt cổ bồng. Trước trụ, hai bên đặt đôi tượng lân đứng chầu, tăng thêm vẻ linh thiêng cho không gian. Toàn bộ cổng được làm bằng đá xanh nguyên khối, các mảng trang trí hoa văn là những đường dây lá cách điệu tinh xảo. Bao quanh khuôn viên đền là hệ thống tường đá vững chắc, tạo nên ranh giới rõ rệt và bảo vệ sự tĩnh lặng, thiêng liêng của di tích.

Nhà Bia

Từ Nghi môn bước vào là một con đường thẳng dẫn vào sân đền. Bên phải con đường này là Nhà bia, được xây dựng với kết cấu vuông, hai tầng mái. Công trình gồm bốn trụ chính chịu lực, các mặt tường để trống tạo sự thoáng mát. Bên trong đặt một tấm bia đá lớn, kê trên lưng rùa. Trên bia khắc “Trung Từ Bia Ký”, ghi lại sự tích về ngôi chùa và những sự kiện liên quan đến di tích.

Tiền Đường 

Phía sau Nghi môn, là khoảng sân rộng được lát gạch đỏ, tại khoảng sân này là nhà Tiền Đường, là công trình được xây bổ sung trong vài năm gần đây để mở rộng diện tích sử dụng. Tiền Đường có 5 gian, mái lợp ngói đỏ, trước bậc thềm, hai bên có trụ biểu. Bên trong là hệ thống cột gỗ lớn, mặt trước và mặt sau không xây tường để tạo lối đi thông sang các công trình phía sau. Gian giữa đặt một hương án lớn, phía trên là ban thờ, xung quanh bày trí hoành phi, câu đối, cửa võng cùng các đồ tế khí sơn son thếp vàng, tạo nên không gian thờ tự trang nghiêm.

Nằm bên tường đầu hồi ở bên ngoài Tiền Đường có đặt 11 tấm bia đá theo hàng ngang. Các tấm bia được khắc chữ Quốc Ngữ, với nội dung ghi lại các tín thí công đức xây dựng đền. 

Khoảng sân trước Tiền Đường có thêm một cổng ngăn cách ra khu vực bên ngoài đường, cổng giữa tạo từ hai trụ biểu tạo thành, hai bên la hai cổng phụ, ở trước cổng này ở hai bên là hai tượng voi có kích thước lớn, với tư thế nằm quỳ. 

Xưa kia ở khu sân còn có thêm ba lối cổng khác, nhưng do quy hoạch xây dựng Tiền Đường nên đã bị phá dỡ, vị trí tòa Tiền Đường hiện nay là vị trí cổng cũ. 

Đền chính

Từ Tiền Đường đi tiếp ra phía sau là khoảng sân hẹp khoảng 1,5m, dẫn vào Đền chính. Quần thể Đền chính gồm ba nếp nhà, với bố cục 2 gian Trung Đường và 1 gian Hậu Cung, tạo thành một không gian thờ tự trang nghiêm. 

Trung Đường có 5 gian, xây dựng theo phong cách kiến trúc Trung Hoa với mặt bằng vuông, kết cấu 2 tầng mái chồng diêm, các bờ nóc đắp đôi rồng chầu mặt trời, bờ guột đắp phượng, đầu đao đắp hình rồng sinh động. Phần chính diện nổi bật ba chữ Hán lớn “Bình Hải Tự” cao khoảng 0,4m, đính gốm men trắng ngà tinh xảo. Các mặt tường còn lại trang trí đề tài rồng, phượng, dây lá, hoa văn tứ quý… rực rỡ màu sắc.

Bên trong Trung Đường, hệ thống kết cấu gỗ gồm 4 hàng chân cột vững chắc, bộ vì nóc làm kiểu giá chiêng – chồng rường, riêng bộ vì hối làm ván mê. Các cột, xà chạm nổi rồng, phượng, câu đối bằng chữ Hán và chữ Quốc ngữ ca ngợi công đức các vị thần. Gian giữa đặt hương án lớn, bên trên là ban thờ Công đồng,  hai bên đầu hồi là hương án phụ và nơi đặt kiệu gỗ. Toàn bộ không gian được trang trí cửa võng sơn son thếp vàng, hoành phi, câu đối chữ Hán, tạo vẻ lộng lẫy mà vẫn trang nghiêm. Trước bậc thềm Trung Đường, hai bên đặt tượng lân chầu, giữa là chiếu đá đắp nổi hình vân mây, cuộn lửa.

Năm hai bên ngang hàng với Trung Đường có 2 ngôi miếu nhỏ, xây bằng gạch kiểu 2 tầng 8 mái, phía trong đặt tượng Hộ pháp cưỡi trên lưng sư tử, 2 ngôi miều này cũng được đắp, vẽ trang trí cầu kỳ các đề tài cuốn thư, từ lĩnh, tứ quý. 

Hậu Cung nằm ngay phía sau Trung đường, có bố cục một nền hình  chữ Đinh () gồm 2 kiến trúc. Tòa ngoài (cung ngoài) có kết cấu bộ khung gỗ tương tự và nằm song song với Trung đường, nhưng chỉ có 3 gian. Kiến trúc phía sau (cung cấm) nằm vuông góc, theo kiểu thờ dọc và xây vượt cao hơn hẳn cung ngoài, tường hồi bít đốc, trần xây kiểu cuốn vòm. Đấu đốc phía Nam của cùng cấm đắp 3 chữ Hàn “Tôi lính từ (đến rất thiêng). 

Ngăn cách cung ngoài và cung cấm có bức cửa võng làm bằng gỗ dày,  phía trước là hai tượng ngựa chầu. Bức cửa võng này được chạm kỹ, trau chuốt, đường nét mềm mại, mang tính nghệ thuật cao. Trên tường trang trí hình chim phượng và rồng, được về màu rực rỡ. Phía trong cùng Cung cấm xây đắp ba bậc lên xuống ở hai bên, giữa đặt cổ ngại, bài vị thờ các vị thần trong đến. Trong số các cô ngại, bài vị, hiện còn có 3 cô ngại, bài vị dưới thời Hậu Lê thờ ba vị tướng thời Hai Bà Trưng. Gian giữa cung ngoài của Hậu cung có bức đại tự sơn son thếp vàng “Lình chung hài hà” (sông biến chung đức linh thiêng) và các câu đối, thế hiện sự ngưỡng vọng và biết ơn công đức của nhân dân đối với các vị thần:

Hùng đại Trưng triều lưu Thánh tích

Bình dân Hải nội ngưỡng thần hưu

Bảo lê dân từ tôn xuân phong hòa khí

Phù ngô hoàng xã tắc bàn thạch Thái Sơn

Dịch nghĩa:

Lưu truyền Thánh tích đời (Vua) Hùng triều (Bà) Trưng

Dân Bình Hải ngưỡng vọng sự giúp đỡ (của) thần Bảo vệ, giúp đỡ dân ta, con cháu hòa hợp (như) gió mùa xuân

Phủ hộ vua, nước nhà vững vàng như núi Thái Sơn.

Nhà Khách

Bên trái đền là Nhà khách gồm 7 gian, được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống. Công trình này được sử dụng làm nơi nghỉ ngơi, sinh hoạt cho phật tử và du khách khi đến thăm đền.

Phủ Mẫu 

Nằm bên trái Trung Đường là tòa Phủ gồm 4 gian, được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống. Bên trong, gian ngoài là nơi để phật tử làm lễ. Phía trong, sát tường là các gian thờ được ngăn cách bằng những bức cửa võng xây gạch, tạo thành các mái vòm riêng biệt cho từng gian thờ. Các cột gạch được treo câu đối sơn thếp vàng. 

Khu vực Hồ Bán Nguyệt 

Khu vực này tất cả các kiến trúc đều làm bằng đá, đầu tiên là một lư hương hai bên là hai cây đèn đá, phía sau là một sập đá kích thước lớn, sau sập đá là một hồ nước tròn, ở giữa là hòn non bộ, tiếp là một bức bình phong lớn. có hình dáng cuốn thư, hai bên là hai trụ lớn bên trong trang trí hoa văn, đường diềm cuốn thư là hình rồng chầu cuồng lửa. Phía sau bình phong la hồ nước hình bán nguyệt, 

Khu vực này có toàn bộ kiến trúc đều làm bằng đá. Đầu tiên là một lư hương đặt chính giữa, hai bên là hai cây đèn đá đối xứng. Phía sau lư hương là một sập đá lớn, tiếp đến là hồ nước hình tròn, giữa hồ có hòn non bộ tạo điểm nhấn. Cuối cùng là bức bình phong dạng cuốn thư, hai bên là hai trụ đá cao trang trí hoa văn tinh xảo. Đường diềm cuốn thư chạm nổi hình rồng chầu cuộn lửa. Phía sau bình phong là hồ nước hình bán nguyệt, góp phần làm tăng vẻ sinh động và hài hòa cho cảnh quan.

Lễ hội

Hàng năm, từ ngày 10 đến ngày 12 tháng Hai Âm lịch, lễ hội Đền Bình Hải được tổ chức với nhiều nghi thức truyền thống đặc sắc. Trong đó, nghi thức rước nước và các lễ tế được tiến hành trang nghiêm, thu hút đông đảo người dân và du khách. Lễ hội nổi bật với những hoạt động độc đáo như: tục chạy đèn trước khi rước kiệu, đội hình đám rước Thánh, rước nước với đoàn rước dài hàng cây số, lễ tế Thánh, tục nấu dấu (bài thuốc dấu), lễ tế đàn ngoài trời, hầu Thánh và hát văn.

Ngoài những nghi lễ đặc sắc trong lễ hội, người dân Bình Hải còn gìn giữ nhiều phong tục gắn với các ngày kỵ giỗ của các vị Thánh như: tục sám hối, tục ấp cỗ gà vào ngày mất của ba anh em họ Bạch. Những nghi lễ và phong tục này gắn liền với các nhân vật và sự kiện lịch sử trên vùng đất ven biển Ninh Bình, trở thành nét văn hóa đặc trưng của làng Bình Hải, xã Yên Nhân. Nhờ giá trị lịch sử và văn hóa tiêu biểu, năm 2022, lễ hội Đền Bình Hải đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Di vật 

Đền Bình Hải hiện còn lưu giữ nhiều đồ thờ tự quý hiếm, mang giá trị lịch sử văn hóa đặc sắc. Trong đó nổi bật là chiếc thuyền thờ sơn son thếp vàng làm từ gỗ mộc, dài 1,4m, rộng 0,4m, lòng sâu 0,25m. Hai đầu thuyền trang trí hoa văn sóng nước tinh xảo. Việc thờ thuyền ở Đền Bình Hải có lẽ bắt nguồn từ những truyền thuyết gắn với cửa biển Thần Phù trong sử sách, góp phần bổ sung tư liệu quý để nghiên cứu về địa danh lịch sử này.

Ngoài ra, đền còn bảo quản một kiệu gỗ sơn son thếp vàng với kết cấu và hoa văn mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn. Đặc biệt, trong khuôn viên đền từng phát hiện một số bộ phận hàm răng cá rất lớn nằm sâu trong lòng đất. Nghiên cứu bước đầu cho thấy đây có thể là hàm răng của cá kình, loài cá dữ từng sinh sống ở vùng biển Thần Phù xưa.

Bên cạnh đó, đền còn lưu giữ nhiều sắc phong, hoành phi, câu đối, đại tự, bài vị và các bản thần tích quý. Những hiện vật, tư liệu Hán Nôm này không chỉ phản ánh đời sống tín ngưỡng mà còn là minh chứng sinh động cho sự tích các vị thần được nhân dân tôn thờ tại Đền Bình Hải. 

Xếp hạng 

Đến Bình Hải được Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia năm 1993.

Tài liệu tham khảo:

  1. Nguyễn Loan , “07 Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia tại Ninh Bình”, Trung tâm Xúc tiến Du lịch tỉnh Ninh Bình, đăng ngày 10/09/2024.
  2. Đỗ Danh Gia (2017) , Địa Danh Ninh Bình Trong Tục Ngữ Ca Dao, Nxb Mỹ Thuật. 
  3. Ban Chấp hành Đảng bộ xã Yên Nhân (huyện Yên Mô), Lịch sử Đảng bộ xã Yên Nhân (1946–2005), Ninh Bình 2010.
  4. Di tích và Danh thắng Ninh Bình, tập 3, Nxb Văn hoá Dân tộc 2024.
  5. Hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia Đền Bình Hải, xã Yên Nhân, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình (1993), Tư liệu Sở Văn hóa và Thể thao tỉnh Ninh Bình.
  6. kênh YouTube, Muôn màu cuộc sống, Di tích lịch sử đền Thượng Bình Hải linh thiêng 4000 năm
  7. Cổng thông tin điện tử UBND xã Yên Nhân. 
Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
đên binh hai ninhp binh (nguon gg) (2)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)