Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Đá, còn được gọi là đình Đá, tọa lạc tại thôn Nam Hà, xã Tân Thịnh, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định (nay thuộc xã Nam Hồng, tỉnh Ninh Bình). Từ thành phố Nam Định, có thể đến đền Đá bằng nhiều tuyến đường khác nhau. Theo đường 21, đi khoảng 9km rồi rẽ trái lên đê sông Hồng, tiếp tục di chuyển hơn 3 km là tới di tích. Ngoài ra, du khách cũng có thể đi đường thủy theo sông Hồng từ Nam Định đến cống A (bến phà thôn Dương A) với quãng đường khoảng 8 km, sau đó lên bờ và đi thêm khoảng 2 km theo đường liên xã để đến đền.
Đền Đá thôn Nam Hà là một công trình kiến trúc bằng đá độc đáo, hiếm gặp trong hệ thống di tích truyền thống của địa phương. Nơi đây thờ ba anh em họ Vũ, những vị tướng tài dưới thời Hùng Vương. Trong đó, người em út là Vũ Uy được tôn làm Thành hoàng làng, hai người anh là Ngọc Công và Sửu Công cũng được phối thờ trong đền, thể hiện lòng tri ân của nhân dân đối với các bậc tiền nhân có công với quê hương.
Lịch sử và nhân vật
Theo cuốn Kim Âu ngọc phả được viết năm Hồng Phúc thứ nhất (1572), hiện còn lưu giữ tại đền thì vùng đất Kim Âu xưa kia, nay là các thôn Nam Hà, Võ Lao Thượng, Võ Lao Hạ thuộc xã Tân Thịnh. Vào thời Hùng Vương thứ 18 ở vùng ái Châu (Hoằng Hoá, Thanh Hoá) có ông Vũ Công tiếp nối nghề làm thuốc và dạy học của tổ tiên nhưng gia cảnh vẫn còn nghèo nàn khiến ông lo nghĩ và quyết tâm đi tìm vùng đất mới để sinh cơ lập nghiệp.
Từ Thanh Hoá ra đi một ngày đường đã thấm mệt ông vào nghỉ lại ở một ngôi chùa cổ bên đường. Đêm ấy ông nằm mơ có người mách bảo ông dừng lại ở vùng đất lành tốt đẹp… Sáng dậy ông tiếp tục lên đường đi tới vùng đất đúng như giấc mơ đêm trước, đó chính là vùng đất Kim Âu. Được nhân dân nhiệt tình chào đón, ông vui mừng ở lại dựng nhà và mở trường dạy học. Thời gian sau Vũ Công được dân làng vun đắp lấy người con gái họ Hoàng tên gọi là Loan. Ít lâu sau bà Loan sinh ra một bọc hai người con trai. Người anh đặt tên là Gia Sửu, người em đặt tên là Chính Ngọ. Năm sau bà Loan đột ngột qua đời, Vũ Công lại phải kết duyên với bà Trần Thị Thịnh để lấy người nuôi dạy hai con. Vài năm sau bà Thịnh sinh ra cho ông một bé trai tuấn tú nhưng lạ thay trên trán cậu bé có chữ Vũ Uy và sau lưng có hàng vảy cá. Vũ Công liền đặt tên cho con là Vũ Uy.
Lớn lên Vũ Uy cùng hai anh theo thầy học đạo. Ba ông đều rất thông minh lại am hiểu thiên văn, địa lý và giỏi võ nghệ. Khi cha mẹ qua đời cả ba ông cùng tìm về kinh đô Văn Lang giúp vua Hùng cai quản bờ cõi trong gần 20 năm. Ba ông đã đóng góp nhiều công sức của mình trong cuộc chiến đấu với quân Thục. Khi Hùng Vương nhường ngôi cho Thục Phán, vì không thuần phục chủ mới nên cả ba ông đã tìm về đất Kim Âu chia xã làm ba thôn và mỗi người cai quản một thôn, rồi giúp nhân dân phát triển nông tang, ngành nghề và tiếp tục mở trường dạy học cho con em nhân dân trong vùng. Ghi nhớ công lao đó nên sau khi các ông qua đời dân làng lập đền thờ tưởng niệm.
Ngoài việc thờ ba vị tướng thời kỳ Hùng Vương, đến Đá còn thờ 12 vị tổ (thập nhị gia tiên tổ) của 12 họ sớm về đây lập làng. Đền còn phối thờ hai vị đại khoa họ Hoàng và họ Lưu để nhân dân địa phương ghi nhớ truyền thống hiếu học của mình, khích lệ con cháu phát huy niềm tự hào đó.
Đền Đá được xây dựng vào thời Hậu Lê, khoảng năm 1575. Trải qua nhiều thế kỷ, công trình dần bị xuống cấp và mai một. Trước thực trạng đó, nhân dân địa phương cùng các cấp chính quyền đã chung tay phục dựng lại ngôi đền bằng chất liệu đá, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử, văn hóa của di tích.
Kiến trúc cảnh quan
Đền Đá là một công trình kiến trúc quy mô lớn, tọa lạc trên khu đất cao giữa cánh đồng, cách xa khu dân cư, với diện tích khoảng 2 mẫu. Bao quanh ngôi đền là hệ thống cây cổ thụ lâu năm, ao hồ. Trải qua nhiều lần tu sửa và tôn tạo, đến nay quần thể kiến trúc của đền gồm: Nghi Môn, Bái Đường, Đệ Nhị, Đệ Tam, Giếng Cổ, Gác chuông, Giải Vũ.
Nghi Môn
Nghi Môn của đền được thiết kế theo dạng bốn trụ biểu, hai trụ cao ở giữa tạo thành lối ra vào chính, còn hai trụ thấp ở hai bên được nối với trụ chính bằng bức tường lửng. Trụ có kiểu dáng lồng đèn, chân trụ thắt cổ bồng vững chãi, trên các mặt trụ đều khắc câu đối bằng chữ Hán, thể hiện ý nghĩa tôn nghiêm của không gian thờ tự.
Qua Nghi Môn là một con đường hẹp dẫn sâu vào sân đền, lối đi nhỏ được đổ bê tông, dọc theo lối vào là hai hàng cây tùng được trồng theo hàng thẳng tắp.
Bái Đường
Tòa Bái Đường gồm năm gian, được xây dựng từ đầu thế kỷ XIX, toàn bộ kiến trúc làm hoàn toàn bằng đá. Trên mặt tiền Bái Đường, tại vị trí trung tâm nổi bật hình tượng ba con rồng lớn, khỏe khoắn, râu tóc bờm xờm uy nghi, thân mình và vây uốn lượn mềm mại, sinh động. Với bố cục cân đối hai con rồng trong tư thế chầu, con rồng ở giữa tạo hình giống một đốm lửa, thân cuốn chữ, ở thân ba rồng có đắp nổi ba chữ “Tam Long Giáng”.
Hệ thống cột đá của Bái Đường đặt trên trụ quả bồng, trang trí hoa văn tinh xảo, chạm nổi hình rồng uốn quanh cột đá. Bên trên phần mái hiên, ở mỗi gian đều có hệ thống cửa võng được tạc từ đá nguyên khối với hình tượng hổ phù oai nghiêm, các băng triện tàu, hoa văn tàu lá dắt hòa quyện cùng những đề tài quen thuộc như long thăng, long cuốn thủy, cánh sen, bầu rượu, túi thơ, phượng hàm thư và các loại hoa lá cách điệu, tạo nên tổng thể hài hòa, sinh động.
Ở lối ra vào là hệ thống cửa gỗ lim Khu vực cửa ra vào sử dụng hệ thống cửa gỗ bức bàn, mỗi bộ gồm bốn cánh. Ở các cột trụ vuông đầu hồi, nghệ nhân còn chạm khắc nhiều đề tài thiên nhiên truyền thống như mai – điểu, tùng – hạc, cúc – điệp, mang ý nghĩa cát tường và trường tồn. Hai hàng cột đá trong Bái Đường có đường kính khoảng 40 cm, chân cột đặt trên trụ tảng quả bồng, xung quanh chạm nổi các đường chỉ và hoa văn lá sòi tinh tế, thể hiện giá trị thẩm mỹ và kỹ thuật cao của nghệ thuật điêu khắc đá truyền thống.
Bên trong treo câu đối, hoành phi, hình chim hạc cùng nhiều đồ thờ tự trang nghiêm. Hệ thống cửa võng chạm lộng với nhiều đề tài phong phú, góp phần hoàn thiện không gian kiến trúc bái đường vừa cổ kính, vừa giàu giá trị nghệ thuật.
Trung Đường
Tòa Trung Đường gồm năm gian, được trùng tu vào năm Thành Thái thứ 4 (1892). Hiện nay, tòa Trung Đường vẫn bảo lưu được nhiều nét kiến trúc cổ truyền đặc sắc, tiêu biểu là hệ thống cánh cửa bằng gỗ lim chạm khắc tinh xảo. Trên hai cánh cửa giữa là hình tượng lưỡng long chầu, còn hai cánh bên chạm hình long chầu, tạo nên bố cục cân xứng. Các hình rồng được chạm nổi với thân hình mập mạp, khỏe khoắn, bờm và móng sắc nét, đuôi uốn mềm mại, hòa quyện cùng họa tiết hoa lá và mây tản, mang đậm phong cách nghệ thuật thời Hậu Lê (thế kỷ XVII-XVIII). Đây là những di vật có giá trị đặc biệt, góp phần làm nổi bật giá trị lịch sử và nghệ thuật của di tích.
Tại hai gian thờ hai bên, nhân dân địa phương phụng thờ mười hai vị Tổ Thập Nhị Gia Tiên Tổ. Đây là tổ tiên của mười hai dòng họ gồm: Tống, Nguyễn, Đỗ, Đoàn, Hoàng, Trần, Lưu, Lê, Vũ, Phạm, Bùi và Đặng, những dòng họ đầu tiên đến vùng đất Kim Âu khai khẩn, lập nghiệp và hình thành cộng đồng cư dân nơi đây.
Hậu Cung
Hậu Cung gồm năm gian, đã từng được trùng tu vào năm 1877, không gian Hậu Cung là nơi an vị khám thờ và ngai thờ của các vị thần, được chạm khắc tỉ mỉ và sắc sảo, các tầng mái được trang trí công phu với hệ thống họa tiết đắp nổi sinh động, tiêu biểu như đề tài ngũ phúc, lưỡng long hí cầu.
Bộ cửa Hậu Cung gồm bốn cánh, chạm nổi đề tài lưỡng long chầu, với hình tượng rồng thân hình mập khỏe, đường nét mạnh mẽ, râu tóc thể hiện vẻ uy nghi, đan xen trong mây cuộn, kết hợp cùng các họa tiết hổ phù chạm nổi mang vẻ uy nghi. Hệ thống trang trí được phối hợp hài hòa với các băng triện tàu, tàu lá dắt, tạo nên bố cục cửa võng cân xứng, ăn nhập với các phù điêu long thăng, long cuốn thủy trên thân cột. Phong cách tạo hình mang đậm dấu ấn nghệ thuật thời Hậu Lê, được xem là một trong những di vật có giá trị tiêu biểu của di tích.
Hiện nay, Hậu Cung còn bảo lưu nhiều đạo sắc phong do các triều vua ban tặng, góp phần khẳng định giá trị lịch sử, văn hóa và tín ngưỡng của ngôi đền.
Giải Vũ
Tòa Giải Vũ được xây dựng theo kiểu nhà ngang một tầng, mặt bằng gồm năm gian, mỗi gian đều lắp đặt hệ thống cửa gỗ. Gian trung tâm là cửa chính, được nhấn mạnh bằng bức đại tự đắp nổi mang ba chữ Hán, tạo điểm nhìn nổi bật trên trục đối xứng của công trình. Các gian còn lại được trang trí bằng những mảng chạm nổi hình cây trúc và hình tượng con dơi, biểu trưng quen thuộc trong kiến trúc đền chùa Việt Nam, mang ý nghĩa phong thủy tốt lành, tượng trưng cho phúc lộc, may mắn và trường thọ. Trên các trụ cột phía trước mỗi gian đều có câu đối chữ Hán khắc nổi, chạy dọc theo thân cột.
Phần mái sử dụng mái lợp ngói ta truyền thống, diềm mái được trang trí các họa tiết hồi văn, búp sen và hệ thống chắn song thấp, một phần mái được đổ trần, phần mái còn lại phía sau lợp ngói.
Tòa Giải Vũ giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt nghi lễ của di tích, là nơi sắp đặt lễ vật, chuẩn bị nghi thức cho Phật tử, lễ sinh trước khi tiến hành tế lễ; đồng thời cũng là không gian nghỉ ngơi chân cho người hành lễ trong các dịp lễ hội truyền thống.
Gác chuông
Ở khoảng sân phía trước tòa Bái Đường, là hai gác chuông được xây dựng cân xứng ở hai bên, mỗi gác gồm hai tầng, để thoáng các mặt không xây tường. Khoảng bên trong rất rộng, đổ trần xi măng. Theo lời kể của nhân dân, ở sân đền là nơi tụ họp chơi cờ, phần bàn cờ được thiết kế trên sân đá, hai bên là hai lầu cao, nơi người điều khiển các quân cờ có thể ngồi và bao quát cả sân cờ, cũng như đưa ra các hiệu lệnh chỉ huy dịch chuyển vị trí các quân cờ. Hai gác chuông được nối liền bằng một bức tường, trên đỉnh tường đắp hình rồng uốn lượn chạy dọc theo tường.
Từ khu vực gác chuông đi ra là một hồ nước lớn, có hệ thống bậc thang dẫn xuống mặt nước.
Di vật
Đền Đá còn giữ được khá nhiều đồ thờ tự như sập thờ, kiệu long đình, bát cống rất đẹp và có giá trị.
Sự kiện và lễ hội
Ngoài kỳ lễ hội thường niên, lễ hội đền Đá còn được tổ chức với quy mô lớn, ba năm một lần vào các năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu để tưởng niệm và tế lễ các vị thánh Vũ Uy, Sửu Công và Ngọc Công. Dịp này, các nghi lễ giao hảo, múa rồng, kéo cõi được tổ chức long trọng, thu hút đông đảo nhân dân và du khách thập phương về tham dự.
Lễ hội được tổ chức từ ngày mùng 3 đến mùng 5 tháng 3 Âm lịch, là lễ hội truyền thống đặc sắc của nhân dân địa phương. Lễ hội diễn ra với đầy đủ các nghi thức tế lễ, rước và nhiều trò chơi dân gian vui khỏe như múa gậy, múa rồng, kéo cõi (kéo dây), đấu vật, đấu roi…, vừa tạo không khí sôi nổi, vừa phản ánh tinh thần thượng võ của dân tộc, đồng thời góp phần rèn luyện sức khỏe, cổ vũ lao động sản xuất và xây dựng quê hương. Lễ hội còn tổ chức nhiều cuộc thi mang đậm màu sắc dân gian như: thi làm oản, làm bánh dâng thánh, thi làm cỗ, chọn cau lễ… Đặc biệt, trong khuôn khổ lễ hội còn có tục giao hiếu truyền thống giữa ba làng Nam Hà, Võ Lao Hạ và Võ Lao Thượng, thể hiện tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng.
Hằng năm, vào ngày mùng 6 tháng Giêng, tại địa phương diễn ra tục tế hạ điền một nghi lễ nông nghiệp mang đậm dấu ấn văn hóa dân gian. Dân làng chuẩn bị một cây nêu bằng tre cao khoảng 1,5 m cùng một củ khoai nước lớn làm lễ vật. Ban tổ chức lựa chọn một thửa ruộng đã được cày bừa chu đáo để tiến hành nghi lễ. Sau khi hoàn tất lễ tế Thần Nông tại đền, chủ tế được rước ra ruộng trong không khí trang trọng, với lọng che, trống, phách rộn ràng, kèm theo hình ảnh người gánh hai đóm mạ tượng trưng cho việc xuống đồng cấy lúa. Khi đến ruộng, chủ tế trực tiếp xuống cấy, người dân tụ họp xung quanh vừa hò reo vừa té nước làm cho chủ tế ướt lấm bùn đất, với ước nguyện cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ.
Xếp hạng
Đền Đá được Bộ Văn hoá – Thông tin công nhận là Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1992.
Tài liệu tham khảo
- Khánh Dũng, “Đặc sắc giá trị lịch sử và kiến trúc của những ngôi đền cổ ở Nam Trực”, Tạp chí Nam Định điện tử, ngày 30/10/2015.
- Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Nam Định, Nxb Văn hóa tỉnh Nam Định (2008).
- “Đền Đá Nam Hà”, VTV2 Chất lượng cuộc sống, ngày 22 tháng 10, 2023.
- Cù Hiền, “Ngôi đền đá độc nhất vô nhị ở Việt Nam”, Báo Thanh Niên ngày 23/01/2023.
- “Ngôi đền bằng đá thuộc hàng đẹp nhất Việt Nam”, Nhà báo và Công luận ngày 10/01/2021.
- “VTV2 Phóng sự: Đền Đá Nam Hà, kênh youtube Nam Định đất và người.
- Hồ Đức Thọ (2003), Lễ hội cổ truyền ở Nam Định, Nxb Khoa học xã hội.