Tên gọi và vị trí địa lý
Đền Đồng Cổ toạ lạc ở chân núi Khả Lao, làng Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá. “Núi Khả Lao có nhiều tên gọi khác như: Kẻ Lao, Khả Nãi, Khả Phong, Đan Nê. Núi có ba ngọn núi nằm quây tròn lại với nhau như hình một bông hoa trà xòe ra ba cánh, nằm dựng đứng sát bờ sông Mã, trên bến Trường Châu xưa, trông rất đẹp nên núi còn có một tên khác là Tam Thai sơn hay núi Tam Thai”[1]. Đền cách TP Thanh Hoá 40km, từ đó, du khách ngược Rừng Thông, qua cầu Vạn Hà (sông Chu), đến thị trấn Quán Lào, đi chừng 12km lên xã Yên Thọ là đến đền Đồng Cổ.
Đền là một trong những di tích lịch sử – văn hóa của huyện Yên Định được xếp hạng cấp Quốc gia (2001). Cùng với các di tích: Lam Kinh, thành nhà Hồ, Đông Sơn, Núi Đọ, Núi Nưa,… đền Đồng Cổ là điểm du lịch tâm linh và về nguồn, tạo thành quần thể di tích lịch sử – văn hóa Nổi tiếng của xứ Thanh có bề dày truyền thống từ lâu đời.
Lịch sử và nhân vật
Tương truyền rằng, khi Vua Hùng mang quân dẹp giặc phương Nam, đại quân theo đường núi tiến đến chân núi Khả Lao và nghỉ lại đây. Đêm đến vua mộng gặp thần núi đã xin giúp trống đồng, dùi đồng cùng nhà vua dẹp giặc. Khi xung trận âm vang tiếng trống, tiếng kiếm làm quân giặc khiếp sợ bỏ chạy. Quân ta thắng trận trở về, Vua Hùng vào đền làm lễ tạ ơn và phong thần núi Khả Lao là “Đồng cổ đại vương”, lập đền thờ, đúc trống đồng, ngựa đồng rước vào đền thờ phụng.
Lịch sử ngôi đền ở Thượng Điện đã ghi: “Miếu Đồng Cổ được khởi dựng từ thời Hùng Vương (2569 – trước Công nguyên), đến thời Lý (1020) miếu được sửa sang lại, sang thời Lê – Trịnh (1630), miếu được xây dựng khang trang, to đẹp hơn… Miếu thờ thần núi Đồng Cổ rất hiển linh, vị thần đã giúp các triều đại đánh thắng giặc ngoại xâm và diệt trừ phản loạn: Giúp Vua Hùng đánh thắng giặc Hồ Tôn; giúp Vua Lý đánh thắng giặc Chiêm và diệt trừ phản loạn; giúp Vua Lê – Chúa Trịnh đánh tan nghịch Mạc; các đời Đinh, Lý, Trần, Lê thờ cúng đều ứng nghiệm, giúp việc giữ gìn đất nước…”[2].
Sách Lĩnh Nam chích quái, có chép về lai lịch thần Đồng Cổ rằng:
“Núi Đồng Cổ ở huyện An Định, làng Đan Đà Thượng. Ngày xưa, lúc đang làm Thái tử, Lý Thái Tông đem binh đi đánh Chiêm Thành, đến bãi Tràng Sa thì đóng quân ngủ lại; đêm quá canh ba, Vương mộng thấy một vị thần bận binh phục đến thưa rằng:
– Ta là thần núi Đồng Cổ, nghe Vương nam chính, xin theo quân Vương lập chiến công.
Trong giấc mộng, Vương cùng thần nói chuyện rất tường. Bình Chiêm Thành xong, Vương đem quân trở về Kinh, sau quần thần sáng lập từ vũ tại Kinh thành bên hữu chùa Từ Liêm. Kịp đến lúc vua Thái Tổ băng hà, Thái Tông phụng di chiếu tức vị. Đêm ấy thần lại cáo với Thái Tông rằng:
– Ba vương Vũ Đức, Dực Thánh, Đông Chinh mưu phản.
Sáng ngày, ba Vương đã phục binh trong thành, đánh gấp các cửa. Thái Tông ra lệnh cho vũ thần Lê Phụng Hiểu đem binh cự chiến; Phụng Hiểu kêu to bảo Đông Chinh, Vũ Đức rằng:
– Ba vương dòm-dỏ thần khí, miệt thị tự quân, tại sao lại vong ân bội nghĩa? Phụng Hiểu này xin đem gươm đến hiến.
Rồi thẳng đến chém Vũ Đức Vương, còn Đông Chinh, Dực Thánh tẩu thoát được, hung đồ tán loạn, nội nạn thanh bình quả hợp ứng như thần mộng. Phụng Hiểu có công linh trợ. Vua sắc phong làm Thiên Hạ Minh Chủ; mỗi năm đến ngày mồng bốn tháng tư, vua hội trăm quan ở đền mà thề. Lời Minh thệ là: “Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, Thần minh sẽ giết”; ai ai cũng đều uý mộ sùng phụng.
Phụng Hiểu tiêu trừ được nội nạn, tin thắng lợi tâu lên, Thái Tông ban khen, bảo Phụng Hiểu là người trung nghĩa anh dũng, hơn Kính Đức nhà Đường rất xa. Sau phò vua Nam chinh, đại phá giặc Chiêm Thành, công to nghiệp lớn lừng lẫy xa gần; dân lập đền thờ, cầu đảo đều có linh ứng; trải mấy triều, Vương đều được gia phong tặng Vương tước cả.”[3]
Vốn là nơi diễn ra các nghi lễ của các triều đại vua chúa nước ta nên trong đền còn lưu giữ rất nhiều thần tích, sắc phong của các triều đại. Các vương triều Trần, Lê, Trịnh – Nguyễn vẫn duy trì các nghi thức quốc lễ tại đền Đồng Cổ ở Yên Định (Thanh Hóa) và phường Bưởi (Hà Nội).
Thời kháng chiến chống Pháp, hang động Ích Minh trong lòng ngọn núi Tam Thai Sơn là xưởng sản xuất vũ khí của quân đội ta, trong hang còn ghi dấu vỏ bom và những vũ khí tự tạo. Khi quân Pháp phát hiện ra chúng đã cho máy bay ném bom phá đền Đồng Cổ. Ngôi đền chỉ còn lại nền móng, hai tấm bia, miếu nhỏ lưng chừng đỉnh núi Xuân, và chiếc cổng Nghi môn nằm ở phía tây ngôi đền. Đến thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước, một nhà máy điện cũng sơ tán về đây, sản xuất điện phục vụ kháng chiến ngay trong lòng hang Nội ở ngọn núi bên trái ngôi đền.
Kiến trúc cảnh quan
“Theo những người cao tuổi trong làng Đan Nê, đền Đồng Cổ từng có 38 gian, bề thế tựa lưng vào Tam Thai sơn. Đền có nghinh môn gồm 3 tầng, 8 mái, mang phong cách kiến trúc thế kỷ XV (thời Lê), cao 9m, rộng 3m, được ghép bằng những khối đá vuông vức (không dùng vữa), cuốn thành vòm tò vò. Ngày xưa, xung quanh ba ngọn núi đá bao quanh đền là rừng cây nguyên sinh rậm rạp, nhiều cây to, có nhiều chim, thú. Nhưng, qua biết bao biến đổi, nay chỉ còn những ngọn núi đá với cây mọc tái sinh tầng thấp. Thời kháng chiến chống Pháp, binh công xưởng Nguyễn Công Cậy sản xuất vũ khí ngay trong hang động ích Minh, ngọn núi bên phải của đền. Khi quân Pháp phát hiện ra vị trí công binh xưởng ích Minh, chúng đã cho máy bay ném bom san phẳng cả đền Đồng cổ. Những di tích nguyên gốc còn lại đến nay, ngoài hai tấm bia kê trên, chỉ còn chiếc miếu nhỏ lưng chừng đỉnh núi Xuân, và nghinh môn nằm ở phía tây ngôi đền.”[4]
Đền thờ gốc ở Đan Nê nằm dưới một chân núi trong Tam Thai sơn hướng về phía tây nam nhìn ra một khu đất rộng, có hồ bán nguyệt ở giữa, tạo phong cảnh sơn thủy hữu tình. Trước cửa đền, bên kia hồ bán nguyệt, có hai tấm bia trên vách đá núi Xuân. Một tấm bằng chữ Hán khắc lại bài văn bia do Nguyễn Quang Bàn, con vua Quang Trung, viết năm 1802, ca ngợi phong cảnh sơn thủy hữu tình nơi đây, và kể lại chuyện một chiếc trống đồng cổ được tìm thấy rồi cúng tiến vào đền. Tấm kia bằng tiếng Pháp, khắc năm 1889, nội dung chép lại bài văn dân làng Đan Nê tỏ lòng sùng kính với ngôi đền. Còn tấm bia chữ Hán chép rằng, năm Canh Tuất (1790) Tuyên công Nguyễn Quang Bàn, vâng mệnh vua cha vào làm quan đặc sai đốc trấn Thanh Hóa. Một đêm, ông nghỉ tại làng Đan Nê, có vào cầu khấn trong miếu thờ Đồng cổ Sơn Thần. Sau đó ứng nghiệm bằng việc ông bỗng thấy bên bờ nam sông Mã xuất lộ một chiếc trống đồng cổ rộng 9 thước, cao 4 thước. Có luận giải rằng đây là chiếc trống đồng năm xưa đã giúp vua Hùng đánh giặc ngoại xâm ở vùng đất này. Năm Nhâm Tuất (1802) lại có dịp đi qua miếu, Nguyễn Quang Bàn sai đem chiếc trống đồng tìm được dạo trước hiến cho đền, đồng thời viết bia (lúc đó là bia gỗ) ghi lại để đời sau được rõ. Có một bài báo nói rằng, một người trong đoàn ngoại giao nước ta khi vào Bảo tàng Paris, Pháp thấy nguyên bản chiếc trống đồng có đề trống đồng Đan Nê Thanh Hóa, năm 1932. Ông đã chụp lại ảnh và sau này đúc một trống đồng theo mẫu ấy dâng tặng đền Đồng cổ.
Hiện nay, tổng thể kiến trúc đền Đồng Cổ bao gồm: Tiền Đường, Chính Điện và Hậu Cung. Nhà Tiền Đường gồm 5 gian, kiến trúc hai tầng mái. Qua Tiền Đường là Chính Điện, rộng ba gian, có kết cấu giáp mái với Tiền Đường. Sau cùng là Hậu Cung, lưng dựa vào vách núi, được bố cục gọn gàng với lối kiến trúc cổ kính.
Lễ hội
Hàng năm, lễ hội Đền Đồng Cổ sẽ được diễn ra từ ngày 13 đến ngày 15 tháng 3 âm lịch nhằm tưởng nhớ vị thần Đồng Cổ có công “Hộ dân bảo quốc”.
Phần lễ có các nghi thức như: Lễ cáo yết, lễ rước kiệu từ đền Đồng Cổ về Đình Phúc và ngược lại; lễ xin linh khí thần Đồng Cổ, lễ dâng hương…
Phần hội được tổ chức với nhiều trò chơi, trò diễn dân gian, thi đấu thể thao và trưng bày sản phẩm OCOP, các sản phẩm đặc trưng của huyện Yên Định.
Xếp hạng
Năm 2001, đền Đồng Cổ được Nhà nước cấp bằng công nhận di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.
Chú thích
[1] Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Thanh Hoá, Di sản văn hoá tỉnh Thanh Hoá, Nxb Thanh Hoá, 2019, tr. 127.
[2] Đền Đồng Cổ – Điểm đến tâm linh của huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá, Cổng thông tin điện tử Thị trấn Thống Nhất, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá, ngày 12/4/2023.
[3] Trần Thế Pháp, Lĩnh Nam chích quái, Nhà sách Khai Trí, 1960, tr. 108.
[4] Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Thanh Hoá, Di sản văn hoá tỉnh Thanh Hoá, Sđd, tr. 129.
Tham khảo
- Ban Tuyên giáo tỉnh uỷ Thanh Hoá (2019), Di sản văn hoá tỉnh Thanh Hoá, Nxb Thanh Hoá.
- “Đền Đồng Cổ – Điểm đến tâm linh của huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá”, Cổng thông tin điện tử Thị trấn Thống Nhất, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hoá, ngày 12/4/2023,
- Trần Thế Pháp (1960), Lĩnh Nam chích quái, Nhà sách Khai Trí.